Latest Blog Posts

Trăm Trứng

 - l‎ý giải mới cho một tích cũ –

Hoàng Hữu Phước, MIB

(bài đăng ngày 22-7-2010 trên emotino.com http://www.emotino.com/m.php?p=18733)

 

Có lần đang ngồi chờ người quen tại Cà phê Zenta trên đường Mạc Đỉnh Chi, Quận 1, tôi tình cờ nghe vài bạn trẻ “thuần Việt” tụ năm tụ ba ở bàn bên cạnh nói chuyện ỏm tỏi xằng bậy. Gọi là “thuần Việt” vì những đặc trưng không thể lẫn lộn cầu âu với các giống dân khác là: đầu tóc bắt chước style Hàn Quốc, handphone hàng hiệu cùng laptop cao cấp bày chật mặt bàn, thích nhơi đi nhơi lại những lẩm ca lẩm cẩm mà thiểu số chống Cộng hay khạc ra, chê bai tất tần tật những gì của Việt Nam, từ Chính phủ cho đến cả lịch sử giống nòi của chính mình, đặc biệt khi cà khịa nói rằng tích Mẹ Tiên Âu Cơ lấy Cha Rồng Lạc Long Quân sinh ra trăm trứng nở ra trăm con, rồi chia tay mỗi người một ngả, mạnh ai nấy dẫn theo tài sản 50 đứa con cho thấy cái sự vừa chia rẽ sâu sắc vừa mất đoàn kết nghiêm trọng vừa thích “chơi ăn gian” ngay từ khởi thủy của nòi giống Tiên Rồng vì Cha dành đi về vùng đồng bằng cho sung sướng kiếp Dân Kinh, đẩy Mẹ lên chốn núi non hiểm trở gian nguy thành Người Thượng.

Ở đây sẽ không lạm bàn về nội dung cố tình muốn xúc xiểm có ác ý hay vô tình từ văn hóa thấp của những người nói động đến nguồn gốc tổ tiên Việt, nhưng không thể không đưa ra vấn đề ghi lại lịch sử theo chiều hướng cách tân và logic. Lịch sử không là tôn giáo nên không thể kêu gọi một thứ đức tin mà bất kỳ sự nói nghịch lại đều mang tội báng bổ tày đình. Tôn giáo pháp đình đưa bao người lên giàn hỏa hoặc xử tử bằng hình phạt khét tiếng man rợ “đóng nõ đít” tức đóng ngập súc cây tròn vuốt nhọn vào hậu môn kẻ bị kết tội báng bổ Thượng Đế và Kinh Thánh, và chỉ có đức tin mới làm cho người theo đạo không bao giờ dám tự đặt câu hỏi: nếu thượng đế ban đầu chỉ tạo ra mỗi một nam tên Adam và một nữ tên Eva thì cách chi có được nhân loại như ngày nay vì con cái của hai người ấy vừa phạm tội loạn luân nếu lấy nhau rồi sinh con đẻ cái, vừa phản khoa học vì sự phối hợp đồng huyết thống ấy sẽ chỉ sinh ra những trẻ em bị chứng loãng máu èo uột không thể sống còn để duy trì nòi giống, ăn thịt khủng long, hình thành nhân loại. Nhưng lịch sử thì khác, nhất thiết phải được chỉnh sửa hoặc lý giải theo cách đã loại bỏ các nội dung mà tư duy duy lý ngày nay không thể chấp nhận được.

Vốn tôn trọng hậu duệ, mà tuổi trẻ ngày nay tư duy logic nhanh nhạy, thiên nhiều về duy lý, tôi đã từng giải thích cho cháu con truyền thuyết Việt Nam theo một logic mới, nhằm gia tăng sự tự hào nơi con trẻ đối với tổ tiên dân tộc Việt Nam, vừa giúp con trẻ tin rằng người lớn không xem nó là trẻ con để nói chuyện hoang đường, từ đó không còn chán chường những tình tiết thô thiển phi lý của truyền thuyết dã sử, triệt tiêu các mầm mống nhen nhúm trong tư duy những ý nghĩ tiêu cực đối với tổ tiên dân tộc. Chẳng hạn khi nói về tích “Con Rồng, Cháu Tiên”, tôi đã kể nội dung cách tân như sau:

Mẹ Việt Nam tên gọi Âu Cơ hiền thục xinh đẹp như Tiên, còn Cha Việt Nam là Lạc Long Quân dũng mãnh sức vóc bệ vệ cường tráng uy nghi như Rồng. Thủa xa xưa khi thế gian này còn trong lành tuyệt đối, chưa bị ô nhiễm khói xe cộ đe dọa, tổ tiên ta mạnh khỏe, lập gia đình từ rất sớm, sống hạnh phúc, có thật nhiều con, và tất nhiên có những năm Mẹ Âu Cơ sinh đôi, sinh năm, sinh mười, và điều đúng với khoa học là nếu người đàn ông không rượu bia, không thuốc lá, không chơi bời trác táng yến tiệc thâu đêm, thì khả năng sinh con trai là rất lớn, nên hai ông bà đã có với nhau đến 100 đứa con trai trong hai mươi năm chung sống là chuyện bình thường. Thế nhưng hiểm họa muôn đời đối với người Việt luôn đến từ bọn giặc Tàu phương Bắc, mà tổ tiên người Việt phải không được mất cảnh giác để còn bảo vệ và lưu truyền dòng giống Việt cho đến tận mai sau, nên chờ đến khi những đứa con út cứng cáp, Âu Cơ và Lạc Long Quân thực hiện kế hoạch vạn l‎ý trường di vĩ đại đã bàn từ trước: buộc phải rơi nước mắt bịn rịn chia tay. Âu Cơ tình nguyện hy sinh cùng 50 người con trai trưởng khéo léo bám trụ chốn núi thẳm rừng sâu, nếm mật nằm gai, quán xuyến hậu cần, lo tạo quân nhu, chế tạo cung nõ, dựng vợ cho 50 dũng tướng, điều động hàng trăm con dâu chăm sóc cháu con, gia tăng dân số, hình thành các bộ tộc hùng cứ núi non, đánh chặn bước chân xâm lược của tổ tiên Trung Quốc, sáng tạo binh pháp (mà sau này Tôn Tử của Trung Quốc với kinh nghiệm thất bại của tiền nhân cũng buộc phải học tập mô phỏng theo mà cóp nhặt ghi vào sách dụng binh lưu truyền hậu thế, còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp áp dụng tiêu diệt quân đội viễn chinh Pháp): chiếm cứ vùng cao tập kích tấn công giặc dưới vùng thung lủng trũng thấp, và đã thành công.  Trong khi đó, Cha Lạc Long Quân sức vóc mạnh mẽ, trí tuệ tài cao, uy dũng hơn Rồng, chỉ đạo các con đứa lớn ẵm bồng đứa bé dưới trường côn và tầm vông vạt nhọn bảo vệ của Cha, dần tiến xa hơn về phương Nam, tổ chức hiệu quả các đơn vị hành chánh và quân sự cộng đồng để các con được an toàn hơn, không bao giờ bị truy sát bởi giặc Tàu, nhờ ở thật xa đàng sau chân trời có ơn cao của Mẹ và nghĩa cả của các anh hy sinh gan óc văng tóe lầy trùng điệp núi non, máu tươi phun nhuộm đỏ nước suối ngàn, thân thể rách trần muôn mảnh bón xanh tươi rừng rậm, mắt đầu lâu dù bị giặc Tàu bêu ngọn giáo không thể nhắm nghiền vì còn dõi ngóng bóng dáng uy dũng Cha hiền biền biệt phương Nam, hồn phách lạc chỉ biết dật dờ phiêu linh dõi lần tìm về nhà Việt. Hạnh phúc của tổ tiên ta ngay từ khởi thủy đã phải buộc không toàn vẹn, chấp nhận chia ly đau thương uất hận vì sự sinh tồn của dân tộc, và tất cả đã toát lên tình phu thê, tình phụ tử, tình mẫu tử, tình huynh đệ tuyệt vời nhất của dòng giống Lạc Hồng mà không có bất kỳ dân tộc nào trên thế gian này có được: tất cả hy sinh vì mục đích cao cả, với sự đoàn kết vĩ đại và cao thượng, để đạt mục đích tối thượng: dân tộc Việt Nam phải trường sinh, đất nước Việt Nam phải trường tồn.

Đó là l‎ý do ở Việt Nam, Kinh-Thượng một nhà là một thực tế lịch sử hào hùng, bi tráng.

Đó là l‎ý do Việt Nam dù có ở cùng vĩ độ địa dư hay cùng khu vực địa lý với nhiều nước khác, vẫn được xem là có người dân có hình thể và sắc vóc xinh đẹp hơn nhiều so với dân tộc ở các quốc gia ấy. Mẹ Âu Cơ của dân tộc Việt hiền thục xinh đẹp như Tiên, và Cha Lạc Long Quân của dân tộc Việt Nam khỏe mạnh cường tráng uy dũng như Rồng: đó là kết hợp tinh túy tạo nên dòng giống Tiên Rồng của dân tộc Việt Nam vĩ đại.

Một l‎ý giải mới trên nền khoa học, logic, đầy tự hào, cho một tích cũ của Việt Nam.

Giá như lý giải trên được kể lại truyền lưu chốn học đường.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhân Quyền và Phẩm Giá

- Người Khuyết Tật -

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

A- Sự Kiện Phê Chuẩn Công Ước Liên Hợp Quốc

Ngày 23-10-2014 tại Kỳ họp Thứ 8 Quốc Hội Khóa XIII, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã đọc Tờ Trình trước Quốc Hội đề nghị Quốc Hội xem xét phê chuẩn Công Ước của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người Khuyết Tật [1].

Theo chương trình Kỳ họp Thứ 8 này, sau khi các nghị sĩ thảo luận ở các Tổ chiều ngày 04-11-2014 về những điểm còn cần làm rõ đối với các điều khoản chi tiết của Công ước, Quốc Hội sẽ tiến hành biểu quyết thông qua nghị quyết phê chuẩn Công ước này trong sáng Thứ Sáu 28-11-2014. Quyết tâm chính trị cao độ và cam kết chính trị mạnh mẽ của Chính Phủ Việt Nam đối với Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật được thể hiện qua kiến nghị Quốc hội phê chuẩn công ước mà không bảo lưu bất kỳ điều khoản nào của công ước, nghĩa là tuân thủ toàn bộ 50 điều khoản mà không viện dẫn bất cứ lý do mang tính hoàn cảnh nào để bảo lưu – tức loại trừ hẳn, không thực hiện, hoặc để thực hiện sau vào một thời gian thích hợp bất định – một hay nhiều hơn một điều khoản nào của công ước.

Trước sự thật hiển nhiên là bản thân sự kiện phê chuẩn công ước này không được báo chí xem như chủ đề đủ “nóng” hay đáng quan tâm cho việc tập trung đưa tin, tôi với tư cách nghị sĩ thực hiện vai trò tham gia giáo dục pháp luật xin đóng góp các nội dung sau nhân sự kiện trọng đại này để giúp người dân – nhất là các học sinh – tìm hiểu cặn kẽ các điểm quan trọng không những về Công ước mà còn về tư duy phản biện mới đối với vấn đề rất cũ tính định kiến không đúng về “nhân đạo”, “từ thiện”, và “nhân quả”, đặc biệt trong tình hình đấu tranh chính trị sống còn của đất nước đang diễn ra với thù trong và giặc ngoài chực chờ gây hại cho sự phát triển quốc gia và hạnh phúc của quốc dân, trong đó có người khuyết tật.

B- Tại Sao?

1) Gia Nhập và Phê Chuẩn

Câu hỏi có thể thường được đặt ra là vì sao Việt Nam chính thức k‎ý công ước này ngày 22-10-2007 – tức chỉ chưa đầy một năm kể từ khi Công ước được Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua (13-12-2006) – đến nay mãi sau 7 năm mới trình Quốc hội phê chuẩn để hoàn tất thủ tục cho Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công Ước.

Với thực trạng theo số liệu thống kê năm 2009, Việt Nam có 6,7 triệu người khuyết tật chiếm 7% dân số, trong đó có 3,6 triệu người là nữ, hơn 5 triệu người sống ở vùng nông thôn, và 1,2 triệu trẻ em, thuộc hai dạng khuyết tật chiếm tỷ lệ cao nhất là khuyết tật vận độngkhuyết tật liên quan đến thần kinh, tiếp đến là khuyết tật về thị giác, thính giác, v.v., mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật không những do khiếm khuyết bẩm sinh mà còn do cả hậu quả của chiến tranh kéo dài nhiều năm, thiên tai, và tai nạn giao thông, v.v., Chính phủ Việt Nam đã nghiên cứu xây dựng nhiều pháp lệnh, nghị định, nghị quyết và chính sách đối với người khuyết tật, chứng minh từ rất sớm tư tưởng về tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khuyết tật đã được quy định trong pháp luật Việt Nam và trở thành nguyên tắc hiến định được cụ thể hóa bằng pháp luật, chẳng hạn như trong Luật Hình Sự 1999, Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000, Luật Giáo Dục 2005, Luật Thể Dục – Thể Thao 2006, Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2006, v.v. Chính phủ Việt Nam còn cam kết thực hiện Khuôn Khổ Hành Động Thiên Niên Kỷ Biwako 2003 hướng tới một xã hội hòa nhập, không vật cản và vì quyền của người khuyết tật khu vực Châu Á–Thái Bình Dương. Tất cả đã cho thấy: là một thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác, Việt Nam luôn theo nguyên tắc tuân thủ nghiêm túc các điều ước đã cam‎ kết, và đối với Công Ước về Quyền của Người Khuyết Tật, sau khi k‎ý kết năm 2007, Việt Nam đã ban hành Luật Bảo Hiểm Y Tế 2008, Luật Người Khuyết Tật 2010, Luật Lao Động 2012, và Hiến Pháp 2013, v.v., hiến định và luật định các quyền của người khuyết tật, cũng như cam kết thực hiện Chiến Lược Incheon 2012 với chủ đề “Hãy Hành Động Để Mang Đến Những Quyền Thực Sự Cho Người Khuyết Tật”. Tất cả làm tiền đề cho sự phê chuẩn trong thời gian thích hợp.

Ngoài ra, Việt Nam còn đã tham gia 13 trong tổng số 17 văn kiện của Liên Hợp Quốc về quyền con người và đã có kinh nghiệm thực tế trong thực thi Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự – Chính Trị; Công Ước Quốc Tế Về Các Quyền Kinh Tế, Xã Hội, và Văn Hóa; Công Ước Quốc Tế Về Xóa Bỏ Mọi Hình Thức Phân Biệt Đối Xử Với Phụ Nữ; và Công Ước Quốc Tế Về Quyền Trẻ Em. Nay với tư cách và tư thế thành viên Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2014-2016), Việt Nam tiến hành việc phê chuẩn Công Ước Quyền Của Người Khuyết Tật vốn là một trong những điều ước quốc tế về nhân quyền, hoàn toàn phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà Nước Việt Nam nhằm đảm bảo ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của nhân dân, thực hiện dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2) Bảo Lưu

Bảo lưu là ý kiến mong muốn chủ quan của một quốc gia khi phê chuẩn việc tham gia một công ước quốc tế đối với một hay nhiều hơn một điểm trong công ước mà quốc gia ấy hoặc không muốn bó buộc phải thực hiện hoặc do có khác biệt bản địa về tập tục, văn hóa, truyền thống, tôn giáo, và/hay luật pháp hiện hành. Song, các quốc gia đã là thành viên chính thức của công ước có quyền xem xét và cho ra ý kiến phản đối các bảo lưu ấy trên cở sở phản biện mà các thí dụ sau là để minh họa:

a- Bảo lưu của Israel: “Nhà nước Israel đưa ý kiến bảo lưu liên quan đến các điều khoản về kết hôn trong Điều 23(1)(a) của Công ước, ở mức độ mà luật pháp quy định về tình trạng cá nhân có tính bắt buộc trong nhiều cộng đồng tôn giáo ở Israel không phù hợp với điều khoản này.”

b- Bảo lưu của Ba Lan: “Cộng Hòa Ba Lan hiểu rằng các điều 23.1(b) và 25(a) sẽ không được diễn giải theo cách cho phép một cá nhân có quyền phá thai, hoặc bắt buộc quốc gia thành viên phải tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ liên quan.”

c- Bảo lưu của Vương Quốc Thống Nhất Đại Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan đối với điều 24.2(a) và 24.2(b): “Vương Quốc Anh bảo lưu quyền của trẻ khuyết tật được giáo dục tại các cơ sở không thuộc khu dân cư của các em, tại các cơ sở giáo dục phù hợp với nhu cầu của các em hơn. Tuy nhiên, phụ huynh của trẻ khuyết tật có quyền, giống như những phụ huynh khác, được bày tỏ mong muốn con mình được theo học tại cơ sở giáo dục nào.”

d- Phản đối của Bồ Đào Nha: “Chính phủ nước Cộng Hòa Bồ Đào Nha đã xem xét tuyên bố diễn giải của Vương Quốc Thái Lan liên quan đến điều 18 khi phê chuẩn Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật….Vương quốc Thái Lan đã đưa ra một bảo lưu thiếu rõ ràng về mức độ cam kết tuân thủ điều 18 của Công ước, và điều này làm dấy lên những nghi vấn về mức độ cam kết của Vương Quốc Thái Lan đối với mục đích và mục tiêu của Công ước đối với các quyền liên quan tới tự do đi lại và quốc tịch. Chính phủ nước Cộng Hòa Bồ Đào Nha xin nhắc lại: theo Điều 46, đoạn 1 của Công ước, các bảo lưu không phù hợp với mục đích và mục tiêu của Công ước sẽ không được chấp thuận. Do vậy, Chính phủ nước Cộng Hòa Bồ Đào Nha phản đối tuyên bố diễn giải của Vương Quốc Thái Lan liên quan đến Điều 18 của Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật…..”

e- Phản đối của Thụy Điển: “Chính phủ Thụy Điển đã xem xét tuyên bố diễn giải của Chính phủ Vương Quốc Thái Lan….Chính phủ Thụy Điển lưu ý rằng Thái Lan coi trọng việc áp dụng các nội luật, quy định, và tập quán tại Thái Lan hơn là áp dụng điều 18 của Công ước. Chính phủ Thụy Điển cho rằng một bảo lưu mà không thể hiện rõ phạm vi bảo lưu làm dấy lên những quan ngại lớn về mức độ cam kết của  Thái Lan đối với mục đích và mục tiêu của Công ước. Chính phủ Thụy Điển do đó  phản đối bảo lưu trên của Chính phủ Vương Quốc Thái Lan về Công ước về Quyền của Người Khuyết Tật và xem bảo lưu ấy vô giá trị và vô hiệu lực….”.

Quốc hội Việt Nam sẽ xem xét phê chuẩn Công ước mà không có bất kỳ một bảo lưu nào, thể hiện quyết tâm chính trị cực cao vì việc thực hiện các cam kết đòi hỏi những khoản đầu tư khổng lồ và sẽ phải được báo cáo định kỳ cho Liên Hợp Quốc dưới sự kiểm tra và giám sát của chính tổ chức này.

C- Những Vấn Đề Ý Thức

1) Nhân Quyền

Những phe nhóm chống Việt Nam (cần nhắc lại rằng trên thực tế hùng biện hàn lâm không hề có cái gọi là “chống Cộng”, giống như lâu nay chỉ tồn tại cái gọi là “chống Nga” vì Nga đang là quốc gia tư bản, vì “cộng” là một triết thuyết và chỉ có triết thuyết mới hơn “cộng”, vĩ đại y như “cộng”, và đối nghịch tư duy với “cộng” mới có thể mang danh “chống cộng”) luôn gào thét rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, trong khi chúng không hề biết thế nào là nhân quyền. Đối với bọn đã, đang, và sẽ mãi rên rỉ về nhân quyền thì các “quyền” sau mới là nhân quyền: tự do ngôn luận, tự do lập hội, và tự do biểu tình, với cái thứ nhất để hòng được tự do thoải mái nói và viết những điều bá láp chống lại chính phủ Việt Nam, tức sử dụng cái biện pháp bằng mồm và bằng tay do cái biện pháp đối đầu quân sự đã hoàn toàn thất bại thảm hại dẫn đến sự tan rả tháo chạy tán loạn của toàn bộ quân đội và chính quyền Sài Gòn ngày 30-4-1975 lịch sử, nay hy vọng bàn tay gỏ bàn phím có thể che khuất được bầu trời chính nghĩa và cái mồm ăn vạ tru tréo bôi nhọ có thể xô ngã chế độ; cái thứ nhì để mong thành lập được đảng phái chính trị núp bóng “hội” để hy vọng có ngày được tham chính đa đảng [2] xóa sổ “độc đảng” [3] Cộng Sản, tàn sát đảng viên Cộng sản và gia đình của họ, rồi lên làm Tổng Thống; và cái thứ ba nhằm gây náo loạn làm ô danh Việt Nam như đất nước ổn định chính trị duy nhất trên thế giới, và qua đó xô sụp nền kinh tế do giảm sút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tiến đến bần cùng hóa đất nước, giúp có cơ hội dè bỉu hô hào về sự thất bại và bất tài vô dụng của Cộng sản Việt Nam trong xây dựng kinh tế.

Nhân quyền là phạm trù bao trùm, không bó rọ như cái chuồng tư duy tư tưởng chật hẹp của những kẻ chống Việt. Thực thi việc bảo vệ và bảo đảm sự đúng đắn, đầy đủ các quyền của người dân, đặc biệt là các nhóm cộng đồng yếu thế như trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ, người nghèo, và người khuyết tật, với các thành quả cụ thể trong xóa đói, giảm nghèo, xóa nạn mù chữ, v.v., tạo cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn, tốt hơn, cho người dân, v.v., mới là những trụ cột chính của nhân quyền – và đây là l‎ý do Việt Nam dược bầu với tỷ lệ cực cao vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hợp Quốc. Phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền của Người Khuyết Tật, nhận thêm trách nhiệm nặng nề trong hoàn cảnh kinh tế nước nhà chưa phải là đã khả quan để quyết tâm chăm lo cho công dân là người khuyết tật, tự đặt mình dưới sự giám sát của Liên Hợp Quốc trong thực thi Công ước, Chính phủ Việt Nam đã tiến xa thêm trên con đường bảo vệ và tôn trọng nhân quyền ở mức độ cao nhất vì đó là trách nhiệm với dân tộc, với cộng đồng người khuyết tật, dồng thời cũng chính là quốc thể trong bảo đảm công bằng, bác ái, như dân tộc tính đặc thù của dân tộc Việt Nam.

Nhân quyền, do đó, chính là qua sự thể hiện trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với các quyền cao trọng của toàn dân, trong đó có các cộng đồng những người yếu thế mà điển hình là người khuyết tật, mà việc tôn trọng phẩm giá của họ là ý nghĩa cao nhất của các cam kết đối với công ước.

2) Dân Quyền

Người khuyết tật Việt Nam là công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, và do đó trên nguyên tắc hiến định đương nhiên có các quyền công dân được chế định trong hiến pháp và theo sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam. Các đạo luật- do đó, phải có các điều khoản về người khuyết tật – trường hợp có liên quan trực tiếp; điều này cũng có nghĩa rằng các đạo luật hiện hành sẽ phải được điều chỉnh thích hợp sau khi Quốc hội phê chuẩn công ước này.  

3) Công Bằng và Bình Đẳng: “Tội Tổ Tông Truyền”

Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật – đó là điều đơn giản mang tính lý tưởng và lý thuyết không phải luôn dễ thực hiện thực thi trong cuộc sống thực của xã hội ở nhiều nơi trên thế giới. Sự không công bằng thậm chí còn xảy ra ngay trong tư duy lối mòn mang tính xúc phạm và phi nhân bản khi xem người khuyết tật như kẻ gánh chịu sự trừng phạt “công minh” của thượng đế cho những cái gọi là “tội ác” trong tiền kiếp của bản thân người khuyết tật hay của tổ tiên của họ. Tôn trọng nhân phẩm người khuyết tật và thông cảm cho hoàn cảnh khiếm khuyết mang tính tai nạn và tai họa họ phải gánh chịu ngoài ý muốn, đó mới chính là cách xử sự văn hóa, văn minh, của con người thực sự có văn hóa, văn minh.

4) Công Bằng và Bình Đẳng: “Kinh Doanh” Từ Thiện

Sẽ là sự vô văn hóa và phản văn minh nếu luôn xem người khuyết tật như những đối tượng đáng thương hại, những đối tượng đói nghèo thất học, và là đối tượng được sử dụng để đánh bóng thương hiệu cho những công ty trong những buổi trực tiếp truyền hình “hoành tráng” mà số tiền “hoành tráng” thu được sẽ được dùng để chi trả cát-xê “hoành tráng” cho các ngôi sao ca nhạc, chi phí “hoành tráng” cho hội trường hay sân khấu rạp hát hoành tráng, lợi nhuận “hoành tráng” của đơn vị tổ chức sự kiện, và tiền mặt còn lại từ số thu “hoành tráng” là dành cho một cơ sở nào đó của người khuyết tật. Đưa người khuyết tật ra để mời gọi lòng thương, lòng từ thiện, của công chúng, rồi ăn bám ăn bớt từ khoản tiền thu được, dứt khoát đó không bao giờ là việc làm đúng đắn, đã vậy còn ở tư thế người trên trước ban ân làm phúc cho người khuyết tật. Đó là sự bất lương. Bảo vệ và bảo đảm sự công bằng đối với các công dân người khuyết tật nghĩa là nâng cao phẩm giá vốn có và luôn có của họ, không được sử dụng họ làm đối tượng phục vụ cho hai mục đích (a) quảng cáo cho doanh nghiệp và (b) tự thỏa mãn rằng bản thân mình đã làm được điều đại phúc để phước lại cho con cháu của mình cũng như để chính mình ghi điểm với Trời với Phật như một cách đầu tư hữu hiệu cho một chỗ cao trọng chốn Niết Bàn.

D- Kết Luận: Phẩm Giá Người Khuyết Tật

Khi bạn giúp một trẻ em vói lấy một quyển sách trên kệ cao nơi thư viện, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp em bé ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là con người.

Khi bạn giúp một phụ nữ bụng mang dạ chữa vói lấy một món đồ trên kệ cao nơi siêu thị, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp sản phụ ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là con người.

Khi bạn giúp một cụ già băng qua đường, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp người cao tuổi ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người.

Khi bạn giúp một lực sĩ cử tạ đầy hộ một trong ba xe đẩy hành lý của người ấy tại sân bay, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp vận động viên ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người.

Và khi bạn giúp một người khuyết tật trong bất kỳ hoàn cảnh cụ thể nào đó, bạn không đang làm phúc, bạn không đang tích phước, bạn không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp. Bạn giúp người ấy vì bạn là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người.

Trước Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh một ngày giữa tháng 10 năm nay trước khi ra Hà Nội dự Kỳ họp Thứ 8 Quốc hội Khóa XIII, khi tôi nhường đường cho một người khuyết tật đi xe máy ba bánh đặc chế có chở một bé trai khoảng 6 tuổi phía sau, tôi không đang làm phúc, tôi không đang tích phước, tôi cũng không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp, mà vì tôi là một con người có hiểu biết thế nào là làm một con người; còn khi người khuyết tật ấy cười đôn hậu, bóp thắng xe, bào tôi hãy vào cổng cơ quan trước đi, đừng ngừng lại, người khuyết tật ấy không đang làm phúc, không đang tích phước, không đang quảng cáo cho bản thân hay doanh nghiệp, mà đơn giản vì thấy tôi đeo huy hiệu Quốc hội nên muốn nhường đường để tỏ lòng kính trọng một vị đại biểu dân cử. Hai người nhường đường cho nhau: tôi nhường đường vì trên xe máy ba bánh tự chế ấy có một em bé mà sự tránh đường cho tôi có thể khiến xe va vào lề đường cao gây mất an toàn cho em bé không có dây đai dính vào ghế sau xe, người đàn ông khuyết tật nhường đường cho tôi vì cho rằng đó là điều đương nhiên của một người dân tốt bụng, có hiểu biết, có giáo dục, phải làm khi ngáng đường một vị trên ngực áo có huy hiệu lá cờ đỏ sao vàng tôn kính. Tôi không có sự tự tôn để xem anh ta là người khuyết tật thấp hèn. Anh ấy không có sự tự ti để thấy mình là kẻ thấp kém. Tôi tôn trọng anh ấy vì tôi luôn học làm người tốt, còn anh ấy tôn trọng tôi vì anh ấy là người tốt. Đây nào phải là điều đội đá vá trời đòi phải có sức cử đỉnh bạt sơn trước một nhiệm vụ bất khả thi!

Khi xã hội có nhiều người không có bất kỳ một khuyết tật cơ thể nào trừ khuyết tật tâm hồn nên chây lười lao động, tự mình bần cùng hóa chính mình do bài bạc bê tha, bắt con trẻ đi xin hoặc bản thân hóa trang thành hành khất để đi xin ăn, thậm chí là dân ăn mặc sang trọng như dân cổ cồn trắng [4] lại sử dụng chiêu trò bẩn để ăn xin, thì người ta vẫn có thói quen nhìn người khuyết tật như những người mà mình cần phải bố thí. Bạn giúp lấy một quyển sách khoa học vạn vật trên kệ cao cho một em bé, nhờ đó mà em bé có cơ may trở thành một nhà bác học. Bạn lấy giúp một món hàng trên kệ cao cho phụ nữ đang bụng mang dạ chữa, nhờ đó mà chị ấy giữ được an toàn cho thai nhi cho một hạnh phúc gia đình của riêng chị. Bạn giúp một cụ già băng qua đường để xã hội có thêm một người cao tuổi được an toàn, tiếp tục làm cây cao bóng cả cho gia đình, cũng như tiếp tục đem kinh nghiệm phục vụ cho xã hội trong những công việc mà sức khỏe người cao tuổi ấy còn cho phép và luật pháp về lao động của nước nhà bảo hộ quyền lợi.

Người khuyết tật thuộc cộng đồng những người yếu thế. Một vận động viên bơi lội hay cử tạ người khuyết tật có thể lập nên kỳ tích và kỷ lục thể thao đem vinh dự về cho tổ quốc mà những người không khuyết tật chưa chắc đã làm được điều tương tự. Tất nhiên, luôn có cơ chế hỗ trợ thích hợp chẳng hạn như các vận động viên khuyết tật môn cử tạ không nâng tạ trong tư thế đứng, và lúc nằm ngữa sẽ được người đặt tạ lên đôi bàn tay để vận động viên này tự sức nâng lên. Tương tự như vậy, các cơ chế trong đời sống được tạo nên để hỗ trợ người khuyết tật tự nâng được các gánh nặng trong đời sống của người ấy. Không ai bắt buộc người khuyết tật chỉ được ngồi xem các trận thi đấu thể thao. Càng không ai buộc người khuyết tật phải ngồi chờ những bố thí từ lòng thương hại của người khác.

Người khuyết tật có quyền tham dự các tranh tài thể dục thể thao để tự mình đem vinh quang về cho đất nước.

Người khuyết tật có quyền làm việc để tự mình đem danh dự của người có đầy đủ phẩm giá và lòng tự trọng cùng khả năng trong sinh nhai về làm niềm tự hào cho gia đình của họ, con cái của họ.

Người khuyết tật – cùng với những người dân thuộc lớp yêu thế như người cao tuổi, phụ nữ, và trẻ em – luôn được xã hội và quốc gia dành cho những ưu tiên đặc biệt khi đất nước lâm vào biến động kinh tế, thảm họa thiên tai, dịch bệnh, hay tình trạng chiến tranh; song, ngay cả trong thời chiến, người khuyết tật vẫn có quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm là từ bỏ quyền ưu tiên của chính mình để gia nhập quân đội, phục vụ đại cuộc cứu nước bằng trí óc và sức lực cơ thể mặc cho có những khiếm khuyết và giới hạn. Đó là quyền được sống trong danh dự, quyền được cống hiến trong vinh dự, quyền ái quốc, và quyền được hy sinh trong niềm tự hào là công dân hữu ích.

Đoàn Ngọc Hoài Phong là một nhân viên khuyết tật hệ vận động chi dưới. Anh sử dụng vi tính để ghi biên bản các buổi họp cho Mặt Trận Tổ Quốc Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh. Và từ khi bắt đầu làm nghị sĩ năm 2011, tôi đã được tiếp xúc với anh, để biết kính trọng anh, người thiết tha với cuộc sống, tận tụy với công việc, tích cực với tư duy trăn trở về đất nước. Anh thường bày tỏ cho tôi biết những ý nghĩ của anh về những vấn đề mà anh muốn thố lộ để giúp nước nhà tốt hơn, xã hội tốt hơn, để mọi người dân sống tốt hơn. Anh chưa từng nói gì về quyền lợi nên có thêm cho người khuyết tật. Anh chưa từng nói gì về những khó khăn của anh hay của những người khuyết tật như anh. Có lẽ anh đơn giản cho rằng anh đang được làm việc và cách để tri ân cuộc sống là cống hiến cho đời dù chỉ bằng sức lực của trí óc trong cơ thể mà đôi tay của anh phải luôn tì lên đôi nạng để lê đi. Anh làm tôi nhận ra rằng  anh là một công dân bình thường với điều quý trọng nơi anh là sự quan tâm anh dành cho người dân nước này, mà đại đa số là những người không khuyết tật. Giống như sự hỗ trợ chuyên nghiệp cho từng bộ môn thi đấu luôn có trên đấu trường thể thao thê giới dành cho người khuyết tật, nếu cơ quan nơi anh Đoàn Ngọc Hoài Phong đang công tác dành cho anh sự hỗ trợ thích hợp chẳng hạn như đồng ý cho anh mỗi năm được vắng mặt hai kỳ, mỗi kỳ tối đa 6 tuần, vẫn được hưởng đủ lương, để anh có cơ hội tự ra ứng cử và trở thành nghị sĩ [5] – nếu được người dân dồn phiếu tín nhiệm – thì những trăn trở và hiến kế của anh có cơ may trở thành những lời tâm huyết trực tiếp tỏ bày tại cơ quan quyền lực nhất đất nước chứ không chỉ là những tâm tư gởi gắm  cho tôi trong những lần gặp mặt.

 

Người khuyết tật có phẩm giá của người khuyết tật. Hãy giúp đỡ người khuyết tật với sự tôn trọng phẩm giá của họ. Làm được điều này, bạn thực hiện được điều vĩ đại hơn cả việc bạn cho là lòng từ thiện hay lòng nhân đạo: bạn có trái tim một con người đúng nghĩa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Convention on the Rights of Persons with Disabilities. http://www.un.org/disabilities/convention/conventionfull.shtml

[2] Hoàng Hữu Phước. 18-5-2013. Mỹ Có Đa Đảng Không? Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

[3] Hoàng Hữu Phước. 13-02-2011. Luận Về Đa Đảng. http://hhphuoc.blog.com/?p=167

[4] Hoàng Hữu Phước. 11-10-2014. Bọn Xin Đểu Cổ Cồn Trắng. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/11/bon-xin-deu-co-con-trang/

[5] Hoàng Hữu Phước. 07-9-2014. Nghị Sĩ Người Khuyết Tật: Tại Sao Không? http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/07/nghi-si-nguoi-khuyet-tat-tai-sao-khong/

Biển Đông – Vì Sao Việt Nam Không Khởi Kiện

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Hoàng Sa – Trường Sa: đây là những cái tên quen thuộc đối với người dân Việt Nam vì đó là những phần không thể tách rời của lãnh thổ và lãnh hải nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Hoàng Sa – Trường Sa: đây là những cái tên quen thuộc đối với kẻ thù của đất nước Việt Nam vì đó là những phần lãnh thổ và lãnh hải mang các dấu ấn lịch sử của những bốn bên: Việt Nam  Dân Chủ Cộng Hòa người đại thắng, Việt Nam Cộng Hòa kẻ đại bại, Mỹ kẻ thất bại, và Trung Quốc thằng hôi của, mà kẻ thù của Việt Nam gồm tổ hợp phân tử không gắn kết chặc chẽ của kẻ đại bại, kẻ thất bại, và thằng hôi của.

Kẻ đại bại mang nỗi nhục đớn hèn muôn kiếp không phai nên sử dụng những cái tên quen thuộc ấy để tự gắn hào quang cho chính mình như “hải chiến Hoàng Sa[1] không có chút vinh quang nào thật sự  hoặc “công thư Phạm Văn Đồngchẳng dính dáng gì đến những cái tên gọi là quen thuộc ấy để ra rả bôi nhọ người đại thắng.

Kẻ thất bại nhận ra sự tối cần thiết phải có của một Việt Nam cộng sản để ghìm chân Trung Quốc không cho xâm lấn xuống Đông Nam Á uy hiếp Châu Đại Dương nên chụp lấy tất cả các cơ hội có được, từ chủ trương ôn hòa, chính sách thân thiện, dân tộc tính không hận thù của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam để công nhận Việt Nam, giao hảo với Việt Nam, đầu tư vào Việt Nam, tiến tới chiến lược Hướng Đông trở lại tích cực ngăn chặn sự gây hấn của Trung Quốc và xóa bỏ dần các cấm đoán bán vũ khí tối tân cho Việt Nam.

Thằng hôi của nhận ra cái “của” mà nó giựt được của anh nhà giàu Việt Nam không giúp gì được để nó có thể cứu đói hàng tỷ dân của nó nên hùng hổ hung hăng hối hả hừng hực khí thế lấn lướt ở Biển Đông toan giành ngôi bá chủ.

Và lập luận sau hay được kêu gào sử dụng bởi những kẻ đại bại đã chạy ra nước ngoài, những con ngựa thành Troy nhận tiền của kẻ đại bại, và những kẻ phản loạn, hoặc được nêu thành thắc mắc bởi những người dân hiền lành chưa rõ việc quốc gia đại sự: Tại Sao Đảng Cộng Sản Việt Nam Im Lặng Và Tại Sao Chính Phủ Việt Nam Không Khởi Kiện Trung Quốc Ra Tòa Án Quốc Tế. Bài viết này, do đó, để đánh bại kẻ đại bạikẻ phản loạn, đồng thời cung cấp thông tin chính quy cho người-dân-Việt-Nam-yêu-nước để từ đó tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo anh minh của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Về Vấn Đề Tranh Chấp Lãnh Thổ Và Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Biện Pháp Hòa Bình, chúng ta cần lưu ý rằng áp dụng nguyên tắc hòa bình để giải quyết các tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ được quy định tại Điều 2.3 trong Hiến Chương Liên Hợp Quốc [2] mà Việt Nam là một nước thành viên luôn chứng minh tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc này với danh nghĩa một thành viên tích cực và có trách nhiệm. Hiến Chương Liên Hợp Quốc còn đề ra tại Điều 33.1 ở Chương VI những biện pháp dùng để giải quyết hòa bình các tranh chấp gồm ba nhóm như: ngoại giao (đàm phán, trung gian hòa giải), pháp lý (trọng tài, tòa án), và cơ chế điều ước quốc tế (giải quyết tranh chấp thông qua các tổ chức quốc tế). Đây là những biện pháp gợi ý và tùy sự lựa chọn của các bên liên quan đến tranh chấp, thậm chí có thể áp dụng những biện pháp khác không có trong danh sách gợi ý miễn sao đó cũng là những biện pháp hòa bình.

1- Nhóm Biện Pháp Ngoại Giao

a) Đàm Phán: Đây là biện pháp chủ động giữa các bên liên quan trực tiếp với nội dung tranh chấp; nhưng do lệ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên mà nếu có sự khác biệt quá lớn trong quan điểm của mỗi bên sẽ vô hiệu hóa nổ lực đàm phán. Đàm phán giữa Việt Nam và Trung Quốc cho khu vực Vịnh Bắc Bộ đã không đạt được tiến triển do Việt Nam muốn gộp chung đàm phán về Hoàng Sa cùng phân định các vùng biển chồng lấn, trong khi Trung Quốc làm ngơ và chỉ nói về nội dung cùng khai thác tài nguyên biển Vịnh Bắc Bộ.

b) Trung Gian – Hòa Giải: Đây là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba (cá nhân, tổ chức, hoặc một quốc gia) làm môi giới giúp các bên tranh chấp gặp gở, cùng tham gia các cuộc đối thoại đàm phán và đề xuất các giải pháp cho hai bên tham khảo, lựa chọn. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của bên thứ ba chỉ có giá trị tham khảo, không mang tính pháp lý ràng buộc các bên tranh chấp phải tuân thủ. Trong tranh chấp hiện nay ở Biển Đông, Mỹ và Indonesia đưa ra những đề xuất trung gian hòa giải nhưng đã không được Trung Quốc quan tâm.

2- Nhóm Biện Pháp Pháp Lý

a) Tòa Án Công Lý Quốc Tế: (International Court of Justice  ICJ) [3]

Trên nguyên tắc, ICJ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về biên giới lãnh thổ, nhưng với điều kiện tất cả các bên có liên quan trực tiếp đến việc tranh chấp phải cùng chấp nhận đưa tranh chấp ra ICJ phân xử. Campuchia và Thái Lan đã cùng đồng  ý đưa tranh chấp về ngôi đền Vihear ra ICJ xét ra phán quyết, còn Malaysia và Indonesia đồng ý để ICJ phán quyết về tranh chấp hai hòn đảo Pulau Ligitan và Pulau Sipadan năm 2002, sau đó Malaysia và Singapore nhất trí để ICJ phán quyết xử lý tranh chấp chủ quyền đối với hòn đảo Pedra Blanca năm 2008. Đối với Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam không thể đơn phương đưa vụ việc ra ICJ do Trung Quốc vừa ngang ngược khẳng định có chủ quyền không thể tranh cãi với cả Hoàng Sa và Trường Sa, vừa phủ nhận thẩm quyền của ICJ.

Do phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế ICJ chỉ mang ý nghĩa chính trị hơn là có hiệu lực thi hành, vì tất cả tùy thuộc vào thiện chí của các nước có liên quan trực tiếp đến tranh chấp cũng như nhất trí tuân thủ phán quyết cuối cùng của ICJ. Trường hợp các bên liên quan trực tiếp chấp thuận trao cho ICJ quyền phán quyết nhưng cuối cùng lại không tuân thủ phán quyết của ICJ thì sự việc sẽ được chuyển đến Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc xử lý. Tuy nhiên, kết quả sẽ khó lường vì cả năm thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An đều có thể dùng quyền phủ quyết để can thiệp vào một phán quyết cuối cùng không có lợi cho bên tranh chấp nào có quan hệ riêng với quốc gia có quyền phủ quyết. Ngay cả khi việc không tưởng là Trung Quốc chấp thuận cùng Việt Nam đưa tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa ra Tòa án Công lý Quốc tế ICJ và tòa án này ra phán quyết công nhận chủ quyền của Việt Nam thì Trung Quốc vẫn có thể phản đối phán quyết, không tuân thủ phán quyết, và khi ICJ đưa vụ việc ra Hội Đồng Bảo An thì Trung Quốc sẽ dùng quyền phủ quyết để vô hiệu hóa sự can thiệp của Hội Đồng Bảo An.

b) Tòa Luật Biển Quốc Tế (International Tribunal for the Law of the Sea ITLOS) [4]

ITLOS được thành lập theo Công Ước Luật Biển 1982 để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công Ước Luật Biển 1982. Do Công ước không có quy định về nội hàm của “chủ quyền lãnh thổ” nên ITLOS chỉ có khả năng giải quyết các tranh chấp trên biển, không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ. Ngoài ra, tương tự như Tòa Án Công Lý ICJ, thẩm quyền của ITLOS chỉ được xác lập qua sự chấp thuận của tất cả các bên có liên quan trực tiếp đến tranh chấp.

c) Trọng Tài Thường Trực Quốc Tế [5]  (Permanent Court of Arbitration PCA)

Tương tự như Tòa Án Công Lý Quốc Tế ICJ, tổ chức Trọng Tài Thường Trực Quốc Tế PCA có khả năng xét xử về tranh chấp lãnh thổ, song cũng với điều kiện tất cả các bên liên quan trực tiếp đến tranh chấp cùng chấp thuận thẩm quyền của PCA để đưa vụ việc ra PCA.

3- Nhóm Biện Pháp Điều Ước Khu Vực/Quốc Tế

Mỗi tổ chức quốc tế (như ASEAN hay EU, v.v.) đều có những quy định các biện pháp áp dụng riêng khi phát sinh tranh chấp giữa các nước thành viên của tổ chức ấy. Tuy nhiên, các biện pháp thường thuộc nhóm ngoại giao, chủ yếu gồm đàm phán và  trung gian, hòa giải. Tranh chấp ở Biển Đông giữa Việt Nam với Trung Quốc do đó khó có kết quả tích cực khi Trung Quốc ngang ngược tuyên bố chủ quyền và không đồng thuận đàm phán hay chấp nhận vai trò trung gian hòa giải của bên thứ ba.

 

Nói tóm lại, không có bất kỳ một cơ chế hữu hiệu nào để Việt Nam “đòi lại sự công bằng và công lý” cho vùng lãnh thổ và lãnh hải bị Trung Quốc xâm lấn. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Quốc Hội Việt Nam, và Chính Phủ Việt Nam đã sáng suốt, chủ động bày thiên la, giăng địa võng, để đạt năm điều quan trọng sau: (a) từng bước cô lập Trung Quốc về ngoại giao trên trường quốc tế, (b) nêu cao chính nghĩa của Việt Nam như thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc trong tuân thủ nguyên tắc mang tính nghĩa vụ trong giải quyết hòa bình các tranh chấp theo những biện pháp đề nghị trong Hiến Chương, (c) nêu cao chính nghĩa của Việt Nam như thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc đối với hòa bình và an ninh trong khu vực cũng như trên thế giới, (d) được quốc tế ủng hộ ngay đối với tranh chấp ở Biển Đông, và (e) duy trì hòa bình để tiếp tục xây dựng đất nước vì sự ấm no, hạnh phúc, an toàn của nhân dân và hậu duệ của dân tộc Việt Nam.

Và khi mọi cơ quan pháp lý quốc tế đều không bao giờ có thể là nơi hữu hiệu có ý nghĩa và giá trị thực tế để giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ với Trung Quốc, con đường duy nhất để thu hồi tất cả các phần lãnh thổ và biển đảo bị Trung Quốc chiếm đóng là sử dụng vũ lực cho một cuộc chiến tranh có tuyên bố trên quy mô tổng lực. Vấn đề là cuộc chiến tranh ấy có giải quyết được vấn đề khi Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp Quốc và của ASEAN cũng như tất cả các tổ chức quốc tế mà Việt Nam là thành viên, lại sử dụng điều trái với nghĩa vụ để làm trầm trọng thêm tình hình khu vực vầ thế giới, phủ nhận và xúc phạm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đang dành cho một Việt Nam chính nghĩa.

Ủng hộ các kế sách của Đảng và Nhà Nước – những hậu duệ chiến thắng của dân tộc Việt Nam chiến thắng – để xây dựng đất nước hùng cường, với các nội dung dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phồn thịnh, hạnh phúc, tất cả tạo nên sức mạnh thể chất, tinh thần, tiềm năng, tiềm lực, từ đó thực hiện đại cuộc thu hồi toàn bộ biển đảo và lãnh thổ từ tay Trung Quốc – đó là đại cuộc của tương lai mà chính hôm nay đã khởi đầu bằng sự tỉnh táo mưu trí của các lãnh đạo Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong xử lý tranh chấp ở Biển Đông.

Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc tế

Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội

Ủy viên Hội Hữu Nghị Nghị Sĩ Việt Nam – Philippines 

Ghi chú:  Dựa theo tài liệu của Học Viện Ngoại Giao, Bộ Ngoại Giao Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Tham khảo:

[1] Hoàng Hữu Phước. 28-7-2014. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Nói Về Hải Chiến Hoàng Sa. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/28/hoang-sa/

[2] Charter of the United Nations. http://www.un.org/en/documents/charter/intro.shtml

[3] http://www.icj-cij.org

[4] https://www.itlos.org

[5] http://www.pca-cpa.org

Về Phát Biểu Của Ông Trương Trọng Nghĩa Trên Báo Tuổi Trẻ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Một cử tri bức xúc gởi tin nhắn cho tôi nói về một phát biểu của Ông Trương Trọng Nghĩa trên báo Tuổi Trẻ về tình trạng “gánh nhiều vai” của Đại biểu Quốc hội và cái gọi là “lương tâm” nên có nơi những Đại biểu Quốc hội nên “từ nhiệm” nếu không thể “gánh nhiều vai” ấy. Tôi tìm xem phát biểu ấy của Ông Trương Trọng Nghĩa và xin có nhận xét sau:

Việt Nam có luật pháp của Việt Nam. Quốc Hội Việt Nam hoạt động trên cơ sở tuân thủ nghiêm túc luật pháp của Việt Nam. Khi nói Đại biểu Quốc hội Việt Nam “gánh nhiều vai” nên khó thể toàn tâm toàn lực phục vụ nhân dân, rồi so sánh với nghị sĩ nước ngoài (ắt là so sánh với nghị sĩ Hoa Kỳ) chỉ gánh có một vai nên suy ra toàn tâm toàn lực phục vụ nhân dân, Ông Trương Trọng Nghĩa chắc là muốn nêu lên sự hồ nghi đối với chất lượng chuyên nghiệp, cái tâm, cái tầm, cái bản lĩnh, và cái quyết tâm vì nước vì dân của đại đa số Đại biểu Quốc hội Việt Nam vốn không là đại biểu chuyên trách chăng?

Thố lộ sự trăn trở về việc “gánh nhiều vai”, Ông Trương Trọng Nghĩa rõ ràng ám chỉ rằng đa số các nghị sĩ Việt Nam là các chức sắc lãnh đạo các Sở, ban, ngành, đoàn thể ở 64 tỉnh thành, nên (a) các vị này rất có thể sẽ “đá lộn sân” giữa hành pháp với  lập pháp hoặc sẽ dính đến lợi ích nhóm nếu người thuộc tư pháp lại tham gia lập pháp, (b) các vị này bận lo trọng trách ở cơ quan nên ắt sẽ không toàn tâm lo việc Quốc hội, và (c) có thể các vị này không mong muốn làm Đại biểu Quốc hội do không tự ra ứng cử. Ông Trương Trọng Nghĩa do đó đề xuất rằng vị nào không cáng đáng nổi thì hãy xin “từ nhiệm để cho người khác làm”. Đề xuất này rất lạ lùng vì:

1) Đại biểu Quốc hội do dân bầu lên theo Hiến Pháp và luật pháp về bầu cử Quốc hội nê không thể có việc hễ có một Đại biểu Quốc hội nào đó từ nhiệm là có người khác  vào làm Đại biểu Quốc hội thay thế.

2) Lãnh đạo các cơ quan trọng yếu của nhà nước hoặc do Chính Phủ bổ nhiệm (được Quốc hội chuẩn y) hoặc do Ủy Ban Nhân Dân bổ nhiệm (được Hội đồng Nhân dân chuẩn y) theo hiến định và pháp định, nên càng không thể có việc hễ có một vị Đại biểu Quốc hội từ bỏ chức vụ trong hệ thống hành chính công quyền (để tập trung cho công việc Đại biểu Quốc hội dù thuộc diện không chuyên trách) là có người nào đó từ ngoài vào làm chức sắc hành chính công quyền thay thế.

3) Khi trăn trở về số lượng đại biểu chuyên trách quá ít, Ông Trương Trọng Nghĩa dễ gây hiểu lầm rằng đại đa số Đại biểu Quốc hội toàn là kiêm nhiệm nên khó thể làm tròn trách nhiệm đại biểu dân cử trong Quốc hội. Việc gia tăng số lượng đại biểu chuyên trách là việc rất bình thường và tất yếu vì để đáp ứng yêu cầu cao của đất nước Việt Nam ngày càng phát triển cao. Chưa kể thực tế là Quốc Hội khóa nào cũng có các đại biểu chuyên trách và các ủy ban chuyên môn, song kết quả công việc không khả quan đồng bộ y như nhau, thí dụ như an ninh quốc phòng thì hiệu quả, tài chính ngân hàng thì tiến chậm, còn giáo dục thì thất bại, v.v., nghĩa là nhất thiết phải có lộ trình để gia tăng dần dần số lượng đại biểu chuyên trách do chưa thể đáp ứng đầy đủ nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc hiệu quả cao cho hình thái lý tưởng của 100% chuyên trách, chưa kể cái gọi là “nguồn nhân lực” ấy có uy tín cá nhân về đạo đức, thành quả, và hiệu suất công tác cao để được người dân bầu vào cơ quan quyền lực nhất nước này để trở thành đại biểu chuyên trách hay không. Ngoài ra,  ngân sách Nhà Nước Việt Nam chưa thể “trả lương” cho các Đại biểu Quốc hội khi 100% các vị này là “chuyên trách”.

4) Khi dùng từ “vai” trong “gánh nhiều vai”, Ông Trương Trọng Nghĩa đã thiếu cẩn trọng trong sử dụng ngôn từ vì vai trò rất khác với vai diễn. Trong hoàn cảnh thù trong, giặc ngoài rình rập đánh phá bằng vũ khí truyền thông thì sự bất cẩn trong từ ngữ dùng để nói về những điều trọng đại mang tính quốc gia và quốc thể sẽ nhanh chóng được lợi dụng bởi các kẻ thù của chế độ.

5) Và cuối cùng song không kém phần nghiêm trọng là Ông Trương Trọng Nghĩa đã dùng chữ “lương tâm” trong khi không thể vạch mặt chỉ tên ai hoặc những ai đang không làm được việc do “gánh nhiều vai” để người dân biết ai là Đại biểu Quốc hội không có lương tâm nên từ nhiệm.

Ở Mỹ, khi đắc cử nghị sĩ, các vị đại gia tư bản từ chức vì (a) hiến định, (b) lương nghị sĩ rất cao, (c) phục vụ lợi ích nhóm hiệu quả hơn, (d) được bố trí làm lãnh đạo cấp cao của tập đoàn nếu phải từ chức lúc đương nhiệm do “nhận trách nhiệm trước một sự cố” hoặc do “bãi nhiệm” vì bị phát hiện tích cực phục vụ lợi ích nhóm. Trò chơi chính trị ở đây là: thí dụ như Đảng của Ông Obama muốn thân mật với Việt Nam, tất dẫn đến các sự việc tuần tự trước sau như sau:

- Đảng phải chiếm nhiều ghế tại Hạ Viện hay Thượng Viện – cả hai viện càng tuyệt – để dễ dàng ủng hộ thông qua tất cả các quyết sách của Obama.

- Các ứng cử viên Quốc Hội của Đảng thi nhau lấy lòng cử tri, chẳng hạn nữ nghị sĩ X muốn thu nhiều phiếu của cộng đồng người Việt ở California sẽ luôn mồm hô hào chống Cộng sản Việt Nam, luôn miệng sủa Việt Nam vi phạm nhân quyền; còn nam nghị sĩ Y muốn thu nhiều phiếu của người Mỹ gốc Mễ sẽ đến diễn thuyết kêu gào rằng y sẽ đòi Chính Phủ Liên Bang không được trục xuất người Mễ vượt biên vào đất Mỹ.

- Các ứng cử viên của Đảng đắc cử nên phải làm hài lòng cử tri: Nữ nghị sĩ X qua Việt Nam, chẳng cần đi đến vùng sâu vùng xa làm gì mà ở hotel ngắm phố phường Hà Nội rồi về Cali tố cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

- Việt Nam phản ứng chiếu lệ vì Việt Nam biết trò chơi chính trị rằng phải ủng hộ Đảng của Obama, nên phải lên tiếng phàn nàn để các cử tri chống Cộng đã dồn phiếu cho Bà Nghị sĩ X hả hê khi thấy bà ấy làm được việc khiến Việt Nam mất mặt phải phát ngôn này nọ than phiền.

- Bà Nghị sĩ X trở thành người sẽ biểu quyết ủng hộ tất cả các kế sách của Obama, kể cả kế sách tiến gần hữu hảo với Việt Nam hay viện trợ này nọ cho Việt Nam, v.v.

Đó là cái zigzag của trò chơi chính trị ở Mỹ của các nghị sĩ chỉ gánh một vai.

Ở Việt Nam, điểm đặc biệt là các nghị sĩ – đa số là kiêm nhiệm tức không hưởng lương của Quốc Hội – phải vừa thực sự phục vụ nhân dân trực tiếp qua các gánh vác trách nhiệm công quyền (trừ vài vị nghị sĩ thường dân tự ứng cử), vừa gián tiếp phục vụ nhân dân qua các kỳ họp Quốc hội, tại những Ủy ban mà họ là thành viên, và ở những khoản thời gian hiến định mà họ dành cho công tác người đại biểu dân cử.

******

Báo Tuổi Trẻ đăng ý kiến của Ông Trương Trọng Nghĩa mà không quan tâm đến những nội hàm tế nhị từ nội dung phát biểu của Ông Trương Trọng Nghĩa. Cái khó của báo chí là hầu như không thể kiểm tra chi li tất cả những nội dung trước khi lên khuôn, nhất là khi nội dung ấy của những vị có tiếng tăm thường hay xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Đó là lý do gần đây trên Báo Tuổi Trẻ có những sai sót thí dụ như:

1) Số Tuổi Trẻ Cuối Tuần cận Tết ra ngày 19-01-2014 tại trang 11 có bài mang tựa đề Nhảy Với Sói của tác giả có cái tên Lê Nguyễn Minh, nói về cái gọi là “lợi thế ẩm thực Việt Nam” và ghi rằng Giáo sư Michael E. Porter lúc đến Việt Nam năm 2008 dự hội nghị về “cạnh tranh toàn cầu và thế mạnh Việt Nam” đã “gợi ý Việt Nam nên là bếp ăn của thế giới”. Đây là điều sai hoàn toàn vì nội dung “bếp ăn của thế giới” là ở sự kiện tháng 8 năm 2007 mà diễn giả là Giáo sư Philip Kotler.

 

2) Ngoài ra, cách chọn từ ngữ của Tuổi Trẻ rất không đúng khi thay vì dùng Người Việt Gốc Hoa lại dùng từ “Người Hoa”.

 

Những nhân vật được nói đến trong các bài báo trên của Tuổi Trẻ đều là Người Việt Nam, và họ được chính phủ giúp đỡ vì họ là Người Việt Nam, và tất nhiên họ thuộc một trong những dân tộc hoặc đa số hoặc thiểu số hoặc mới nhập tịch ở Việt Nam, mà ngôn ngữ chính thức gọi là Người Việt Gốc Hoa, Người Việt Gốc Khmer, Người Việt Gốc Pháp, Người Việt Gốc Hoa Kỳ, v.v. Trong khi Chính phủ Việt Nam ra sức yêu cầu Chính Phủ Campuchia có các biện pháp hành chính đúng đắn đối với những “người Campuchia gốc Việt” đã sống có khi đến cả đời hay nửa thế kỷ ở Campuchia không còn liên hệ huyết thống gia tộc gì với bất kỳ ai ở Việt Nam và không có bất cứ giấy tờ tùy thân hay tài liệu nào chứng minh họ trước đây là dân Việt Nam vậy mà vẫn không được Campuchia công nhận, không bao giờ được cấp giấy tờ, giấy hôn thú, giấy khai sinh, không được đi làm, không được đi học, không được hưởng bất kỳ phúc lợi nào từ đất nước Campuchia của họ, thậm chí bị đuổi xua và đối xử tàn tệ, v.v., thì báo chí viết bài giật tít “đồng bào”, “kiều bào ở Campuchia”, “người Việt ở Campuchia” , v.v. rất là tai hại.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 08-7-2014. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/08/trinh-do-truong-trong-nghia/

[2] Hoàng Hữu Phước. 13-10-2014. Mai Trọng Tuấn: Thứ Đất Hỡi Trời Ơi . http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/13/mai-trong-tuan-thu-dat-hoi-troi-oi/

[3] Hoàng Hữu Phước. 14-10-2010. Tôi Và Lê Công Định. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/22/toi-va-le-cong-dinh/

Mai Trọng Tuấn: Thứ Đất Hỡi Trời Ơi

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Tôi mới biết tin Mai Trọng Tuấn lại nói bá láp về cái gọi là “xây dựng tuyến đại lộ  xuyên suốt qua 3 nước Đông Dương: Việt Nam – Lào – Campuchia”, cái mà Mai Trọng Tuấn gọi là Đại Lộ Xương Sống mà nếu được thực hiện sẽ tăng sự phát triển vững mạnh về kinh tế, văn hóa và đời sống cho nhân dân 3 nước, theo kịp với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới [1].

Trước khi phân tích cái ngu xuẩn trong ý kiến của Mai Trọng Tuấn, tôi thấy trang web của cơ quan giao thông vận tải năm 2013[2] có cho biết Mai Trọng Tuấn đã có đề xuất bỏ hết các ghế ngồi trên máy bay để chở được nhiều hành khách hơn. Tôi cho rằng rất có thể tấm lòng vì nước vì dân của Mai Trọng Tuấn đã đạt đỉnh với ý kiến của ông ta về Đường Bay Thẳng Kẻ Chỉ Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh Qua Không Phận Lào Và Campuchia (“đường bay thẳng” của Mai Trọng Tuấn là đường thẳng kẻ chỉ bằng thước kẻ tức straight line, còn đường bay thẳng của ngành hàng không là non-stop tức không đáp xuống ghé cảng nào khác trên đường bay), nghĩa là sẽ lợi biết bao cho ngành hàng không nước nhà nếu trên thực tế có đường bay thẳng như kẻ chỉ ấy và bên trong các máy bay có các dây lòng thòng trên trần giống như trên xe bus để hành khách đi máy bay đứng đu bám vào dây do máy bay không có ghế, và mỗi chuyến thay vì có 200 hành khách ngồi ghế như thiết kế của hãng chế tạo máy bay nay sẽ có 600 hành khách đứng níu dây theo thiết kế mà Mai Trọng Tuấn rất có thể đã hoặc ắt rồi sẽ đăng k‎ý tác quyền trên toàn thế giới, hình thành 3 loại hoạt động hàng không dân dụng gồm hàng không, hàng không giá rẻ, và hàng không ba gác.

Ngoài ra, cần nói thêm rằng tác giả của bài viết về “xây dựng tuyến đại lộ” ắt có lẽ đã “chơi xỏ” Mai Trọng Tuấn khi viết đó là “đề xuất táo bạo” chứ không phải vì khâm phục ông ta. Tại sao là chơi xỏ? Vì rằng:

- Ai có đủ quyền để xây dựng con đường đại lộ ấy? Tự tung tự tác tự tiện muốn xây là xây à? Xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của người ta à? Chắc Mai Trọng Tuấn có quyền này sao?

- Ai có đủ tiền để xây dựng con đường đại lộ ấy? Tự tung tự tác tự tiện muốn lấy toàn bộ ngân sách quốc gia để xây cái con đường đại lộ bá láp cho thiên hạ xài chung à? Chắc Mai Trọng Tuấn bỏ tiền túi ra xây sao?

- Ai có đủ điên để xây dựng con đường đại lộ ấy? Tự tung tự tác tự tiện xây một con đường mà chỉ có 30km nằm trên lãnh thổ Việt Nam còn 560km thuộc Lào và 410km thuộc Campuchia để làm giàu cho thiên hạ. Chắc Mai Trọng Tuấn có đủ và có dư sự điên rồ khi mồm eng éc về cái đại lộ vàng này.

Sự học hỏi là điều phải được khuyến khích. Lenin đã có câu nói tuyệt vời nhất cho toàn nhân loại từ khai thiên lập địa cho đến ngày tận thế: “Phải học. Phải học thêm. Học thêm mãi”.

Sự phát biểu là thuộc phạm trù tự do ngôn luận của nội dung nhân quyền mà Hiến pháp Việt Nam khẳng định, tôn trọng, khuyến khích.

Không học hỏi, lại vừa toa rập với một tên tiến sĩ giả danh để thổi phồng một ý kiến dở hơi về “đường bay vàng” vừa bù lu bù loa đòi chính phủ phải tiến hành đo đạc kiểm chứng công khai (trong khi nguyên tắc hàn lâm toàn thế giới là ai đặt vấn đề phải tự tiến hành nghiên cứu, chứng minh, hoàn thành báo cáo theo đúng quy trình hàn lâm theo quy tắc thực hành tốt best practice của hoạt động đặt vấn đề) thì không bao giờ là việc được ngợi ca, được khuyến khích, được tôn trọng, và được cho rằng tuân thủ nghiêm túc lời phán của Lenin.

Nêu vấn đề bá láp bằng biện pháp bá láp, lại phát biểu ra vẻ như bản thân bị xử ép và bị chính phủ phủ nhận đại công thì đâu phải là thực thi quyền tự do ngôn luận mà đang lợi dụng tự do ngôn luận để xúc xiểm chính phủ.

Khi nêu vấn đề mang tính “quốc kế” nhất thiết phải có cái trí, cái tâm, cái tầm. Cả ba hòa quyện vào nhau thành một, nghĩa là phải luôn có tính đến giá trị thực tế của kinh tế – chính trị – an ninh – quốc phòng vì không bao giờ có cái kinh tế đứng lơ lửng lòng thòng giữa không trung như cái đai tòong teeng trên trần xe bus (và trần máy bay của phi công Mai Trọng Tuấn). Trong bài viết sau [3] trên mạng Emotino.com năm 2010 (vào thời điểm có tranh luận nóng tại Quốc Hội Khóa XII về đầu tư đường sắt cao tốc Bắc-Nam) tôi đã nêu trước 4 việc (a) phải xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh, (b) mua sắm vũ khí của Hoa Kỳ, (c) đối phó với Trung Quốc bá quyền, và (d) nguy cơ của các tuyến đường bộ cao tốc đối với an ninh quốc phòng. Nay xin đăng lại một phần để các bạn đọc tham khảo:

Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam

Nói Thật Của Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước

1- Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu: Vấn Nạn Ví Von Đẳng Cấp Thấp

Do bộ môn ngôn ngữ học Tiếng Việt chủ yếu dựa trên các đề mục quen thuộc (như danh từ, tính từ, v.v.) và cao cấp nhưng cực kỳ dễ dàng (như từ vựng học, từ vựng ngữ nghĩa học) của hệ thống văn phạm tiếng nước ngoài, trong khi tránh né sự phân định rạch ròi giữa ngôn ngữ trang nhã học thuật formal và bình dân informal nên yếu điểm thường gặp của rất nhiều người Việt là sử dụng ngôn từ không phù hợp trong văn bản chính quy, phát biểu chính thức, và không còn khả năng phân biệt formalinformal trong sử dụng các ví von khiến các ví dụ không tương thích, bất tương hợp, chẳng ai còn quan tâm đến ngữ cảnh, ngữ nghĩa, đẳng cấp và chất lượng ngôn từ.

Để ủng hộ dự án Tuyến Đướng Sắt Cao Tốc Việt Nam (gọi tắt là TĐSCTVN) có Đại Biểu Quốc Hội ví von rằng đường sắt cao tốc chạy xuyên suốt các tỉnh nhất là Miền Trung nghèo khó sẽ đánh thức các nàng công chúa còn say ngủ, giúp vực dậy nền kinh tế các địa phương này – một kiểu ví von dân dã, non nớt, đầy khinh xuất, có thể dễ dàng dẫn đến các phản bác sau:

- Theo các báo cáo tổng kết hàng năm, tỉnh thành nào cũng có các thành tựu kinh tế, có các thị trấn và các tòa nhà hành chính công quyền nguy nga, được các lãnh đạo Đảng và Chính Phủ đến thăm và chỉ đạo thực hiện các kế sách phát triển kinh tế trong suốt 35 năm qua. Vậy “tiềm lực” nào là nàng công chúa vẫn còn “say ngủ” để được đánh thức? Bộ óc lãnh đạo các địa phương phải chăng vẫn còn bó tay không biết tiềm lực đó là gì, không biết phải làm sao để đánh thức tiềm lực đó, đến độ phải nhờ tiếng động ồn ào của xe lửa cao tốc chạy ào qua địa phương mình để đánh thức các ả công chúa đang sống đời thực vật đó hay sao?

-  Nếu công chúa đang ngủ say đó tên là Du Lịch, e rằng đó là ý kiến quá đỗi thơ ngây và bình dân, chưa kể nó không những xúc phạm đến các đại công ty du lịch từ trung ương đến địa phương – vì lẽ nào 35 năm qua họ vẫn còn bỏ sót, chưa khai thác hết cái đẹp của non sông gấm vóc để đưa lên bản đồ du lịch thế giới – mà lại còn đụng chạm đến những khách hàng tương lai của Dự Án TĐSCTVN, những người bỏ tiền nhiều ra không phải để tàu cao tốc lâu lâu lại dừng ở mỗi địa phương nó “vù” qua, để dân địa phương ào lên, đu theo bán nước suối ướp lạnh, bắp luộc, bánh tráng phơi sương, kẹo chewinggum, v.v. – đó là chưa kể tuyến cao tốc này phải ở cung đường riêng biệt, không bao giờ “ào ạt” chạy xuyên qua nội đô các tỉnh thành để “phát triển kinh tế địa phương”.

- Nơi nào còn có các công chúa đang ngủ say, nơi đó nên lấy đó làm mừng, vì phát triển du lịch vươn đến đâu, sự tàn tạ thiên nhiên đổ ập đến đó. Hãy để các nàng công chúa mang các tên Việt Nam như Nguyễn Thị Du Lịch, Trần Thị Khoáng Sản, hay Lý Thị Lâm Viên được an giấc ngàn thu để con cháu Việt Nam mai sau không mất trắng cảnh quang thiên cổ, đồng thời tránh xa các công chúa lai (vợ của các Hoàng Tử Lai kiểu Harry Potter) như Hoang Thi Golf  và  Le Thi Casino để con cháu Việt Nam hiện nay không bị tước bỏ đất sống, còn tinh thần thì băng hoại.

- Điều cuối cùng song không kém phần quan trọng là ngay cả trong truyện cổ tích, nàng công chúa ngủ giấc vài trăm năm, khi được tên hoàng tử đáng tuổi thằng cháu chắt chít chụt chịt hôn chùn chụt để sống lại, liệu cuộc hôn nhân giữa hai người có tuổi tác cách những ngàn thu ấy có phù hợp chăng, liệu nàng công chúa ấy có thích nghi trước cái mới đầy xa lạ và quái gở đối với nàng không (theo tài liệu về giới qu‎ý tộc Phương Tây thời Trung Cổ thì họ rất ít khi tắm gội, xem “ghét” ở các kẽ tay chân là dấu hiệu có phân bón cho cơ thể khỏe mạnh, còn công chúa thì mặc áo nhiều lớp, cột dây chằng chéo phức tạp, muốn “động phòng” luôn phải có cả tá cung nữ phục dịch giúp cởi bỏ xiêm y trong những vài chục phút khiến phò mã ngủ khò), liệu hơi thở của nàng do nhiều trăm năm không đánh răng và mình đầy bụi bặm có gây ô nhiễm cho cư dân hiện đại không, và nhất là nàng có thực sự muốn bị đánh thức không? Cần lưu ý rằng trong Thánh Kinh Cựu Ước (Genesis 19) có ghi các thiên thần bay vào thị trấn Sodom và Gomorrah giết sạch nam phụ lão ấu, vậy ai chắc rằng nàng công chúa đẹp tựa thiên thần lạ hoắc đang ngủ mê man trong rừng ấy không là ác phụ, và nếu mụ ác tiên của vài thế kỷ trước đã để lại bùa chú cùng phép thuật lại cho nàng, thì khi bị đánh thức, nàng ý có sẽ như Medusa của thần thoại Cổ La-Hy hay như nhân vật trong phim Xác Ướp Ai Cập giết chóc tưng bừng, gây họa cho nhân dân?

Đánh thức Công Chúa Bà Cố Nội đang yên giấc ngàn thu, lột trần cởi truồng Công Chúa Bà Cố Nội cho lõa lồ – mà tiếng Việt cớt nhã không nghiêm túc gọi là “nuy” – dưới tên gọi khai thác tiềm năng là điều báng bổ thiên nhiên, lại còn lạm dụng ý nghĩa của đi tắt đón đầu, e rằng ý tứ dù cho có thật sự vì nước vì dân và xứng tầm quốc sách vĩ đại cũng bị làm hoen ố bởi kiểu cách phát biểu ví von không nghiêm túc của mấy vị Đại biểu Quốc hội đang hứng chí ăn chơi đó.

2- Chính Danh Hai Tiếng Nhu Cầu

Một l‎ý do viện dẫn khác để ủng hộ đầu tư vào Dự Án TĐSCTVN là nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, góp phần phát triển kinh tế, v.v. và v.v. Song, không phải cứ đó là nhu cầu là phải “vì dân” mà đáp ứng, thậm chí 90 triệu người dân Việt có biểu quyết phải xây cho bằng được TĐSCTVN cũng không có nghĩa là Chính Phủ phải răm rắp tuân theo. Ở một đất nước đất hẹp, dân đông, việc phí phạm đất đai để dành riêng cho TĐSCTVN là điều khó thể gọi là chính đáng. Ngoài các nhu cầu vật chất như điện-đầy-đủ, nước-sạch-lành, đường-thông-thoáng, gường-bệnh-dư, thuốc-men-tốt, v.v., còn có các nhu cầu phi-vật-chất như luật-nghiêm-minh, công-chức-hầu-dân, v.v., mà tất cả đều vẫn còn là những nhu cầu trong mơ, thì việc làm ngơ không tập trung đáp ứng các nguyện vọng chính đáng hiện có này của dân, trong khi tập trung lo cho 5 hay 10 năm nữa con cháu Việt Nam có TĐSCTVN để – như lời một đại biểu quốc hội đã mạnh mồm phát biểu – “sáng ăn cơm Hà Nội, chiều ăn cơm Sài Gòn” là việc thiếu nghiêm túc, thiếu trách nhiệm, đáng thương hại, và thiếu cả văn hóa văn minh.

3- Chính Danh Hai Từ Góp Ý

Cái chứng bệnh “Thiếu Formal” (người viết bài này xin tạm sáng tạo ra từ “y học” là …Hypoformalremia tức … Crucial Formal-Lingual Deficiancy Syndrome, hay… Hội Chứng Khiếm Khuyết Nghiêm Trọng Ngôn Ngữ Formal) không những được thể hiện nơi cách dùng từ và kiểu ví von của vài đại biểu quốc hội mà còn nhan nhản ở các mục “góp ý” trên diễn đàn online, nơi có những kẻ chưa bao giờ nhìn thấy bậc thềm của cung điện hàn lâm lại gọi Bà Phạm Chi Lan là “bà già” nên “rụt rè”, không dám ủng hộ dự án TĐSCTVN. Góp ý hô hào ủng hộ việc vung tay vay mượn gánh nặng nợ nần cho một công trình đang không thiết thực khi Việt Nam đang chưa giàu, vẫn sẽ không thiết thực khi Việt Nam đã giàu, thậm chí không bao giờ thiết thực ngay cả lúc Việt Nam nằm trong danh sách đại siêu cường quốc, trong khi bản thân người góp ý chưa chắc đã thuộc hàng ngũ những người dân có đóng thuế thu nhập cá nhân, chỉ cho thấy một dự án lớn đang có nguy cơ chỉ được ủng hộ bởi một số rất ít những người có đầy đủ trình độ tư duy đúng đắn có tầm nhìn đúng, đủ, đầy, và đạt.  

4- Quốc Nạn Dân Trí: Mất Độc Lập, Mất Tự Do, Mất Dân Chủ

Từ cách viện dẫn những con số có được từ các nước khác để minh chứng hùng hồn cho sự thành công sau này của Dự Án TĐSCTVN, chúng ta thấy trí hóa của những người đại diện cho cử tri đã không có sự độc lập, tự do, và dân chủ. Những con số của các nước sở dĩ có được nhờ nhiều yếu tố của Thiên, Địa và Nhân. Họ có bị thù trong, giặc ngoài bủa vây tứ phía như Việt Nam không? Người dân của họ tận tụy, lao động tích cực, lao động hiệu quả, trình độ chuyên môn cao đúng yêu cầu, triệt để tuân thủ luật pháp, có cách hành sử thích hợp văn minh cao nơi công cộng, và thậm chí như người Nhật một lòng một dạ thắt lưng buộc bụng răm rắp tuân theo yêu cầu của Chính phủ ngay cả khi Chính phủ không được chứng minh là đúng. Người Việt Nam có được tất cả những đức tính cùng các điều kiện cần và đủ tương thích cho một môi trường văn minh cao, hiện đại cao, kỹ thuật cao, kỹ luật cao như thế chưa – đó là câu hỏi mà câu trả lời sẽ không bao giờ được nghe thấy do tính tế nhị và lịch sự đầy e ngại và run sợ của vấn đề. Một dự án cỏn con như tuyến cao tốc Trung Lương hay Cầu Cần Thơ còn bị nơi thì dân vô tư gở bỏ rào sắt chắn hai bên, nơi tự do xả rác vấy bẩn ngay từ ngày đầu khánh thành, thì liệu TĐSCTVN xuyên suốt Việt Nam ấy có sẽ bị những người dân có trí hóa chưa cao gở bỏ các thanh ray lấy đi các đinh ốc mà họ tin là được làm bằng kim loại quý hiếm rồi gây ra thảm họa tồi tệ nhất hành tinh hay không, trong khi các chuyến xe hỏa bình thường vẫn bị dân hai bên đường quốc lộ ném đá vỡ kính cửa sổ thường xuyên? Một dự án lớn như TĐSCTVN khó thể được xây dựng như một ưu tiên đặt trên cả việc đầu tư xây dựng các cơ sở vật chất khác và nhất là xây dựng con người Việt Nam phù hợp. Sử dụng quyền dân chủ để tự do nêu các ý kiến chưa chắc của đa số cử tri lại dựa dẫm hoàn toàn vào số liệu vô hồn của nước ngoài thay vì nghiên cứu dày công trong nhiều ngày tháng với kết quả cụ thể được in ấn chỉnh chu thay vì cầm đôi ba tờ giấy đọc thì sao mà độc lập, khi dự án là gánh nặng thực sự của hiện tại và tương lai, có hiệu quả kinh tế mơ hồ trong tương lai, chỉ có hiệu quả thỏa mãn tâm l‎ý trong hiện tại, và không có trách nhiệm cả cá nhân và tập thể rõ nét với tương lai, e rằng đang hủy phá ý nghĩa cao vời của độc lập, tự do, và dân chủ trong tư duy nghiêm túc.

Kết Luận: Vì Dân & Vì Trí

Trong khái niệm vì dân, việc đầu tư cho TĐSCTVN là hoàn toàn đúng đắn; song, chỉ khi người dân Việt còn tồn tại thì việc đầu tư ấy mới có ý nghĩa. Và để bảo vệ hậu duệ Việt Nam được tồn tại, mọi sự đầu tư nên ưu tiên dồn cho an ninh quốc phòng, hiện đại hóa quân đội và xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh. Các khoản vay lớn mà người dân Việt có thể nhất trí cho con cháu ngày sau gánh nợ nên là các khoản vay dành cho hiện đại hóa quân đội, thậm chí ngay cả khi các khoản ấy từ Hoa Kỳ hay bất kỳ cường quốc nào – trừ Trung Quốc – và cho việc mua sắm khí tài quân sự của Hoa Kỳ hay bất kỳ cường quốc nào – trừ Trung Quốc. Đó mới chính là vì dân.

Còn khi trí được đưa ra làm nền tảng cho mọi kế sách, tất cả các tuyến cao tốc đều nên được loại trừ vĩnh viễn khỏi tất cả các kế sách quốc gia của Việt Nam, vì rằng đối với một đất nước triền miên đối phó với nguy cơ gây hấn từ một Trung Quốc bá quyền, việc thiết lập các tuyến cao tốc – kể cả đường bộ – đều cực kỳ nguy hiểm trường hợp có xảy ra xung đột vũ trang, như trường hợp Quốc Xã Hitler đã xua quân thần tốc chiếm các nước Châu Âu nhờ có các tuyến giao thông huyết mạch cao tốc đầy khoa học và thuận tiện của các quốc gia giàu có này. Chưa kể ngay cả khi có “dân trí cao” mà chưa có luật lệ hà khắc đối với vệ sinh dịch tể, an toàn y tế, thì TĐSCTVN sẽ chính là phương tiện giúp lây lan dịch bệnh trên toàn lãnh thổ Việt Nam trong vòng võn vẹn vài tiếng đồng hồ. Sự đe dọa an ninh còn phải tính trong cả trường hợp hành khách đi xe lửa của TĐSCTVN không bị kiểm tra khám xét gắt gao về giấy tờ và hành lý như đối với phương tiện máy bay của ngành hàng không, nên không loại trừ sự tận dụng của bọn phá hoại hay bọn khủng bố. Chỉ cần trí để nhìn vấn đề thật toàn cục, người ta dễ dàng nhận ra rằng cái Việt Nam cần để có TĐSCTVN không phải là tiền mà là dân trí. Chưa có dân trí cực cao đồng bộ, chưa thể động đến những vấn đề kỹ thuật cao nào có tính xuyên suốt lãnh thổ quốc gia một cách vật chất cụ thể được (materially materialized throughout the country).

Luôn định vị được quốc gia đang ở đâu trên bản đồ an toàn an ninh quốc phòng, không pha loãng với hoặc lẫn lộn với an toàn an ninh chính trị cùng an ninh kinh tế, chúng ta mới nhận ra được con đường đúng nhất phục vụ cho an ninh kinh tế trên nền an ninh chính trị, vốn thuộc các phạm trù hoàn toàn khác với an ninh quốc phòng.

*********

 

Quốc hội Việt Nam đang cố gắng phân bổ ngân sách để xây dựng Đường Tuần Tra Biên Giới suốt chiều dài đất nước, con đường mà ngay Canada là đất nước có địa hình thuộc loại phức tạp nhất thế giới với vô số uốn khúc, ghềnh thác, sông ngòi, núi cao, vực sâu, cực kỳ kinh khủng và hiểm trở vẫn xây dựng đường tuần tra biến giới để thường xuyên cảnh giới và cảnh giác với nước bạn đồng minh hữu hảo Hoa Kỳ.

Phát biểu vô tư vô tâm về đại lộ vàng, phải chăng Mai Trọng Tuấn là con ngựa thành Troy ước ao có được con đường ấy để Việt Nam trở nên dễ bị tổn thương từ kẻ thù bên kia biên giới, hoặc phải chăng Mai Trọng Tuấn vẫn mãi là đứa trẻ tửng tửng teen-teen [4]?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Nguyễn Quỳnh. 29-9-2014. Tác Giả Đường Bay Thẳng Đề Xuất Làm Đại Lộ Nối 3 Nước Đông Dương.  http://vov.vn/kinh-te/tac-gia-duong-bay-thang-de-xuat-lam-dai-lo-noi-3-nuoc-dong-duong-354711.vov

[2] Thanh Thúy–Phú Thanh. 12-9-2013. Những Đề Xuất Lạ Đời Của Ông Mai Trọng Tuấn. http://giaothongvantai.com.vn/giao-thong-phat-trien/dien-dan/201309/nhung-de-xuat-la-doi-cua-ong-mai-trong-tuan-341259/

[3] Hoàng Hữu Phước. 12-6-2010. Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam. http://www.emotino.com/bai-viet/18663/cong-chua-ba-co-noi-di-tat-don-dau-duong-sat-cao-toc-viet-nam. Trang mạng emotino.com đã ngưng hoạt động từ Qu‎ý II năm 2014. Trích đoạn trong bài này là toàn bộ thân bài và một phần của kết luận.

[4] Hoàng Hữu Phước. 06-10-2014. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/06/tuoi-teen-khong-bao-gio-co-that/

Bọn Xin Đểu Cổ Cồn Trắng

Mạo Uy Danh Quốc Hội

(Kính mời xem bài viết này có hình minh họa tại  http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/11/bon-xin-deu-co-con-trang/ do blog.com lại bị trục trặc kỹ thuật ở khâu tải hình)

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Trong bài Thực Quyền Và Thực Uy [1] tôi đã đặt vấn đề thực chất của thực quyền và thực uy mà một nghị sĩ Quốc hội Việt Nam bắt buộc phải có theo Hiến định “Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, phải được Quốc Hội trao để nghị sĩ phải có, và phải do chính nghị sĩ ra tay tích cực dành lấy, tích cực tạo nên, tích cực đấu tranh sống còn để phải có cho bằng được để hành sử quyền uy của nghị sĩ đối với các quyền năng tín thác hiến định. Điều này đồng nghĩa với việc các động thái, hành vi, hành động ngụy tạo thông tin, tự tung tự tác sử dụng thông tin rác, qua các phương tiện chính quy chính thức của các cơ quan nhà nước hay tư nhân của giới báo chí – truyền thông để trực tiếp hay gián tiếp chống lại hoặc trực tiếp hay gián tiếp quấy rầy cá nhân một nghị sĩ phải bị trừng trị ở mức độ cao nhất của luật pháp.

Mới đây tôi bị quấy rầy bởi một tên ăn mày xin đểu cổ cồn trắng. Đặc điểm của “cổ cồn trắng” là có tên cơ quan và có văn bản dù chưa xác định văn bản ấy là giả hay thật; song, trước khi nói đến cái giả-như-thật ấy, tôi xin đăng nguyên văn bức thư sau mà nội dung sẽ tự giải thích sự việc liên quan đến một tên ăn mày không rõ màu sắc của cổ cồn:

*********

Ngày 19-01-2013

Kính gởi Chủ Nhiệm Ủy Ban Về Các Vấn Đề Xã Hội Của Quốc Hội

Đồng kính gởi: Chủ Tịch Quốc Hội

                         Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp Hồ Chí Minh

                         Tổ Đại biểu Số 1

Đồng chuyển đến: Cô Lại Thu Trúc, Công ty Doanh Thương Mỹ Á

Kính thưa Ban Chủ Nhiệm:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, kính lời chào trân trọng đến ban Chủ Nhiệm và kính phản ảnh nội dung sau:

Nguyên vào lúc 11g56 ngày 15-01-2013 tôi có nhận cuộc gọi từ số điện thoại 0913948822 của người tự xung là ở Quốc hội gọi đến để đề nghị tôi đóng góp ủng hộ chương trình từ thiện của Quốc hội. tôi có trả lời là tôi sẽ trình xin ý kiến của Hội Đồng Quản Trị Công Ty rồi sẽ trả lời sau.

Vào lúc 15g18 ngày Thứ Sáu 18-01-2013, tôi nhận được tin nhắn sau cũng từ số phone trên vào phone của tôi với nội dung:

 

Tôi có trả lời ngay bằng tin nhắn là rất tiếc không hỗ trợ được vì không được sự cho phép của Hội đồng Quản trị Công ty. Sáng nay, lúc 08g40 Thứ Bảy 19-01-2013, tôi nhận được tin nhắn sau cũng từ số điện thoại trên với nội dung sau:

 

Với sự trân trọng Ủy Ban, tôi có trả lời ngay bằng tin nhắn rằng do là công ty cổ phần nên mọi thứ phải xin ý kiến của Hội đồng Quản trị chứ không như công ty trách nhiệm hữu hạn.  Nhưng người tự xưng là của Ủy Ban này lại “đốp chát” với nội dung sau qua tin nhắn gởi từ cùng số điện thoại lúc 09g18 ngày Thứ Bảy 19-01-2013:

 

Sau khi nhận tin nhắn trên, tôi quyết định không gởi thêm bất kỳ câu trả lời nào khác, và thay vào đó viết thư này kính gởi Ban Chủ Nhiệm.

Tôi kính đề nghị Ban Chủ Nhiệm

1) Cho kiểm tra xem có thật là Ủy Ban đang có một nhân viên tên Nam đang sử dụng điện thoại số 0913948822 hay không. Nếu đúng đây là người của Ủy ban, tôi kính mong hoặc Ủy Ban có biện pháp xử lý thích hợp theo đúng tinh thần nghị quyết TW4 để những công chức thiếu phẩm chức đạo đức như vậy không có thêm cơ hội nhũng nhiễu các doanh nghiệp khác tạo dư luận rất xấu trong cộng đồng doanh nghiệp đối với hệ thống công chức. Ngoài ra, tôi yêu cầu người tên Nam này cần phải có lời xin lỗi chính thức bằng văn bản đến tôi vì đã có thái độ giao tiếp kiểu bất nhã với tôi.

2) Nếu hắn ta là kẻ giả mạo, tôi kính đề nghị Ban Chủ Nhiệm hoặc trực tiếp báo cho cơ quan an ninh điều tra làm rõ, hoặc cho ý kiến để tôi thực hiện việc này. Tôi đồng thời sẽ nêu vụ việc lừa bịp này lên blog để cảnh báo cho cộng đồng doanh nghiệp và để giữ gìn uy tín của Ủy Ban Về Các Vấn Đề Xã Hội Của Quốc Hội.

Xin nói thêm là theo báo cáo của Cô Lại Thu Trúc, nhân viên ở công ty tôi, thì từ khi tôi trở thành Đại Biểu Quốc Hội Cô cũng đã nhận được điện thoại của một số người tự xưng là người của các Cơ Quan Nhà Nước, Quốc Hội, yêu cầu chúng tôi hỗ trợ kinh phí tổ chức ca hát từ thiện hoặc tổ chức lễ hội, v.v.

Kèm theo email này, tôi kính gởi kèm bản Word Document có ảnh chụp nội dung các tin nhắn hiện trên màn ảnh điện thoại của tôi để làm bằng chứng.

Kính biết ơn sự giúp đỡ của Ban Chủ Nhiệm.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh

Ủy viên Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Khóa XIII

*********

Tôi đã nhận được thư trả lời của Bà Trương Thị Mai khẳng định cơ quan không có ai tên như vậy, sử dụng số điện thoại như vậy, và nhất là cơ quan không có cái chương trình như vậy; đồng thời đề nghị tôi báo cho bên an ninh.

Rút kinh nghiệm từ sự việc trên, tôi biết tôi phải làm gi khi nhận được sự tiếp cận kiểu mất dạy như của tên tự xưng là Nam ở trên: không báo cho cơ quan bị nêu danh mà đưa ngay cảnh báo lên blog rồi yêu cầu nhân viên của tôi gởi đường link đến bất kỳ cơ quan nào mà nhân viên ấy nghĩ là thích hợp.

Trở về sự việc “mới nhất”, tôi vừa nhận được các văn bản in trên giấy có màu sắc rất đồng bóng teen teen tửng tửng [2] mà do tôi là người yêu ngôn ngữ formal tức trang trọng hàn lâm, luôn thể hiện phong cách trang trọng hàn lâm nên ngay khi nhận được tôi đã định cho ngay vào nơi cùng đẳng cấp với nó là cái sọt rác. Nhưng do luôn lấy cái lợi ích chung làm trọng, tôi buộc phải giữ lại để cảnh báo các doanh nghiệp để ngay khi nhận được các thư mời gọi tương tự có danh “Quốc hội”, xin hãy lập tức chuyển đến tôi qua đường bưu điện (đến Văn Phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, số  2bis Lê Duẩn, Thành phố Hồ Chí Minh):

 

Chưa kể kẻ tên Khải có tên nêu trong các trang màu hồng trên đã liên tục quấy rầy tôi và nhân viên của tôi bằng cách gọi điện và gởi tin nhắn liên tục với số điện thoại của y là 0906254998 mỗi khi nhận được trả lời lịch sự từ chối của chúng tôi – xin lưu ý bọn xin đểu này luôn xem tiền của người khác như rác rất dễ xuất chi bố thí cho chúng ắt do thói quen bươi bới ở đống rác là thấy ngay rác vậy:

 

Tôi khẳng định: các cơ quan của Quốc Hội không bao giờ đi xin tiền các doanh nghiệp.

Tôi khẳng định Thường Vụ Quốc Hội không bao giờ có “kế hoạch” in lịch tặng mỗi nghị sĩ 10 quyển cũng như không bao giờ để bị nhân dân đàm tiếu về sự hoang phí nhất là hoang phí trên cơ sở đi ăn xin hoặc gây áp lực buộc doanh nghiệp phải đóng góp.

Tôi khẳng định cơ quan hay doanh nghiệp – dù nhà nước, quốc doanh, hay tư nhân không bao giờ tự bôi tro trát trấu vào mặt mình qua việc sử dụng những tên “cò mồi ăn hoa hồng” đẳng cấp thấp như anh chàng xưng tên Khải trong công văn nêu trên vì nếu sử dụng đám “ăn mày cổ cồn trắng xin đểu giống bọn lưu manh” sẽ trở thành cơ quan/doanh nghiệp thuộc hạng vất đi.

Hãy biết kinh sợ và kính sợ quyền uy của Nghị sĩ Việt Nam. Không có quyền uy ấy, Nghị sĩ chỉ là kẻ bất tài vô dụng, không bảo vệ được đất nước, bảo vệ được nhân dân, và bảo vệ được chế độ – mà tất cả đồng nghĩa với việc bảo vệ chân lý và công lý.

Hoàng Hữu Phước, Nghị sĩ Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 26-11-2013. Về Thực Quyền, Thực Uy. Báo Đại Biểu Nhân Dân, số ra ngày 26-11-2013, trang 3 và trên trang điện tử http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=299444 , hoặc tại http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/26/ve-thuc-quyen-thuc-uy-2/ hay http://hhphuoc.blog.com/?p=257

[2] Hoàng Hữu Phước. 06-10-2014. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật – Nhìn Ngón Chân Cái. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/06/tuoi-teen-khong-bao-gio-co-that/

Thơ Cùng Bạn Hữu Trên Không Gian Mạng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Bài “Thơ Ca và Tâm Thế Nhà Lãnh Đạo Doanh Nghiệp[1] tôi viết trên Emotino có dẫn chứng nhiều ví dụ từ kinh nghiệm của tôi qua nhiều công việc lãnh đạo tại các công ty khác nhau. Nay nhân bài viết mới đây [2] có nhắc đến Luật sư Vũ Ngọc Dũng, CEO của Bắc Việt Luật, tôi nhớ đến có lần tôi đã xướng họa thơ ca với vị luật sư này, dù thực ra cho đến tận hôm nay tôi vẫn chưa từng gặp mặt vị ấy để bắt tay, trò chuyện, bên chén rượu, chung trà.

Tôi xin lập lại dưới đây nội dung những trao đổi giữa chúng tôi với nhau trên Emotino; đặc biệt, nếu bài thơ của Luật sư Vũ Ngọc Dũng [3] tặng tôi đã khơi nguồn cảm hứng cho tôi họa lại bằng một bài thơ khác cùng tên [4], thì bài thơ này của tôi lại tạo nguồn sáng tạo cho viên trợ l‎ý của tôi là Cô Lại Thu Trúc viết nên một bài thơ khác cũng có cùng tên [5] như một chuỗi cảm tác dây chuyền, để tặng các bạn trong thế giới mạng.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tê

Ghi chú:

[1]   Hoàng Hữu Phước. 11-4-2012. Thơ Ca và Tâm Thế Nhà Lãnh Đạo Doanh Nghiệp. Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014. Bài viết này vẫn còn đang được lưu tại  http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/2012/04/11/th%C6%A1-ca-va-tam-th%E1%BA%BF-nha-lanh-d%E1%BA%A1o-doanh-nghi%E1%BB%87p/ 

[2]  Hoàng Hữu Phước. 24-9-2014. Tôi Và Các Luật Sư. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/24/toi-va-cac-luat-su/

[3]  Vũ Ngọc Dũng. 11-5-2012. Chân Và Đá. http://www.emotino.com/bai-viet/19597/bai-tho-chan-va-da. Trang Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014. .

[4]  Hoàng Hữu Phước. 29-5-2012. Nhân Đọc Bài Thơ Chân Và Đá Của Luật Sư Vũ Ngọc Dũng. http://www.emotino.com/bai-viet/19612/nhan-doc-bai-tho-chan-va-da-cua-luat-su-vu-ngoc-dung. Trang Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014.

[5]  Lại Thu Trúc. 03-6-2012. Nhân Đọc Bài Thơ Chân Và Đá Của Ông Hoàng Hữu Phước. http://www.emotino.com/bai-viet/19613/nhan-doc-tho-chanda-cua-ong-hoang-huu-phuoc. Trang Emotino hiện đã đóng cửa trong Qu‎ý II năm 2014.

Đứng Trên Đỉnh Núi

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Khi có tin tôi tự ra ứng cử Quốc hội năm 2011 và đắc cử (tiếng Việt sau 1975 gọi là “trúng cử”), Tổng Giám Đốc của Công ty Win-Win có viết một bài chúc mừng tôi trên trang mạng Emotino.com, nói rằng tôi “đứng trên đỉnh núi”. Người khác mà đọc bài ấy rất có thể cho rằng vị CEO ấy ám chỉ tôi đã trở thành thành viên của cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam. Nhưng tôi nghĩ khác. Sự sâu sắc về ý nghĩa của việc đứng trên đỉnh núi hàm chứa ẩn ý của sự cô đơn đối mặt với cuồng phong lạnh giá quất rát mặt thịt da, ánh nắng gắt gay uốn xoắn cong queo từng lọn tóc, chân trần rách toát trên đá sắc trợt phủ rêu phong, lòng bỏ lại sau lưng những gì còn dang dở dưới triền núi thấp. Tất nhiên, đó chỉ là điều tôi nghĩ đến trong lúc thư nhàn, chứ thật tình thì ngay khi đọc nhóm từ đứng trên đỉnh núi, tôi chỉ nhớ đến Không Lộ Thiền Sư và đã viết ngay bài sau để đăng lên Emotino với cảm hứng thơ ca kính đáp tặng người đã có lòng tốt chúc mừng: 

*********

Hoàng Hữu Phước, MIB

Emotino 04-6-2011

Có hai hình ảnh “đứng trên đỉnh núi” đã để lại trong tôi hai cảm nhận đối nghịch nhau: một tích cực, và một ở về phía ngược lại.

Với Không Lộ Thiền Sư, đứng trên đỉnh núi hét lên một tiếng làm lạnh cả bầu trời, lại là một lời hùng tráng, thâm thúy, ung dung tự tại, trong bài kệ Ngôn Hoài:

    Trạch đắc long xà địa khả cư,
Dã tình chung nhật lạc vô dư.
Hữu thời trực thướng cô phong đảnh,
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.

Bản dịch của Thục Điểu Ngô Tất Tố:

    Lựa nơi rồng rắn đất ưa người,

    Cả buổi tình quê những mảng vui.

    Có lúc thẳng lên đầu núi thẳm,

    Một hơi sáo miệng, lạnh bầu trời.

Bản dịch của Lăng Tần Hoàng Hữu Phước:

    Địa rắn thế rồng cuộc bình an

    Thiên nhiên tận hưởng thú thế gian.

    Đỉnh núi xông pha mình cô lẻ,

    Thét vang trời đất hóa băng hàn

Còn với một nhà sư khác tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều năm trước ông đã hào hứng kể tôi nghe kế hoạch vĩ đại của ông đối với ngôi chùa ông đang trụ trì, và tổng chi phí khổng lồ dự kiến dành cho dự án kiến trúc đồ sộ ấy. Ông nói rằng sẽ cho phá chùa và xây lại theo bản vẽ ông chìa ra cho tôi xem, đó là một kiến trúc kỳ quái giống núi non hiểm trở. Ông nói ông sẽ mỗi ngày lên đứng trên đỉnh núi đó – tức tầng cao nhất của chùa – và sẽ thành một vị tiên, đơn giản vì núi là sơn, người là nhân, mà theo chữ Hán thì chữ nhân viết đè phía trên chữ sơn thành chữ tiên. Tôi ngậm ngùi ra về, không quay lại hào phóng tài trợ cho công trình thần tiên ấy. Sau đó vài năm, khi trở lại tôi thấy ngôi chùa giản dị thanh thoát ngày xưa đã thành một kiến trúc kỳ quái với đầy núi non xám xịt xi măng bê tông cốt thép, lắm hang động xịt xám cốt thép bê tông, lởm chởm thạch nhủ, nhiều tượng thần tiên và linh thú to lớn bằng cốt sắt xi măng sơn nhiều màu sắc rực rỡ chói chang đồng bóng như các cánh buồm của những con thuyền nơi Thung Lũng Tình Yêu hay Hồ Than Thở ở Đà Lạt, lối đi chật chội tối đen, ẩm ướt, ẩm thấp, bốc mùi ẩm mốc, v.v. Tôi băn khoăn không rõ nhânngười, nhân không phải là nhà sư, và người tu hành ắt phải ở cấp vượt lên cao hơn người, thì liệu nhà sư đứng trên đỉnh núi hoặc cái người-cao-hơn-người mà đứng trên núi, thì có được thành tiên chăng, hay lại thành cái gì khác, chẳng hạn như đại tiên ngang hàng với Thiên Sứ Tổng Quản Thiên Thần, tức cái vị cưỡi ngựa đâm trường thương vào quái thú rồng trong các bức tranh của các họa sĩ tài danh tôn giáo thời Phục Hưng, hay là ngang hàng với thiên thần ác quỷ gọi tắt là thiên quỷ hay ác thần giống trong phim Legion từng được chiếu tại các cinema hoành tráng ở Việt Nam năm 2010? Song, ắt vị sư trụ trì đã toại nguyện vì ông đã có sơn và ắt hài lòng tin tưởng rằng mình đã thành tiên theo chiết tự chữ Hán của ông, một vị sư trụ trì chùa thờ cả trăm vị Phật, La Hán, thần tiên, linh thú rồng rùa phượng hạc; hoặc đã thành đại tiên theo lý sự Hán-Việt của tôi, một Phật tử tu tại gia chỉ thờ mỗi một Phật Bà Quan Âm (do yêu kính sự xăng xái luôn đứng để sẵn sàng chạy đi cứu người chứ không ngồi yên nhắm mắt thiền ung dung hoặc cười khoái trá toét toe như các Phật Ông) và ghét đến chùa chiền.

 

Tôi không sao có được cái thần khí đứng trên đỉnh núi của Không Lộ Thiền Sư, và cũng không màng đến cái tham vọng đứng trên đỉnh núi để thành bậc thần tiên như vị sư trụ trì nọ. Song, tôi hiểu rằng cuộc đời như con đường khúc khuỷu gập ghềnh mà mỗi người đều nên cố gắng dấn thân, tiến bước, không chỉ để chứng minh bản thân đã từng một lần tồn tại trên đời mà còn vì bổn phận đối với xã hội, nhân quần; và rằng sẽ không có đỉnh cao nào để mỗi người ngừng lại đứng trên đỉnh núi, mà chỉ có những bờ dốc bên này để người ta cố gắng rướn lên, cùng những sườn thoai thoải phía bên kia để người ta nỗ lực ghìm chậm lại bước chân trước khi ra sức rướn lên dốc đồi khác ở khúc quanh trùng điệp kế tiếp.

 

Cuộc sống là tiến trình nổ lực không ngừng nghỉ, và hiểu biết được điều đơn giản này chính là niềm hạnh phúc lớn lao miên viễn vậy.

 

Nam Mô A-di-đà Phật. 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế, Pháp danh An Thiện, Bút hiệu Lăng Tần

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Vừa mới đây một bạn báo tôi biết báo Tuổi Trẻ tuần trước có đăng một bài vớ vẩn của một nhà báo vớ vẩn ngợi ca vớ vẩn một quyển sách teen teen vớ vẩn về teen teen vớ vẩn của một nhà văn vớ vẩn có cốt chuyện vớ vẩn về một nhân vật chính vớ vẩn có những băn khoăn vớ vẩn mong muốn vớ vẩn rằng thầy giáo nên teen teen vớ vẩn, trong khi bạn này đã đọc bài viết của tôi về teen-teen cách nay nửa thập niên và gợi ý rằng tôi nên làm gì đó để giúp báo Tuổi Trẻ chấn chỉnh lại cách tung hứng tung hê. Nhận thấy ý kiến của bạn ấy đúng ở chỗ nhất thiết cần cho Báo Tuổi Trẻ biết phải cẩn trọng và trách nhiệm đối với từng mẫu tin một, nhất là phải chứng tỏ tư duy của báo phải ở bậc cao, thấu thị, chứ Tuổi Trẻ mà tưởng hễ tuổi trẻ thì đó là teen teen thì Tuổi Trẻ sai hoàn toàn, bậy hoàn toàn, ngây thơ khờ dại hoàn toàn, hoàn toàn không ở tầng lớp thượng đẳng, và có tội lớn với cả dân tộc giống nòi; tôi xin đăng lại bài viết cũ sau về Tuổi Teen. Nếu nghi ngờ giá trị biện luận của bài này, báo Tuổi Trẻ nên bỏ ra vài chục ngàn USD thỉnh một nhà phân tâm học Mỹ bất kỳ nào đấy để đưa nội dung bài này cho vị ấy xem để nghe vị ấy khẳng định xem tôi viết có chính xác hay không về cái mà tôi gọi là vấn nạn teen.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

*********

Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật

- Nhìn Ngón Chân Cái -

30-12-2009

Đối với người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng, tuổi teen không bao giờ có thật.

Tôi cùng vợ ngày nọ đến một siêu thị điện máy trên đường Cách Mạng Tháng Tám, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh. Vừa tắp xe vào lề đường, tôi thấy một cặp vợ chồng trẻ cũng vừa phóng ào xe lên lề nhủi ngay vô chỗ trống nhỏ nhoi trước đầu xe tôi như để tranh chỗ gởi xe với tôi hoặc do sợ tôi sẽ mua mất hàng khuyến mãi nào đó bên trong nếu vào trước họ năm giây. Người chồng trẻ măng, cao gầy, trắng trẻo, đeo kính trắng, miệng ngậm một chiếc tăm chắc vừa ăn sáng xong ở đâu đó và muốn khoe với mọi người rằng này-nhé-ta-vừa-có-cái-đút-vào-cái-mồm-to-này-đấy [1], nhảy xuống xe, chạy nhanh đến cầu thang máy cuốn (escalator) nhảy hai bậc một rồi đứng áng ngữ trên đầu thang, ngây người cứng đơ như phỗng, chỉ khác phỗng là đầu của y có khả năng quay qua quay lại được trên chiếc cần cổ đủ rộng để nuốt cái gì đấy mà y đã chứng minh vừa đút lọt vào mồm, ắt để xác định vị trí hàng khuyến mãi nào đấy đang ở cái hóc bà tó nào; bỏ mặc người vợ trẻ măng, cao gầy, trắng trẻo tương tự – nhưng không ngậm tăm và không đep kính cận – cáng đáng việc đem xe vào khu gởi. Và hai vợ chồng “nhiễm hội chứng teen” này có một thiên thần tuyệt đẹp mà người vợ đã vô tư đặt xuống đất vội vàng để vàng vội chạy xe vào bãi tranh với lão tiền bối Lăng Tần. Vì không có đôi cánh bồ câu, cậu bé thiên thần chập chững tiến đến bậc cầu thang máy và được thang cuốn lên. Tôi hét lên kêu anh chồng: “Coi chừng em bé kìa!”. Anh ta nhìn xuống đứa con đang từ từ lên cao tiến đến với Bố thân thương, rồi anh nhe răng cười điệu nghệ hết sức vì chiếc tăm xỉa răng vẫn không rơi khỏi mồm anh, rồi anh tiếp tục nhìn quanh định vị hàng hóa, và rồi… thấy tôi hay nói mà chẳng làm gì sất, vợ tôi cuống quýt‎ chạy bay lên cầu thang, tiếng guốc gỗ kêu lộp cộp – may mà nàng không đi guốc cao gót chứ không thì đã có chuyện rắc lông ngỗng theo Sử Việt hoặc rắc bánh mì theo chuyện ngụ ngôn Pháp hay Đan Mạch rồi – cuối cùng kịp bế bổng thiên thần lên trước khi thiên thần bị máy cuốn kẹt hoặc té lăn xuống từ trên bậc thang cao bốn mét chứ đừng hòng lên được với Bố phỗng. Thấy vợ tôi bế bé trai đến, y nhe răng cười với con, bẹo gò má của con, chứ không thèm đón lấy thiên thần từ tay vợ tôi, đợi vợ y lên đến nơi là mắng như tát nước bằng tiếng Việt Nam rằng thì là mà sao thị ta là mẹ kiểu gì mà bê bối không biết trông con. Người vợ hiền vừa nhận lại đứa con từ tay vợ tôi vừa thổn thức thỏ thẻ thổn thển thở rống họng đốp chát như chùm nho uất hận của John Steinbeck (The Grapes of Wrath). Không một lời cảm ơn nào được vợ tôi nghe thấy từ hai kẻ người và chuột – cũng của John Steinbeck (Of Mice and Men) – mà người là “thằng” chồng – do nó như bậc trưởng thượng nguyền rủa vợ nó – và chuột là “con” vợ – do dám gặm nhấm vào sự dạy bảo của đức lang quân mà thị đã kết tóc xe tơ, đẹp duyên Tần Tấn, hoan lạc nghĩa phu thê những trăm năm hạnh phúc.

Trên thế giới chỉ có hai lớp người có thể bị bắt gặp khi đứng – hoặc ngồi – tập trung cúi nhìn ngón chân cái của chính mình: người già yếu bị tuổi tác và bịnh tật của tuổi già hành hạ làm giảm đi sự minh mẫn, và bịnh nhân tâm thần.

Trong tuyển tập 100 bài thập-tứ-hàng-thi (tức thể loại thơ sonnet mười-bốn-dòng-thơ) của William Shakespeare, có bài The Seven Ages of Men (Bảy Giai Đoạn Của Đời Người) mà vào những năm 1980 tôi đã tự chọn lọc ra để dùng làm bài tập đánh đố các sinh viên của tôi tại những lớp nào tôi có giờ dạy đầu tiên, bảo các em hãy đề nghị những từ tiếng Anh thích hợp gọi tên cho mỗi một giai đoạn. Tôi, người giảng viên 24 tuổi, đã triết l‎ý với học trò rằng chỉ có giai đoạn thứ bảy tức lão niên mới là giai đoạn duy nhất có thật, giai đoạn mà người ta tự thấy mình đúng là đã quá già, đang trong giai đoạn cuối của chu kỳ sinh-lão để bước qua ranh giới bịnh-tử mong manh, sự lao tới trước đã bị triệt tiêu, và tầm nhìn xa càng lúc càng bị giới hạn đến khi sức khỏe không còn, khiến cái nhìn chỉ còn tới giới hạn không xa hơn vị trí nơi bàn chân đang đặt để lên trên là bao.

Mỗi sáng khi thức giấc và mở mắt, người ta thấy ngay nóc mùng, bốn bức tường, cửa phòng vệ sinh, cửa tủ, cửa ra vào – tức những khoảng cách từ 1 mét trở lên, tùy diện tích căn phòng. Khi bước chân ra khỏi nhà, người ta thấy xa hơn: từ đầu đường góc phố cách đó mười mét hay trăm mét, đến chiếc máy bay cách ngàn cây số trên đầu. Đó là người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng: luôn nhìn ra xa, thấy cảnh xa, đi hoặc chạy chậm hoặc nhanh đến đích đàng xa ấy – để khỏi trể giờ học hay muộn giờ làm việc.

Lao tới trước chính là hành động duy nhất đúng của cuộc sống đích thực. Làm gì có chuyện đứng khựng lại giữa thinh không! Thời xửa thời xưa, chúng tôi ai cũng y như nhau vì theo lẽ tự nhiên: nhìn tới trước, và bắt chước để trở nên đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm. Bước chân vào lớp đầu trung học là nhìn thấy ngay viễn cảnh của 7 năm trước mắt (từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhất tức là từ lớp 6 đến lớp 12) với các anh chị học lớp 12 đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm,

 

và thấy luôn cả kỳ thi Tú Tài quan trọng, cam go, cao cấp, học mười hai môn là thi đủ mười hai môn, với cả hai sinh ngữ (ngoại ngữ 1 và 2, thường là Anh Văn và Pháp Văn), nhưng chúng tôi không chút căng thẳng, không biết “stress” là gì, không nghe đến “khủng hoảng thần kinh”, chớ nghe đến “học hành căng thẳng”, chớ có giờ “phụ đạo”, v.v., nhờ luôn sống khỏe mạnh lành lặn: luôn nhìn phía trước, thấy cảnh ở xa và chuẩn bị hành trang dấn bước đi đến hoặc lao đến nơi xa ấy.

 

Nhờ vậy, các cậu các cô bé lớp 6 ai cũng học tư cách đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm, của các anh chị lớp 9; còn các anh chị lớp 9 ngắm nghía các anh chị lớp 12, những người trước đó khi bước chân vào lớp 10 đã nhìn thấy ngay viễn cảnh có các anh chị sinh viên đại học miệt mài học tập, tư cách đĩnh đạc, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm, nên cũng đã làm theo. Còn các anh chị sinh viên khi bước chân vào giảng đường đã thấy ngay viễn cảnh mái ấm gia đình hạnh phúc cá nhân qua hình ảnh các giáo sư thành danh trong học vị, nghề nghiệp, sự nghiệp, gia đình nên cũng đã học hành miệt mài hơn, tư cách công dân đĩnh đạc, tự tin, đường hoàng, nghiêm túc, trách nhiệm, nhắm đến học vị, nghề nghiệp, sự nghiệp, mái ấm gia đình, hạnh phúc cá nhân ngay trong tầm với.

 

Ai cũng sợ bị gọi là trẻ con hỉ mũi chưa sạch tức tuổi teen sống bám gia đình chưa thuộc đẳng cấp trưởng thành. Không ai dừng lại. Ai cũng muốn chứng tỏ ta ở cấp cao hơn. Một giai đoạn của đời người do đó khi đến chỉ mang ý nghĩa tương đương cái bề mặt của khoảnh đất ngay dưới chân một vận động viên đang khom người sẵn sàng tì xuống để rướn lên lao tới trước ngay khi nghe tiếng súng trọng tài, và cũng là thời gian chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo, chứ bản thân giai đoạn không bao giờ – và không thể – là để sống cho một trải nghiệm xuyên suốt số lượng năm tháng cơ học mà người ta gán cho mỗi giai đoạn của đời người (thí dụ như tuổi teen là từ 13 đến 19 chẳng hạn).

 

Vận động viên nào sau tiếng súng lịnh vẫn cúi nhìn mặt đất tự hào mình đang ngự trị ngay tại sân vận động hoành tráng cấp quốc tế, tận hưởng cái khoái lạc từ khung cảnh công trình vĩ đại đang có trực tiếp truyền hình cho tỷ tỷ người theo dõi, vận động viên ấy sẽ vĩnh viễn chôn vùi tên tuổi cùng đẳng cấp vận động viên, trở thành đối tượng của sự nhạo báng, và bị xóa tên khỏi danh sách vận động viên cho kỳ thế vận kế tiếp. Người nào cúi nhìn mặt đất tự hào mình đang ở tuổi teen xinh đẹp, tập trung vui chơi giữa cuộc đời hoa lệ, tận hưởng cái lạc thú hoa mộng của tuổi teen, người ấy sẽ vĩnh viễn chôn vùi hai chữ trưởng thành, không thể có tên trong danh sách những người thành đạt của giai đoạn kế tiếp.

 

Cuộc sống đích thực của người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng là vậy đấy: luôn lao tới trước, không ngưng nghĩ. Một hài nhi không bao giờ biết nhìn chính mình rồi phán bằng tiếng Việt hay tiếng Anh hay một thứ tiếng nào khác khẳng định chắc nịch rằng “Ta đang ở lứa tuổi thuộc thủa nằm nôi”. Một đứa bé chạy nhảy phá phách tưng bừng khi bị Mẹ Cha mắng rầy, có thể chống chế rằng “Con có phải con nít đâu!”, ý phủ nhận thời thơ ấu. Khi vào trung học, các cô cậu muốn có tình yêu nam nữ mộng mơ giống các anh chị trưởng thành nên bắt chước học đòi tề chỉnh, đĩnh đạc như “người lớn”, đường hoàng, nghiêm túc, chứ không ai nhận ra mình đang ở tuổi teen hãy còn trẻ người non dạ, không ai muốn nghĩ đến cái chữ tuổi teen đầy tai họa vì luôn gắn bó mật thiết với lời rầy ra “nhỏ như hạt mít mà bày đặt yêu đương” của người lớn (như mẹ/cha, thầy/cô, và kinh khủng hơn là…thầy tổng giám thị với chiếc roi mây dài thòn cắp sau đôi mông bự chà bá). Vì vậy, trước đây chúng tôi thường thấy mình và bạn bè mình toàn là những “cặp tình nhân” thật dễ thương tuy học lớp 9 nhưng lịch sự, chững chạc, với “cậu” ở nhà thường lén lấy dao cạo của Bố miệt mài cạo lớp lông măng quanh mép vì nghe đồn nếu thấy mùi dao cạo là lông măng sẽ biến thành ria đen sậm rậm của đấng “đàn ông”, còn “cô” thì không chịu mặc áo yếm lót bên trong áo dài vì trông như con nít mà đòi Mẹ phải cho mặc thêm nịt ngực độn dưới yếm lót để chứng tỏ mình đã nhú ngực hẵn hoi như các chị lớp 11, 12. Lớn trong hình thể. Lớn trong lời ăn tiếng nói lịch sự, không ồn ào chốn đông người. Lớn trong cung cách đường bệ ăn mặc chỉnh chu. Lớn trong chuẩn bị cho tương lai, kiểu “Bốn năm nửa lấy tú tài xong Phước sẽ vào Văn Khoa theo ngành Triết. Trâm vô Sư Phạm thì vô. Nhưng Trâm chờ Phước nhe? Phước sẽ lấy Trâm sau khi trở thành giáo sư Triết. Phước xin thề đó. Phước chỉ yêu một mình Trâm thôi.” Chấp nhận danh “ông cụ non” chứ dãy đành đạch nếu bị gọi là “trẻ con” hay “còn con nít” hay “teen”. Vì rằng thời trước 1975, nữ sinh trung học hay quan tâm đến người nhớn khác phái chứ mấy cậu nhóc tính nết trẻ con cung cách con trẻ thì đừng hòng.

Thế nhưng đó là chuyện của những ngày bước em thênh thang và anh lặng lẽ theo hoài (Phạm Thiên Thư: Ngày Xưa Hoàng Thị). Ngày nay, hãy đến gần một nơi có tiết thể dục của học sinh trung học thí dụ như Sân Vận Động Quân Khu 7 ở đường Phổ Quang, Thành phố Hồ Chí Minh, để nghe những âm thanh và cuồng nộ (William Faulkner: The Sound and the Fury) của Thầy/Cô nói những gì Thầy/Cô cần nói bất kể học sinh có nghe hay không, học sinh nam nữ ai cũng nói cùng lúc bất kể có ai nghe hay không, thậm chí nói lớn tiếng để lấn át tiếng nói người khác, la lối, cười to, xô đẩy, ghẹo phá, đánh mạnh vào vai hay lưng nhau, chạy tuột dép, ngã sóng soài, như trẻ con chưa ở lứa tuổi đến trường. Và cũng ngày nay, hãy thử vào một trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh như trên đường Nguyễn Đình Chiểu chẳng hạn, để thấy rất rất nhiều sinh viên dáng người nhỏ thó dù thời ăn bo bo suy dinh dưỡng thời cấm vận đã là chuyện của phim truyện cổ trang, gầy gò, ồn ào, thích tham gia phong trào văn nghệ, thường xuyên tập dợt ca hát hay diễn kịch diễu hề vui chơi, thi đua sắc đẹp thời trang và hội diễn (thậm chí có trường còn bày tiết mục văn nghệ ăn mặc gần như khỏa thân bị bêu rếu nhiều năm trước), ít ai thèm nghiên cứu khóa luận khoa học có liên quan đến ngành học, còn khi đi tìm nơi thực tập lúc sắp tốt nghiệp thì mở miệng những lời quái gở loại immaturity và unfinished tức nửa người nửa ngợm nửa đười ươi không sao chiếm được cảm tình người nghe: “Em học Anh Văn Thương Mại. Có chỗ nào cho em tới thực tập không? Mấy chỗ có mua bán với nước ngoài đó, để em vô dịch hợp đồng và tập phiên dịch đàm phán, để em làm báo cáo tiếng Anh về cho Thầy chấm điểm. Có thì giúp. Không thì thôi. Em không muốn nghe giải thích hay tranh luận”; hoặc “Em học Quản Trị Kinh Doanh. Có chỗ nào cho em tới thực tập làm sếp không để em làm báo cáo về cho Cô chấm điểm. Có thì giúp. Không thì thôi. Em không muốn nghe giải thích hay tranh luận.” Một sự chững lại đầy tai hại như hậu quả của truyền thông quảng cáo bán hàng tập trung về “tuổi teen”, nói quá nhiều về tuổi teen. Khi người ta bị níu lại, bị hét to vào mặt “Này, em đang ở tuổi teen, có nhiều đồ chơi cho em lắm nè, tuổi em đẹp hết sức, đáng yêu hết sức, teen là số một đó em”, người ta xem như đã mất cảnh giác hoặc tự nguyện rời xa tình trạng khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng, để cái teen ấy đeo dính suốt đời, dù có đậu vào đại học, có cưới vợ lấy chồng, có sinh con đẻ cái, có công ăn việc làm, và thậm chí có tuổi có tác rồi mà vẫn teen teen tửng tửng như trẻ nít chứ không phải trẻ trung, mà cặp vợ chồng có con có cái trong truyện kể ở đầu bài viết này là một minh họa bi hài có thật.

Theo lẽ thường, chỉ lúc ở giai đoạn thứ 7 tức lão niên, người ta do sức mõi hơi tàn, mắt phải trở nên mờ, chân phải trở nên yếu, trí nhớ có khi trở nên bớt minh mẫn, huyết áp nhiều khi trở nên trầm trọng, nên có khi sẽ hay ngồi yên một chỗ, đầu cúi gầm do sức nặng thời gian, và lúc nhận ra mình chỉ còn nhìn thấy khoảnh đất nhỏ dưới chân mà nổi bật trên đó là bàn chân, thì đến khoảnh khắc ấy người ta mới ngậm ngùi nhận ra mình đang ở tuổi già, bị buộc phải dừng lại hẳn, không còn nhìn xa để đi hay lao tới trước. Ấy vậy mà nhiều người nay bước vào giai đoạn teen đã lập tức nhận ra mình đang ở tuổi teen. Đó là điều còn tệ hơn cả một sự khủng khiếp, vì khi đã cúi gằm mặt xuống nhìn khoảnh đất nhỏ dưới chân có dán nhãn “tuổi teen”, nhận ra mình đang ở tuổi teen, người ta sẽ bị buộc dừng lại hẳn, không còn có thể ngước lên để nhìn xa và thấy ở đàng xa cái đích người ta lẽ ra đã đi chậm hay bước nhanh hoặc chạy đua đến đó từ lâu. Đó là lý do ngày càng có nhiều hơn những người xử sự như teen dù đã qua khỏi tuổi teen [3].

Người ta chỉ hồi tưởng lại thời thơ ấu khi chẳng còn ở thời thơ ấu. Người ta chi nhớ lại thời trưởng thành sau khi đã bỏ lại sau lưng thời trưởng thành. Người ta kể lại hay viết hồi k‎ý về những năm tháng ở tuổi trung niên sau khi đã qua khỏi giai đoạn này vì lúc ở tuổi trung niên người ta tập trung làm việc với làm giàu. Tích cực như thế và theo lẽ tự nhiên như thế nên làm gì có việc 6 giai đoạn đầu của đời người là có thật ngay thời điểm của từng giai đoạn ấy! Sá gì cái gọi là tuổi teen! “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại” (“Cogito, ergo sum” của René Descartes) chính là câu nói lừng danh thuộc phạm trù triết học, mà chính câu này chứng minh các giai đoạn không thể có thật do người khỏe mạnh thể chất và/hay tinh thần chưa bao giờ tư duy về giai đoạn khi đang ở trong giai đoạn đó. Thậm chí có người còn nói khi đến tuổi bảy mươi xưa nay hiếm vẫn phủ nhận sự tồn tại của hai chữ “nghĩ hưu” trong quyển tự điển đời mình, biến toàn bộ bảy giai đoạn của đời người mà bài sonnet của Shakespeare có thể liệt kê trở nên chưa bao giờ có thật. Đó là những người có cuộc sống luôn tích cực. Họ không cảm nhận mình đang ở giai đoạn nào, vì lúc còn bé luôn chối bỏ sự thật mình còn bé, lúc trưởng thành lại vùi đầu vào sự nghiệp và những tính toan. Những giai đoạn chỉ tồn tại khi đã qua đi. Chỉ có tuổi già là có thể tồn tại trong thời hiện tại. Quảng cáo hàng hóa đã chứng tỏ sức mạnh dữ dội của nó trong uốn gảy tự nhiên, xóa sạch quá khứ, khóa cổng tương lai, tạo nên lớp thứ ba mang “hội chứng teen” mà biểu hiện đặc thù là tửng tửng, vui vẻ, vô tâm, vô tư, biết mình là teen, trung tâm của vũ trụ vui thú. Khi có đủ thứ vui chơi từ màu son môi cho teen cho đến cả Hoa Hậu Tuổi Teen, người ta cần chi phải nghĩ đến tuổi trưởng thành và trách nhiệm công dân. Cứ thế, lâu lâu vài tin tức tình hình này nọ đang gia tăng đáng báo động ở Phụ Sản đủ cho thấy hội chứng teen đã biến teen thành giai đoạn cuối cùng của cả đời người của không ít người teen (teenagers).

Lẽ ra tuổi teen nên tiếp tục như đã chưa bao giờ có thật trong tâm tưởng và nhận thức của những con người khỏe mạnh theo nghĩa đen và/hay nghĩa bóng.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

Ghi chú:

[1] Đây là loại mẫu câu (sử dụng dấu gạch nối để biến một dãy hàng chục từ thành một cụm từ duy nhất mà đa số là cụm tù danh từ tức noun phrase) do Hoàng Hữu Phước mô phỏng theo Tiếng Anh, và áp dụng đầu tiên tại Việt Nam trong tất cả các bài viết tiếng Anh từ năm 1976, cũng như trong tất cả các bài viết tiếng Việt từ năm 1988, đặc biệt trên các blog từ năm 2007 đến nay. Hiện kiểu viết này được giới truyền thông sử dụng rộng khắp trên phạm vi toàn quốc.

[2]  Từ năm 1981 tôi đã giải thích với tất cả các sinh viên Khoa Anh rằng Đại Học Sư Phạm đã dùng tiếng Anh sai hoàn toàn khi tự gọi họ (hoặc do Nhà Nước áp đặt tên) là University of Pedagogy, rằng Cao Đẳng Sư Phạm đã sai hoàn toàn khi tự gọi họ(hoặc do Nhà Nước áp đặt tên) là Teacher Training College, vì cả hai đều là “đại học” trong tiếng Việt ở Sài Gòn trước 1975 và đều là “faculty”(tương đương “college”) trong tiếng Anh ở Sài Gòn trước 1975. University là “viện đại học” mang tính quản lý, bao gồm nhiều đại học chuyên ngành tức “college”. Đồng thời tôi là “giáo sư” vì hai lý do như (a) trước 1975 ở Sài Gòn người dạy trung học đương nhiên được gọi là giáo sư, người dạy đại học đương nhiên được gọi là giảng sư, và (b) tất cả các sinh viên trong nước và người nước ngoài đều gọi tôi là Professor, do đó tôi buộc phải chọn từ “giáo sư” trong tiếng Việt để tránh từ “giảng sư”, và cũng không chờ Nhà Nước phong “giáo sư” vì không muốn bị hiểu lầm trình độ tôi tương đương các vị mà đa số thuộc nhóm hư danh ấy.

[3] Hoàng Hữu Phước. 12-9-2014. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/12/dinh-tinh-va-dinh-luong-tuoi-tre/

Tham khảo:

Hoàng Hữu Phước. 02-10-2014. Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/loi-khuyen-danh-cho-hoc-sinh/

Hoàng Hữu Phước. 03-8-2011. Lời Ngỏ Cùng Học Sinh. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/l%e1%bb%9di-ng%e1%bb%8f-cung-h%e1%bb%8dc-sinh/

Hoàng Hữu Phước. 30-10-2011. Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/th%e1%ba%a7y-nh%c6%b0-th%e1%ba%bf-nao-tro-nh%c6%b0-th%e1%ba%bf-%e1%ba%a4y/

Hoàng Hữu Phước. 30-11-2011. Phong Cách Người Thầy. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/phong-cach-ng%c6%b0%e1%bb%9di-th%e1%ba%a7y/

Hoàng Hữu Phước. 07-9-2012. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/c%e1%bb%b1u-nha-giao-hoang-h%e1%bb%afu-ph%c6%b0%e1%bb%9bc-vi%e1%ba%bft-b%e1%bb%a9c-tam-th%c6%b0-g%e1%bb%adi-nha-giao-hi%e1%bb%87n-t%e1%ba%a1i-va-t%c6%b0%c6%a1ng-lai/

Tags ,

Sử Liệu Nghị Viện Việt Nam

Nhà Sử Học Nghị Viện Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Do có nhiều nhà sử học mà việc làm của họ y như của người dạy môn Việt Sử cấp trung học và người học môn Việt Sử cấp trung học, nghĩa là chỉ nói về những gì của Việt Sử mà người dạy ở trung học và người học ở trung học đều có trong tay qua các sách giáo khoa, mà các sách này đều dựa theo mấy pho Sử Việt cực kỳ quen thuộc, xưa, và có sẵn;

Do những định nghĩa đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam – tính đến ngày post bài viết này – đối với danh xưng “nhà sử học” [1] cho thấy tại Việt Nam thì “nhà sử học” không phải là một “nghề nghiệp” tức là nghề của người hành nghề chuyên nghiệp mà toàn là tự phong (bản thân tự phong hay đàn em tự phong hộ hoặc báo chí tự phong giúp cho gà nhà cùng phe lợi ích nhóm);

Do gần như tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng ngày nay không còn là nguồn cung cấp sử liệu cho hậu thế vì bị lấn lướt lấn áp bởi khuynh hướng thương mại đòi hỏi phải “câu view”, chạy theo thị hiếu số đông chứ không tuân theo thị hiếu giới trưởng thượng đoan chính dù cho sĩ số của giới này có ít đến đâu chăng nữa cũng như dù ai cũng biết trên thế gian này có mặc định thiểu số phục tùng đa số trong biểu quyết một vấn đề cụ thể chứ không bao giờ có cái mặc định vô duyên rằng đa số đương nhiên đúng trong nêu ý kiến, dẫn đến ngay cả việc đưa tin tức nghị trường cũng chỉ lo lượm lặt cái lặt vặt, phỏng vấn người cùng phe (thí dụ nhà sử học này hay luật sư nọ) để ôm ấp hy vọng có tin tức theo đúng bài bản lợi ích nhóm, hoặc phỏng vấn người không chịu nhập phe để ôm ấp hy vọng hắn ta lỡ lời gì đó để có cái mà chụp lấy phục vụ “câu view” và ngay cả nếu hắn không lỡ lời gì cả thì cũng ra tay xào nấu chế biến thí dụ như tự tung tự tác biến nguyên tác “dân trí cao hơn” thành dị bản “dân trí thấp[2] để kích động trò ném đá dấu tay hèn hạ bỉ ổi trên quy mô cả nước trong và nước ngoài.

 

Đáp ứng tất cả những “đòi hỏi” từ những cái “do” trên, người viết bài này yêu sự công bằng nên thấy mình có toàn quyền tự xưng là “nhà sử học”, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn nêu trong bài viết có liên quan [3] trong nổ lực làm giới sử học thế giới biết tôn trọng sự chuyên nghiệp đỉnh cao các nhà sử học ở Việt Nam, người viết bài này tự xưng mình là Nhà Sử Học Nghị Viện đầu tiên của Việt Nam để vừa cho biết nội dung chùm và chụm của lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu, vừa qua đó truyền đi tín  hiệu rằng người viết cũng đang chuẩn bị tài liệu chùm và chụm khác để trở thành Nhà Sử Học Việt Nam Cộng Hòa hay Nhà Sử Học Đa Đảng, hoặc Nhà Sử Học Biểu Tình, v.v., để giúp mọi người có quan tâm có được tư liệu đúng, đủ, đạt, đỉnh, ngõ hầu tránh việc xăng xái tuyên bố, xăng xái phát biểu, xăng xái viết báo mà không có gì trong tay hay trong đầu để biện luận đúng, đủ, đạt, đỉnh cả.

Trước tiên, tôi xin nêu các sử liệu chính xác, chính quy, chính đạo, chính nghĩa, chính danh sau, liên quan đến Quốc Hội Khóa XIII của Việt Nam. Cần lưu ‎ý rằng có rất nhiều những tin tức nghị trường thuộc loại vất sọt rác mà vài nhà báo dùng cái móc bươi rác để móc ra và tải đăng không có giá trị gì cả đối vởi sử liệu, chẳng hạn như nào là Nghị sĩ ABC nói rằng cử tri tỉnh nhà nói “các đại biểu quốc hội sao mà ngu thế” (báo chí không hiểu rằng khi báo chí quái-dị-ứng với Tứ Đại Ngu [4] dù Tứ Đại Ngu công kích việc ăn nói bá láp của chỉ 01 nghị sĩ, thì báo chí lại hân-hoan-hỉ với phát biểu ấy của Nghị sĩ ABC, dù chi tiết ấy chỉ cho thấy 2 điều rằng 01 cử tri nói thế vì nghị sĩ ABC ắt có thể đã ăn nói ngô nghê hoặc bất lực bất tài bất trí không giải thích được câu hỏi bình thường của cử tri ấy về vấn đề tên gọi các phiếu tín nhiệm, và rằng cử tri ấy đã nhục mạ toàn quốc hội ngu chứ không phải chỉ 01 nghị sĩ ngu như trong Tứ Đại Ngu, mà Quốc hội có toàn các nghị sĩ do dân bầu chọn, nên phát biểu ấy được hiểu như xúc phạm toàn dân), nào là như Nghị sĩ DEF đòi Quốc hội ra Nghị quyết về Biển Đông[5], nào là…, nào là…, nào là….

Những chi tiết quan trọng cần ghi nhớ về Quốc hội Việt Nam khóa XIII tính từ 2011 đến ngày 04 tháng 10 năm 2014, được liệt kê như khung chuẩn như dưới đây để các nhà sử học và các nhà báo dựa theo, tìm tòi thêm tư liệu để hoặc điều chỉnh hoặc bổ sung, làm đầy-đủ-đúng-đỉnh hơn kho tàng tham khảo cho hậu thế, mà không cần phải xin phép tác giả bài viết này bằng văn bản:

1) Hiến Pháp 2013:

Việc thông qua Hiến Pháp 2013 đã chứng tỏ sức mạnh chính nghĩa của quốc dân đồng bào (tín thác cho các nghị sĩ dân cử) khi đánh bại hoàn toàn, đánh tan triệt để, đánh sập những kêu gào thống thiết thảm thê sau của bọn phản loạn chống Việt Nam và chống Cộng:

- Đòi đổi quốc hiệu, bỏ chữ Xã Hội Chủ Nghĩa (ngụy biện rằng trước đây “Bác Hồ” đã dùng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, xem trọng Dân Chủ chứ đâu có xem trọng Xã Hội Chủ Nghĩa!)

- Đòi đổi lời của Quốc Ca Việt Nam (ngụy biện rằng có đoạn quá sắt máu trong khi bây giờ hòa bình mờ!)

- Đòi tước quyền lãnh đạo của Đảng (ngụy biện rằng Đảng chỉ là một tổ chức, không thể chỉ đạo cả chính phủ của dân!)

- Đòi phi chính trị hóa quân đội (ngụy biện rằng ở Mỹ nó như thế, quân đội nó bảo vệ đất nước chớ đâu có bảo vệ Con Lừa hay Con Voi!)  

2) Biển Đông:

Ngay hôm khai mạc Kỳ họp 7 ngày 20-5-2014, Quốc hội đã nghe chính phủ (Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh) báo cáo về tình hình Biển Đông với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chủ trương, và giải pháp của Việt Nam – chứng tỏ Quốc hội cực kỳ quan tâm đến tình hình nghiêm trọng này; sau đó các tổ Đại biểu Quốc hội họp thảo luận về nội dung này vào sáng hôm sau tức 21-5-2014, trên cơ sở đó Quốc hội nhanh chóng phát hành thông cáo công bố mạnh mẽ lên án việc sai quấy của Trung Quốc – cần ghi nhớ rằng “thông cáo” là công cụ thích hợp nhất đáp ứng nhanh nhất và hiệu quả nhất đối với yêu cầu phải nêu chính kiến của Quốc hội, đồng thời bảo vệ được uy danh và uy thế của đất nước nếu “nghị quyết” bị Trung Quốc phớt lờ, không “thực hiện” và chà đạp; và rằng Cơ quan của Quốc hội là Ủy ban Đối ngoại đã cực kỳ nhanh chóng, cực kỳ tích cực, cực kỳ hiệu quả khi gởi công hàm đến Liên Nghị Viện Thế Giới, tất cả quốc hội các nước, tất cả các tổ chức quốc tế, v.v., và ngay lập tức nhận được phản hồi ủng hộ của các nơi này, tạo nên thế trận ngoại giao có lợi cho Việt Nam, nhất là khi Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị Liên Nghị Viện Thế Giới của hằng trăm quốc gia vào năm 2015.

Quốc hội Khóa XIII đã đánh bại tất cả các công kích của bọn phản loạn chống Việt và chống Cộng đối với sự bá láp của chúng về tình hình Biển Đông (như bôi nhọ rằng  lãnh đạo Đảng nín thin khiếp nhược, lãnh đạo Đảng “dâng” biển đảo cho giặc, v.v.)

3) Đại Luật:

Trong cả trăm bộ luật phải được tiến hành soạn thảo, lấy ý kiến, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua, và ban hành suốt nhiệm kỳ 2011-1016, Quốc hội Khóa XIII tính đến nay đã thông qua và ban hành hai bộ đại luật sau, có giá trị cực lớn về chính trị cũng như sự quan tâm chính của toàn dân tộc và đòi hỏi cấp bách của đời sống toàn dân, cũng như phát triển xã hội – kinh tế Việt Nam:

- Luật Biển

- Luật Đất Đai

4) Sức Mạnh Của Tài Hùng Biện:

Đối với các bêu rếu của bọn phản loạn chống Việt và chống Cộng rằng nghị sĩ Việt Nam là “nghị gật” do Đảng đặt để và sai khiến, thì sự việc sau chưa có tiền lệ lại xảy ra tại Quốc hội Việt Nam Khóa XIII:

Ngay từ Kỳ họp Thứ 2 Quốc hội Khóa XIII năm 2011, Nghị sĩ Trương Trọng Nghĩa đã phát biểu đề nghị đưa Luật Biểu Tình vào chương trình làm luật. Khi Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, vị đại biểu quốc hội dân cử, tự ra ứng cử mà không qua giới thiệu của bất kỳ ban ngành đoàn thể tổ chức nào, dù chính phủ hay phi chính phủ, không phải đảng viên Cộng sản, không giữ chức vụ gì trong bất kỳ cơ quan hành chính công quyền nào ở bất kỳ đâu từ trung ương đến địa phương, phát biểu về Luật Biểu Tình­ [6] đã được cả hội trường vỗ tay ủng hộ (tức đại đa số trong toàn dân ủng hộ) khen ngợi tài hùng biện của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước, biến khả năng hùng biện phản biện và hùng biện thành công, vốn là việc bình thường của tất cả các nghị sĩ tại các cường quốc, lần đầu tiên trở thành yêu cầu hiện thực tại Quốc hội Việt Nam.

Tuy có vết nhơ ngay sau đó mà một số báo đã chủ động tạo ra [7] với khát vọng thèm muốn thèm thuồng “trừng trị” vị nghị sĩ ngoài Đảng dám hùng biện chính trị, nhưng cũng chính Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước đã sau đó trên các blog đánh bại tất cả các lập luận bôi nhọ yếu kém và hạ cấp đó của các nhà báo “hai mang” khiến càng khẳng định năng lực hùng biện phải là một trong những yêu cầu phải có của nghị sĩ Việt Nam.

Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam một cá nhân nghị sĩ Quốc hội Việt Nam đã thành công trong việc chỉ qua một phát biểu hùng biện đã ngăn chặn thành công (từ năm đầu tiên của Khóa XIII tức 2011 cho đến năm 2015) việc tập trung soạn dự án Luật Biểu Tình – ngay cả khi trước đó đã có ý kiến chỉ đạo của Thủ Tướng trong soạn thảo dự thảo dự án luật này – để người dân có thời gian chiêm nghiệm thực tế nước nhà và nước ngoài; để các nghị sĩ nghiên cứu thật sâu sắc nhằm giải quyết các phản biện ngôn từ, thực tiễn; và để Quốc Hội dành thời gian cho những công tác cực kỳ vĩ đại của dân tộc như thông qua Hiến Pháp, xử lý sự việc Biển Đông liên quan đến chiến tranh-hòa bình, và soạn thảo để thông qua các đại luật trong hàng trăm luật.

5) Tính Tích Cực Của Nghị Sĩ:

Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cũng là người đầu tiên xây dựng nhiều blog [8] để nêu chính kiến của mình, cung cấp thông tin cho cử tri [9] [10], giải bày sẻ chia với nhân dân những vấn đề thuộc hành trạng tư duy, và trên hết nêu bật tư cách và tư thế của một nghị sĩ Việt Nam trong thể chế quốc gia Việt Nam xã hội chủ nghĩa [11] nhuần nhuyễn đường hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam phát triển Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chưa kể, Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước cũng là người đầu tiên báo cáo với toàn dân [12] công tác riêng của bản thân chứ không chỉ với cử tri ở khu vực bầu cử tại Thành phố Hồ Chí Minh mà thông lệ từ xưa luôn được thực hiện là chỉ cần một người đại diện Tổ nghị sĩ lên đọc báo cáo chung.

Việc trên chứng minh nghị sĩ Việt Nam khi là người của dân, do dân, và vì dân, nhất thiết phải là người có trí, có sức, có tâm.

Có trí qua hành trạng tư duy vì nước vì dân.

Có sức qua khả năng giải bày được, giải bày thường xuyên, và giải bày hiệu quả, với nhân dân.

Có tâm qua việc chứng minh bản thân vì sự thái bình an toàn an ninh của đất nước, bởi vì đất nước có an toàn, an bình, an ninh, thì việc xây dựng đất nước giàu mạnh hơn mới thành hiện thực, và dân chúng mới có thể hưởng được các thành quả ấy.

Trí-sức-tâm khi được hiện thực hóa, có thể qua blog, vì nghị sĩ có thể viết mỗi ngày, giữ mạch thông tin được thường xuyên, khác với viết báo vì phải chờ kiểm duyệt cũng như cắt xén và chọn lọc ngày có chủ đề phù hợp chung, chưa kể có sự xen vào của tiền nhuận bút rất có thể hạ thấp phẩm giá của dân, do dân và vì dân của một nghị sĩ, thì lời nhận xét của người dân [13] sẽ gián tiếp đánh giá cụ thể sự quan trọng của chính cái nội hàm của dân, do dân và vì dân ấy.

 

Tất cả các sử liệu nghị viện trên đều có thể được những người quan tâm kiểm tra qua thực tế và qua các câu hỏi đặt ra với bất kỳ nghị sĩ nào tại các cuộc tiếp xúc cử tri ở địa phương hoặc gởi đến nghị sĩ ấy qua đường bưu chính.

Nhà Sử Học Nghị Viện Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1: Bài này – và tất cả các bài khác trên blog này hay bất kỳ blog nào khác của Hoàng Hữu Phước – có thể được đăng lại, toàn phần hay một phần, kể cả hình ảnh, bởi bất kỳ ai quan tâm đến, song phải trên tinh thần nhân văn đỉnh cao của bài Thùng Nước Đá và Blog mà người đăng lại được mặc định đã xem tại http://hhphuoc.blog.com/?p=181 và đã nhất trí đồng ý‎ tôn trọng tuyệt đối, vô điều kiện.

Ghi chú 2:

[1] Hoàng Hữu Phước. 06-02-2014. Thế  Nào Là Sử Gia. http://hhphuoc.blog.com/?p=289

[2] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ.  http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[3] Hoàng Hữu Phước.  – đã dẫn ở [1]

[4] Hoàng Hữu Phước. 2013. Tứ Đại Ngu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

[5] Hoàng Hữu Phước. 08-7-2014. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/08/trinh-do-truong-trong-nghia/

[6] Hoàng Hữu Phước. 07-11-2011. Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[7] Hoàng Hữu Phước. – đã dẫn ở [2]

[8] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2014. Thông Báo Về Blog Của Hoàng Hữu Phước. http://hhphuoc.blog.com/?p=491 hoặc http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/21/thong-bao-ve-blogs-cua-hoang-huu-phuoc/

[9]  Hoàng Hữu Phước. Cần Giải Quyết Dứt Điểm Những Khiếu Nại, Tố Cáo Của Công Dân. Báo Văn Nghệ Trẻ, số ra ngày 24-11-2013. http://hhphuoc.blog.com/?p=253, http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/22/257/

[10] Hoàng Hữu Phước. Khi Bạn Cần Khiếu Tố, Khiếu Nại. http://hhphuoc.blog.com/?p=97

[11] Hoàng Hữu Phước. 09-4-2009. Việt Nam Đất Nước Kính Yêu. Bản tiếng Việt; http://hhphuoc.blog.com/?p=43. Bản tiếng Anh: http://hhphuoc.blog.com/?p=44 

[12] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. http://hhphuoc.blog.com/?p=342

[13] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân: Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=68

Ghi chú 3: Các tham khảo thêm cho nội dung “Biểu Tình” theo chính kiến kiên định của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước mà cho đến nay chưa có bất kỳ lập luận nào của bất kỳ ai tại Việt Nam hay trên thế giới phản bác hay dám phản bác trên cơ sở bút chiến luận chính quy chuyên nghiệp đẳng cấp cao và hùng biện thành công:

Hoàng Hữu Phước. 05-6-2013. Phát Biểu Ứng Khẩu Của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước về Luật Biểu Tình. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/06/05/phat-bieu-ung-khau-cua-hoang-huu-phuoc-dai-bieu-tp-ho-chi-minh-ve-luat-bieu-tinh/

Hoàng Hữu Phước. 26-5-2014. Luật Biểu Tình. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/26/luat-bieu-tinh/

Hoàng Hữu Phước. 20-5-2014. Biểu Tình Và Ô Danh. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/20/bieu-tinh-va-o-danh/

Lời Khuyên Dành Cho Học Sinh

- Thông Qua Phụ Huynh -

Hoàng Hữu Phước, MIB

Phàm khi muốn tỏ ra ta đây như nhà hiền triết, thiên hạ hay nhịp nhịp chân rung rung đùi liêm liếm môi mà phán rằng “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”; song, chưa hẳn sự thật trong đời luôn đã là như vậy. Có kẻ thành công trở thành chủ nhân của hai chữ “đại gia”, song y chỉ luôn mồm nói về thủa hàn vi cơ cực của y (chẳng hạn trường hợp một đại gia ngành “sấy khô” có lần thật thà cho biết được Bố cho vài tỷ Việt Nam Đồng nhưng kinh doanh mất sạch, bị Bố giận dữ ném vô mặt một bao bố đầy vàng thỏi và nhờ y hữu chí cánh thành khiến y tay trắng làm nên nghiệp lớn – mà tay trắng thiệt à nghe, vì có đồng xu cắc bạc nào trong số vốn ít ỏi đó là tiền mồ hôi công sức của y kiếm được khi còn “hàn vi” kiểu ấy đâu) rồi phán vài câu khuyên bảo mang tính ranh ngôn chứ chẳng đời nào nói về những thủ thuật mà y đã xuất chiêu ra sao, với ai, trong hoàn cảnh nào để đánh bại thiên hạ, luồn lách chiếm lĩnh thị trường, trở thành “đại gia” cả. Thế nên, đừng nên mơ tưởng đến chuyện học hỏi kinh nghiệm làm giàu hay làm đại gia của người khác một cách hoặc ngây ngô hoặc trẻ con hoặc láu cá

và có gần ngọn đèn Led đó thì cũng chẳng sáng được gì đâu vì nó chỉ chiếu ngay tại một điểm nào đó trên quyển bí kíp của y mà thôi. Còn vụ gần mực thì đen cũng không là chân lý, vì rằng nếu bạn sáng thì chẳng phải bạn lọt thỏm trong vùng đen sao? Mặt Trời bắt buộc luôn phải ở trong không gian vũ trụ cúp điện tối thui dù ánh sáng của nó có thể tạo ra điện cho con người. Chẳng hạn như tôi đây thủa nhỏ kề cận toàn những bạn học rất nghèo, học rất kém, thuộc xóm rất “nhà lá”, trong gia đình rất “anh chị bự” nằm sâu trong những hẻm rất “dao búa”, chẳng qua vì cha mẹ của các bạn này khuyên con cái họ gần đèn thì sáng nghĩa là hãy sáp lại tôi, tức là con trai Thầy Hai Cô Hai, cho sáng trong khi tôi có bị họ làm cho đen chút nào đâu. Đó là lý do nhiều ông nam và bà nữ trong xóm nhà Má tôi đến nay vẫn chào tôi kính trọng vui vẻ mỗi khi gặp tôi [1] về thăm Má, và thì thoảng nhắc chuyện ngày xưa đã từng học chung lớp tiểu học với tôi ở trường Phan Đình Phùng (nay ở Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Tôi không nhớ đã làm các bạn ấy sáng như thế nào, chỉ biết mỗi lần đi học là tôi xòe tay xin Má tôi năm cắc hay một đồng bạc có in nổi hình Ngô Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa để lúc ra chơi thì thò tay qua hàng rào kẻm gai vói mua cà lem (tức cà rem, tức kem) của một ông lão rồi phân chia cho các bạn ấy mút vì thương các bạn ấy nghèo. Có phải cái hiền hậu thương người sẻ chia của tôi làm các bạn ấy hiền hậu theo chăng, nên bây giờ họ là những công dân hiền hậu thương người sẻ chia cực kỳ tốt bụng với Má tôi và các con của Má tôi, chứ cái sự học thì mạnh ai nấy học, không lẽ lại cho copy bài để bị cô giáo quất roi vào đầu các ngón tay chụm lại à? Thôi thì bây giờ với đức khiêm nhường khiêm tốn khiêm cung [2] đã học được từ Đức Phật, tôi tình nguyện đem cái đèn dầu hỏa Huê Kỳ đầy muội khói của tôi

 

(không chói chang như đèn pha xe Mercedes-Benz, cũng chẳng tinh tế như đèn led của bút điện tử) ra để kể cho các “bạn” học sinh tiểu học và trung học (vì đại học thì đã muộn rồi, bó tay rồi) – thông qua sự đọc và quyết định có thuật lại cho con em mình hay không của các vị phụ huynh – về tôi, với ước ao có thể soi “sáng” được một hai công dân tương lai của đất nước này vậy. Tùy nam hay nữ mà có sự tham khảo thích hợp cho từng hay tất cả các điểm dưới đây.

Trước hết, tác phong tư thế là thứ phải có từ thủa ấu thơ. Phải đi giày vải hoặc giày da với vớ: đây đã là điều bắt buộc ở tất cả các trường tiểu học công lập ở Sài Gòn thời Việt Nam Cộng Hòa để học sinh rèn luyện sự nhanh nhẹn trong đi đứng. Thật kỳ lạ khi đến Thế Kỷ XXI rồi mà bậc trung học ở Việt Nam vẫn thấy nhan nhản học sinh đi dép lê hay giày sandal, còn những viên chức công chức nhân viên đi giày không vớ hoặc vào đến nơi làm việc hay phòng họp là cởi giày tuột vớ vì đau chân nóng ngón, né tránh thắt cravat vì ngộp thở nhột cổ, trong khi tâm trí lúc nào cũng mơ mơ màng màng đến chuyện làm việc lương phải cao, ăn mặc phải toàn hàng hiệu, nhà cửa phải sang trọng, bản thân phải có chức trọng quyền cao, đi ô tô phải loại mấy chấm, và nếu xuất ngoại phải đi các nước Âu này Mỹ nọ, v.v. Không ai trong số họ có thể làm người hùng tham gia bắt cướp cứu người hoặc rượt kẻ vừa giật đồ của chính mình hay người yêu của mình, vì chạy bộ đứt quai dép lê hay tuột mất sandal, và không ai thi hành nghĩa vụ công dân tòng quân cứu nước được do không quen với giầy bốt nặng nề nóng bức ẩm thấp của quân đội.

 

Nên luôn nhớ: tuổi trẻ chỉ là vị trí ngưỡng tức những bậc thang đầu tiên tiến hoài hoài đến trưởng thành và vượt qua tầng trưởng thành chứ không bao giờ đồng nghĩa với sự thơ dại vô tư vô tâm teen teen[3] tửng tửng đứng hoài trên một bậc thang để nhảy múa; do đó, dù trẻ tuổi vẫn phải biết giữ sự nghiêm túc nghiêm chỉnh như đang bước thận trọng lên những bậc thang, không để bản thân tự làm những hành động hay cử chỉ khiếm nhã, giễu cợt, mà tiếng bình dân gọi là “trò khỉ”, nhất là khi những “trò khỉ” nghịch ngợm lại được thể hiện qua nét mặt và cử chỉ được ghi lại trong những bức hình, cái vật thể mang tính “bằng chứng” mà một người nào đó trong số những người có mặt trong ảnh rất có thể một ngày nào đó trong tương lai thật xa đem ra sử dụng với ác ý nhọ bôi chính bạn. Sự nghiêm túc của đa số các học sinh lớp 9 như trong hình dưới đây có thể là một thí dụ

 

Tương tự, nền tảng tư cách hình thành từ trước đó đã được thể hiện trên gương mặt trang nghiêm của tất cả các học sinh trong bức ảnh này:

Cần lưu ý rằng khi bạn đoan chính, có tư cách cao trọng, thì bạn luôn được kính trọng và tôn trọng đối với những gì riêng tư của bạn, thứ mà ngày nay thiên hạ hay lạm dụng để lãi nhãi rêu rao nhóp nhép ngày đêm: nhân quyền. Chẳng hạn ngay sau ngày 30-4-1975, những mái tóc dài của nam giới và ống quần tây rộng trên 25cm của thanh niên Sài Gòn bị cho là tàn dư của lối sống sa đọa của Mỹ nên không được đón chào, thậm chí bị cấm đoán, bị công an chặn đường sởn tóc, cắt ống quần tại chỗ, và triệt tiêu trên toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Thế nhưng nam sinh viên này là người duy nhất tự cho mình có quyền để tóc dài dầy và mặc quần tây ống rộng đúng 35cm không hơn không kém, nhưng lại được thế giới quyền lực để yên

 

đơn giản vì anh ta là sinh viên xuất sắc của Khoa Anh Văn, người duy nhất được các bậc thầy cô tài hoa duy nhất của Việt Nam về Anh ngữ tôn trọng, thương yêu [4], và là người xung phong hướng dẫn thể dục cho cả 2 lớp Anh Văn ở sân bóng chuyền của trường vào giờ ra chơi, cái việc mà mọi sinh viên khác đều tránh né vì “mắc cở” hoặc biếng lười;

 

ngoài ra, anh ta từng hai lần bắt cướp trước cổng trường Đại học Văn Khoa và trước Đài Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh, dù anh ta cao nhòng 170 xen-ti-mét ốm nhom ốm nhách nặng có 48 ký-lô-gờ-ram đã trừ bì (sau này làm doanh nhân nặng ngược 84 ký net không mặc gì, rồi nay làm nghị sĩ còn 70 ký gross với veston trấn thủ) và cận thị hơn 7 đi-ốp (sau này làm doanh nhân viễn thị 6 đi-ốp và nghị sĩ loạn thị 5 đi-ốp), cái tiêu chuẩn công tử hippie mà quân đội chính quy hùng mạnh của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lịch sự mời anh ta đi chỗ khác chơi ngay từ cái nhìn đầu tiên ở bãi giữ xe (trong khi bọn ngu dốt Chống Cộng hê lên rằng chúng biết anh đã trốn nghĩa vụ quân sự mà không biết rằng vào thời đó trốn nghĩa vụ quân sự đồng nghĩa với việc phải sống ngoài vòng pháp luật);

 

còn ở tại địa phương nơi cư trú, sinh viên này chính là Tổ phó An ninh Tổ Dân phố với những thành tích tuần tra nhiều phen bắt trộm cướp giữ gìn an ninh trật tự cho dân chúng trong chu vi tuyến đường vuông vức Nguyễn Thiện Thuật-Nguyễn Đình Chiểu-Cao Thắng-Nguyễn Thị Minh Khai (Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh)

 

Không những thế, Ba của anh ta cũng có thành tích trong Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc với vai trò Trưởng ban Bảo vệ Khu phố:

đó cũng là tích hợp quá nhiều những lý do để dù gia đình không “có công với cách mạng”, không có ai là Đảng viên Cộng sản Việt Nam, không có ai là Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, sinh viên này được chính quyền làm ngơ cho anh ta tự do để tóc dài, còn em trai của anh ta được Nhà Nước chọn đi du học ngành ngôn ngữ học ở Liên Xô khi vừa đỗ tuyển sinh hạng nhất vào Khoa Anh của Đại Học Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh cũng với mái tóc không đạt yêu cầu về độ ngắn:

 

Mái tóc dài “tự do, dân chủ, nhân quyền”[5] [6] của sinh viên này có thể được cắt ngắn tí chút khi đến trường Bùi Thị Xuân thực tập giảng dạy vài lớp 11, nhưng anh ta vẫn luôn không cài hai nút áo trên cùng, như để thỏa một cái “tôi” của một cá tính mạnh mẽ bất khuất, của một sự khác biệt thể loại differentiation tức một thứ signature đặc trưng nổi bật “không đụng hàng” (mà ngành kinh tế cùng quản trị kinh doanh quốc tế vài chục năm sau thường hay cổ súy, truyền bá, ngợi ca), và của lòng yêu tự do, kính dân chủ, trọng nhân quyền, cũng như trách nhiệm thực sự thực chất của một công dân gương mẫu đối với tổ quốc [7]: sống trong đạo đức, đạo hạnh, đạo nghĩa, đạo lý, và trách nhiệm đối với công việc tức là luôn luôn hoàn thành trên cả xuất sắc mọi công việc, luôn luôn đạt đẳng cấp cao nhất loại second-to-no-one để có thể đem tài ra thi thố bảo vệ chính nghĩa của Đảng, của chính phủ, của đất nước, của dân tộc, trên bình diện quốc gia và thế giới

 

Đó cũng là lý do người sinh viên dám để tóc không những dài mà lại là dài nhất nước trong một xã hội xã hội chủ nghĩa cực kỳ nghiêm khắc triệt để nghiêm cấm các hình thức thể hiện tự do cá nhân theo trường phái hippie lại nhận được bút phê của một chức sắc cộng sản là Thầy Khoa Trưởng Phan Nam ngợi khen về tư cách trong hồ sơ tốt nghiệp sau khi các thầy cô kính yêu [8] thất bại trong nổ lực kiến nghị hãy giữ anh lại làm giảng viên Anh văn của Đại học Tổng hợp

 

Và khi tốt nghiệp đại học với tấm bằng màu xanh lè hạng trung bình vì có điểm thấp lè tè ở những môn không phải tiếng Anh (cô bạn học chung lớp sau này làm vợ của anh thì có bằng đỏ lòm do tốt nghiệp loại giỏi), anh ta là sinh viên duy nhất được Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hùng (nguyên phiên dịch viên tiếng Anh của Tướng Võ Đông Giang và Tướng “độc nhãn” lừng danh Hoàng Anh Tuấn, đại diện Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam trong Ban Liên Hiệp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên ở trại Davis, sân bay Tân Sơn Nhất, trong Ủy ban Quốc tế những năm 1973-1975) “tiến cử nhân tài” [9] cho Đảng để công tác tình báo [10] thuộc Công An Nhân Dân; song, khi đến trình diện Trưởng Phòng Tổ Chức Cán Bộ Sở Lê Văn Toan tại Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh, anh ta lại khẩn khoản xin được theo nghề giáo để rồi lúc Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh tích cực ba lần kiên trì xin anh về cho bằng được, anh được Tổ Chức Chính Quyền Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận phân công về làm cán bộ giảng dạy Anh Văn các bộ môn Năm Thứ Ba mà các giáo viên đương nhiệm tại đó run sợ né tránh đẩy đùn (như Lexicology, Văn Chương Anh British Literature, Văn Minh Anh British Civilization, Thông-Phiên Dịch Translation-Interpretation, và Luyện Viết Văn Composition, v.v.), thì mái tóc anh vẫn không vì thế mà ngắn cho đúng nghĩa “thấy tai thấy gáy”:

 

Như vậy, sinh viên và nhà giáo trên đã có toàn quyền thể hiện cái tôi và sự làm chủ bản thân đối với những gì thuộc riêng về anh ta, vượt qua cả những định kiến hay quy định, chỉ vì anh ta xuất sắc về chuyên môn, hồng thắm về tư tưởng cách mạng, sống tích cực vì nước vì dân, đạo đức tác phong luôn nghiêm nghị nghiêm túc nghiêm trang, gởi nhiều thư đóng góp ý kiến mạnh mẽ dù về những vấn đề cực kỳ nhạy cảm – mà mọi người khác khiếp sợ không dám nói đến – để xây dựng Đảng và đất nước [11] [12];

 

còn mái tóc anh ta nếu có ngắn thì không bao giờ tại bị vì bởi bất kỳ sự bắt buộc khuyên lơn áp đặt nào của bất kỳ quyền lực nào của bất kỳ cơ quan nào, mà đơn giản chỉ vì anh ta là người yêu cái đẹp, biết rất rõ rằng mái tóc dài chỉ tạo dáng đẹp kiêu dũng với đúng người kiêu dũng như anh ta, ở đúng tuổi đẹp của người ấy, và vào đúng lúc đẹp của người ấy:

 

trong khi vài chục năm sau đó trong nước nảy ra cái “mốt” cứ hễ đến (hoặc sắp đến) tuổi về hưu thì mấy cụ ông nào nghề nghiệp có chữ “nhà” (như …nhà sử học, nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, v.v.) hay chữ “nghệ” thì đột nhiên can đảm dám bắt đầu để tóc dài tuy không còn tí tẹo cỏn con nào tố chất của thẩm mỹ hùng anh, ắt cho rằng do nhiều chục năm trước vì nhát gan run sợ đến chết khiếp đến độ mái tóc riêng của chính mình cũng không dám để dài hay cạo trọc làm phí cả đời trai nên nay phải để dài như một thứ đền bù kom-păng-xa-xi-ông tự chứng tỏ mình ngon lành chăng.

Khi bắt đầu làm việc tại các công ty, tập đoàn nước ngoài, nhà giáo-doanh nhân này đã trải qua những giai đoạn “tự do”:

 

nhưng vẫn không bao giờ quên ngoài đạo đức gia phong, đạo đức mặc định, đạo đức xã hội nhân quần, đạo đức truyền thống dân tộc, và đạo đức nghề nghiệp, đạo đức kinh doanh, còn có cả đạo đức cách mạng mà mọi công dân yêu nước thật sự không thể không trau giồi, thứ đạo đức mà nhiều người lầm tưởng thuộc đặc quyền tu dưỡng của riêng chỉ cán bộ đảng viên Cộng sản:

 

Tư cách và tư thế ấy luôn phải được thể hiện xuất sắc không vì cá nhân anh ta mà vì quốc thể, để dù đàm phán với một lãnh đạo doanh nghiệp Âu Châu về phát triển kinh doanh tại một hội chợ quốc tế

hay dự lễ ký kết với ban lãnh đạo Đài Loan của tập đoàn địa ốc Phú Mỹ Hưng

tham dự hội thảo lúc nước nhà mới vừa thực thi chủ trương “mở cửa”

 

hoặc tiếp xúc những chức sắc ngân hàng Phi Châu lúc đất nước trên đà hội nhập rộng sâu

hay lúc đến Tổng Lãnh Sự Quán Ấn Độ năm 2009 nhận công thư có ấn ký của chính quyền Ấn Độ xác nhận sự ủy quyền của một doanh nghiệp quốc doanh Ấn Độ để đàm phán các giao dịch thương mại nhằm phát triển kinh tế vùng Đông Bắc Ấn

 

khi đến tỉnh Vĩnh Phúc phụ trách các module chuyên đề Chiến Lược Giao Tiếp Trong Kinh DoanhVăn Hóa Doanh Nghiệp & Truyền Thông Nội Bộ dành cho toàn ban lãnh đạo cấp cao của Công ty Xuân Hòa

 

kể cả những lúc “hành nghề” làm MC song ngữ Anh-Việt hàn lâm duy nhất ở Việt Nam tại các tiệc cưới sang trọng có yếu tố nước ngoài

lúc chụp hình xã giao với Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nhân Quốc Khánh Hoa Kỳ lần thứ 238 ngày 04-7-2014

hay trò chuyện thật vui thể hiện một “excellent sense of humour” cùng Tân Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng nhân Quốc Khánh Hoa Kỳ 2014

 

hoặc với các nữ doanh chủ

 

hay các cộng sự trung tín trung thành trung hậu ở văn phòng cơ quan

hoặc cùng họ thăm các danh thắng quốc gia này hay quốc gia khác

thì cũng nghiêm túc nghiêm trang nghiêm nghị nghiêm khắc y như thủa còn là sinh viên chụp hình chung với những lớp đàn em, không bao giờ toét toe đú đởn bá cổ quàng vai ôm người bẹo má:

 

hoặc như khi xếp hàng chuẩn bị vào viếng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

ngay cả khi trong vòng vây tình cảm thân thương của những người dân quê, những người nhiều chục năm nay vẫn luôn nhớ và gọi anh ta là “Thằng Trọng hiếu thảo, cháu ngoại Năm Vinh[13]

 

thì sự lịch lãm lịch thiệp lịch sự, tươi trẻ tươi tắn tươi vui, nghiêm nghị nghiêm túc nghiêm trang luôn được thể hiện ở mức độ cao nhất, nhằm một mục đích duy nhất: khiến mọi người được tiếp xúc với anh ta đều phải kính trọng nể trọng tôn trọng quý trọng con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam, đất nước Việt Nam, Chính quyền Việt Nam, phong hóa Việt Nam, trí tuệ Việt Nam, qua phong thái phong cách phong độ đường bệ đường đường chính chính của anh ta: một công dân Việt Nam bình thường bình dân bình dị, chân thiết chân chất chân tình, cả đời tôn sùng tôn bái tôn vinh đức liêm khiết và liêm chính.

Hãy sống thật bình thường như thế;

Hãy học thật bình thường như thế;

Hãy có sự trưởng thành thật bình thường như thế trong tư duy;

Và hãy làm được những điều thật đơn giản bình thường như thế trong đời sống;

Để bừng tỏ bản thân rằng bạn yêu chuộng tự do đoan chính chứ không là thứ say rượu do bã mèm tự do nô dịch phản loạn phản quốc phản động;

Để chứng minh sự thể hiện cái bản ngã của bạn chỉ xuất phát từ trí tuệ trí hóa trí thông minh chứ không từ bản năng của giống loài nhai lại [14][15] [16] [17] [18] ;

Để không bất kỳ kẻ ác tâm ác ý ác độc nào trên thế gian này – nhất là bọn báo chí hai mang hèn hạ [19] [20], đám truyền thông ba mang bẩn nhơ, lũ mạng xã hội bốn mang thối tha [21] – có thể giở bất kỳ trò đê tiện nào để bôi nhọ được thanh danh của bạn, uy tín của bạn [22] ;

Vì bạn có trong tay những gì mà người sinh viên trong câu chuyện dài dòng trên đã có – chí ít là qua những bức ảnh anh ta đã cung cấp trong bài viết này, những bức ảnh (và tình tiết chi tiết) mà nếu anh ta không cho phép tác giả bài này tải đăng thì không bất kỳ ai trên đời có thể có trước trong tay để hét toáng lên rằng chúng biết rất rõ về anh.

Hãy chuẩn bị cho chính mình thậm chí ngay từ lúc còn là thiếu nhi những thứ làm giá trị cộng thêm sau này cho giá trị bản thân vững vàng của bạn (kể cả cách hành văn đặc sắc đặc trưng riêng của bạn dù bằng tiếng Việt hay tiếng nước ngoài mà bọn mất dạy không thể bắt chước được để ngụy tạo các “tác phẩm” gán tên bạn vào) để bảo vệ chính bạn trong cõi ta bà ô trọc đầy bẫy rập gian trá gian xảo gian tà này của thời Mạt Pháp.

Tannhauser-Beowulf-Thor [23] Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú 1: Bài này – và tất cả các bài khác trên blog này của Hoàng Hữu Phước – có thể được đăng lại, toàn phần hay một phần, kể cả hình ảnh, bởi bất kỳ ai quan tâm đến, song phải trên tinh thần nhân văn đỉnh cao của Thùng Nước Đá và Blog mà người đăng lại được mặc định đã xem tại http://hhphuoc.blog.com/?p=181 và đã nhất trí đồng ý tôn trọng tuyệt đối.

Ghi chú 2:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Tôi Và Các Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=52

[2] Hoàng Hữu Phước. 10-10-2011. Khiêm Tốn. Bài đăng trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Đăng lại tại http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/khiem-t%e1%bb%91n/

[3] Hoàng Hữu Phước. 2009. Tuổi Teen Không Bao Giờ Có Thật. Bài đăng tháng 12-2009 trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước.

[4] Hoàng Hữu Phước. Các Thầy Cô Kính Yêu Của Hoàng Hữu Phước. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com

[5] Hoàng Hữu Phước. 17-5-2010. Thế Nào Là Tự Do, Dân Chủ. Đăng trên Emotino.com. Đăng lại tại http://hhphuoc.blog.com/?p=326 ngày 24-3-2014.

[6] Lại Thu Trúc. 04-02-2014. Nhân Quyền Việt  Nam. http://hhphuoc.blog.com/?p=288

[7] Hoàng Hữu Phước. 09-4-2009. Việt Nam Đất Nước Kính Yêu. Bản tiếng Việt; http://hhphuoc.blog.com/?p=43. Bản tiếng Anh: http://hhphuoc.blog.com/?p=44

[8] Hoàng Hữu Phước.  – đã dẫn ở [4]

[9] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

[10] Hoàng Hữu Phước. Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Công Dân Có Năng Lực: Tôi Và Ngành An Ninh Tình Báo. Bài đăng tháng 8-2011 trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước vào thời điểm thích hợp.

[11] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/21/bao-sai-gon-giai-phong/

[12] Hoàng Hữu Phước. 14-3-1993. Tôi Gởi Thư Cho Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam. Bài đăng lần đầu bằng tiếng Anh trên Yahoo!3600 ngày 23-8-2008. Đăng lại song ngữ Anh và Việt trên Emotino.com ngày 14-9-2008. Nguyên bản sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước.

[13] Hoàng Hữu Phước. 05-11-2012. Hoa Tàu. http://antichina.blog.com/?p=60

[14] Hoàng Hữu Phước. 08-3-2014. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. http://hhphuoc.blog.com/?p=318

[15] Hoàng Hữu Phước. 17-01-2013. Nhân Nghe Về Huy Đức. http://hhphuoc.blog.com/?p=121

[16] Hoàng Hữu Phước. 05-10-2010. Tôi Và Lê Công Định. Bài đăng trên emotino.com (đã ngưng hoạt động). Nguyên bản được đăng lại ngày 22-9-2014 ở http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/22/toi-va-le-cong-dinh/. Đăng rút ngắn trên Báo Nhân Dân, trang 8, số ra ngày 07-9-2012: (http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/quocte/phantichnhandinh/la-cong-dan-ph-i-tuan-th-lu-t-phap-qu-c-gia-1.366322) và tại http://hhphuoc.blog.com/?p=92.  .

[17] Hoàng Hữu Phước. 19-02-2010. Tôi Và Cu Huy Ha Vu. Bài đăng trên Emotino.com (đã ngưng hoạt động). Nguyên bản sẽ được đăng lại trên các blog khác của Hoàng Hữu Phước.

[18] Hoàng Hữu Phước. 08-7-2014. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/08/trinh-do-truong-trong-nghia/

[19] Hoàng Hữu Phước. 20-8-2014. Quyền Lực Thứ Sáu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/13/quyen-luc-thu-sau-3/ 

[20] Hoàng Hữu Phước. 2013. Tứ Đại Ngu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

[21] Hoàng Hữu Phước.14-8-2013. Mạng Xã Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=210  hoặc http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/14/mang-xa-hoi/

[22] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân: Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=68

[23] Hoàng Hữu Phước. 28-9-2011. Tại Sao Là Tannhauser Beowulf Thor. Bài đăng trên emotino.com (http://www.emotino.com/bai-viet/19308/vi-sao-la-beowulf-thor). Emotino.com đã ngưng hoạt động từ Qu‎ý II năm 2014. Bài sẽ được đăng lại trên blog này.

Cập Nhật Blog

Hoàng Hữu Phước, MIB

Do thanh công cụ bên trái của giao diện blog này chỉ có khả năng liệt kê có giới hạn tên của các bài đã đăng, mà bản thân bài Thông Báo Về Các Blog Của Hoàng Hữu Phước [1]  cũng sẽ không còn trên thanh công cụ liệt kê, kể từ nay mỗi hai tháng tôi sẽ có bảng liệt kê mới nhất (với số lượng trung bình 10 bài/tháng) để bảo đảm sự truy cập tàng thư của bạn đọc sẽ luôn được đầy đủ và dễ dàng. Riêng trang hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com [2] đang có 75 bài sẽ được cập nhật riêng.

Ngoài ra, tôi cần khẳng định lại rằng tất cả các bài viết của tôi trên blog này và tất cả các blog của tôi đều có thể được đăng lại, toàn phần hay một phần, kể cả hình ảnh, bởi bất kỳ ai quan tâm đến, song phải trên tinh thần nhân văn đỉnh cao của Thùng Nước Đá và Blog [3]  mà người đăng lại được mặc định đã xem và đã nhất trí đồng ý‎ tôn trọng tuyệt đối.

Dưới đây là phần cập nhật tổng cộng 136 bài vào thời điểm 01-10-2014:

  1. Thực Phẩm Chức Năng
  2. Báo Người Lao Động: Gương Trân Trọng Người Tài
  3. Lời Cảm Ơn Của Hoàng Hữu Phước
  4. Tôi và các Luật Sư
  5. Tôi Và Lê Công Định
  6. Cô Lại Thu Trúc Gởi Thư Cho Lãnh Đạo Nhà Nước Góp Ý Về “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Tp HCM
  7. Hành Trang Nghị Sĩ
  8. Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ
  9. Thư Gởi Thủ Tướng Về “Đường Bay Vàng”
  10. Nghị Sĩ Người Khuyết Tật: Tại Sao Không?
  11. Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về cái gọi là “Đường Bay Vàng”
  12. Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh-Việt Trước Đây Về Đất Nước
  13. Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải
  14. Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự
  15. Thư Gởi Thủ Tướng
  16. Quyền Lực Thứ Sáu
  17. Tứ Đại Ngu
  18. Hoàng Sa
  19. Nguồn Sáng Cho Tinh Thần
  20. Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”
  21. Thông Báo Về Blogs của Hoàng Hữu Phước
  22. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường
  23. Vững Tâm Kiến Quốc
  24. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa
  25. Sát Tàu
  26. Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm”
  27. Dương Khiết Trì Run Sợ
  28. Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì
  29. Lại Trí Thức!
  30. Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội
  31. Luật Biểu Tình
  32. Biểu Tình và Ô Danh
  33. Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011
  34. Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc
  35. Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016
  36. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!
  37. Nước Mỹ Vỡ Vụn
  38. Mít-xtơ Xương Xẩu
  39. Thế nào là Tự Do – Dân Chủ
  40. Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên
  41. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân
  42. Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng
  43. Tức Ảnh Đề Thơ
  44. Nước Mỹ Bất Hạnh
  45. Thế Nào Là Nhà Trí Thức
  46. Thế Nào Là Sử Gia
  47. Nhân Quyền Việt Nam
  48. Tết Mậu Thân 1968
  49. Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học
  50. Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng
  51. Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba
  52. ĐỀ XUẤT MỘT THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA CHO VIỆT NAM
  53. Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt
  54. Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992
  55. Về thực quyền, thực uy
  56. Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi)
  57. Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
  58. Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân
  59. Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ
  60. Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện
  61. Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng
  62. Đại tướng Võ Nguyên Giáp
  63. Amari TX – Anh là ai?
  64. Tôi và Lê Hiếu Đằng
  65. Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ
  66. Hội Chứng Bầy Đàn
  67. Mạng Xã Hội
  68. Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân
  69. Chất Lượng Giáo Dục ở Việt Nam
  70. Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp
  71. Báo Sài Gòn Giải Phóng
  72. Thùng Nước Đá và Blog
  73. Tuyệt Thực
  74. Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình
  75. Bài Phát Biểu của Hoàng Hữu Phước về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992
  76. Giới Thiệu Blog Mới
  77. Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?
  78. Lễ Chiến Thắng
  79. Luận Về “Đa Đảng”
  80. Giới thiệu Blog Mới (3): Hoàng Hữu Phước và Tình Cảm Dành Cho Trung Quốc
  81. Giới Thiệu Blog Mới (2): “Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô”
  82. Giới Thiệu Blog Mới (1): Hoàng Hữu Phước Và Các Tham Luận
  83. “Gia Tộc Họ Lại Hòa Cùng Niềm Tự Hào Dân Tộc”
  84. TRÚC BỊ UNG THƯ PHÓNG VIÊN QUỐC THANH Ạ
  85. ĐAU LÒNG CHO PV QUỐC THANH -TUỔI TRẺ
  86. ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc
  87. Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt
  88. Món Quà Mùa Tết 2013 Của Độc Giả Emotino
  89. Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức –
  90. Chú Cháu Gặp Nhau Tại Nghị Trường Quốc Hội: Tôi Và Hành Trình 55 Năm Tìm Thấy Cội Nguồn
  91. Hiến Pháp Và Bất Ổn Xã Hội
  92. Tôi Và Một Công Dân Cộng Hòa Hồi Giáo Iran
  93. Khi Bạn Cần Khiếu Tố, Khiếu Nại
  94. Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?
  95. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc
  96. Là công dân, phải tuân thủ luật pháp quốc gia
  97. Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào
  98. Mở Rộng Tầm Mắt Với Bậc Tài Hoa: Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc
  99. Tham Nhũng
  100. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại và Tương Lai
  101. Giới Thiệu Những Bài Viết Mới
  102. Thư Của Cháu Nguyễn Thanh Hải
  103. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII
  104. Bài Viết Đặc Sắc Về Dân Trí, Biểu Tình, và Chống Ngoại Xâm
  105. Cử Tri Và Luật Biển
  106. Luật Biển Việt Nam
  107. Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn
  108. Malaysia Thông Qua Luật Cấm Phản Đối Trên Đường Phố
  109. Chụp Mũ
  110. PHÁT BIỂU VỀ LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
  111. PHÁT BIỂU VỀ LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
  112. PHÁT BIỂU TẠI QUỐC HỘI VỀ LUẬT BIỂU TÌNH & LUẬT LẬP HỘI
  113. Trả Lời Phỏng Vấn
  114. Chính Trị: Trả Lời Câu Hỏi Của Độc Giả Emotino
  115. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Và Công Tác Giám Sát
  116. Ông Trương Tấn Sang
  117. Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Trước Đây Về Đất Nước – Bản Tiếng Anh
  118. Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Trước Đây Về Đất Nước
  119. Vài Thông Tin Về Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp Hồ Chí Minh
  120. Luận Về Sửa Đổi Hiến Pháp Việt Nam
  121. “Quốc hội không phải nơi vui chơi!”
  122. Đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước: Gắng làm những điều đã hứa
  123. Giữ lời hứa với cử tri
  124. Cải cách hành chính
  125. Quốc hội không có chỗ cho lợi ích cục bộ
  126. Doanh nhân tự ứng cử Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội khóa XIII: Nói phải đi đôi với làm
  127. Chung Một Tấm Lòng
  128. Tôi muốn đem sức, lực của mình cho dân và vì dân
  129. Chống Tham Nhũng
  130. ThS. Hoàng Hữu Phước ứng cử viên ĐBQH Khóa XIII: Đủ “lực” đứng trên diễn đàn…
  131. Tự ứng cử để phục vụ đất nước
  132. Bài Phát Biểu Vận Động Bầu Cử Trên Đài Truyền Hình HTV9 của Ứng cử viên Đại Biểu Quốc Hội khóa XIII Hoàng Hữu Phước
  133. Chương Trình Hành Động
  134. LÝ LỊCH CHI TIẾT
  135. TÓM TẮT TIỂU SỬ
  136. Đại biểu quốc hội phải biết lo trước cái lo của người dân

    Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

    Ghi chú:

    [1] Hoàng Hữu Phước. 20-7-2014. Thông Báo Về Các Blog Của Hoàng Hữu Phước. http://hhphuoc.blog.com/?p=491 hoặc http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/21/thong-bao-ve-blogs-cua-hoang-huu-phuoc/

    [2] Hoàng Hữu Phước. 02-10-2014. Cập Nhật Blog Này. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/10/02/cap-nhat-blog-nay/

    [3] Hoàng Hữu Phước. 14-02-2013. Thùng Nước Đá Và Blog. http://hhphuoc.blog.com/?p=181  hoặc http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/14/thung-nuoc-da-va-blog/

Thực Phẩm Chức Năng

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong bài có nói về các blog sắp có của mình [1], tôi có viết rằng sẽ có thêm vài blog chuyên đề trong đó có một blog về kinh doanh.

Trong ngàn bài viết của tôi bằng tiếng Anh trên Yahoo!3600 từ 2005 và bằng tiếng Việt trên Emotino [2] từ 2008, có khoảng 300 bài liên quan đến kinh doanh và tư vấn phát triển kinh doanh. Do quỹ thời gian eo hẹp, tôi chưa thể lục tìm trong tàng thư cá nhân các bản thảo của các bài viết ấy để upload hết lên blog phát triển kinh doanh. Trong khi chờ đợi các bạn thân của tôi giúp thu thập lại các bài theo cách đầy đủ nhất có thể được cho blog phát triển kinh doanh, tôi sẽ chọn đăng lại một hoặc hai bài đã tìm được để làm thí dụ trên blog nghị sĩ này, vừa (1) đáp ứng yêu cầu tối thượng của bạn đọc đối với trình độ khoa bảng thực thụ + kinh nghiệm đẳng cấp lãnh đạo thực thụ đối với lĩnh vực nói đến của một thạc sĩ kinh doanh quốc tế “chính hiệu” và “thực thụ”; vừa (2) đánh vào cái yếu điểm trầm kha của giới “chuyên nghiệp” Việt Nam là thường vô tư, hay máy móc lập lại một cách mặc định rằng những gì của Âu Mỹ thì đương nhiên đúng; vừa qua đó (3) giới thiệu cách nhận xét, phân tích, tổng hợp, tư vấn tích cực, chuyên nghiệp, độc lập, chất lượng, đặc thù, riêng biệt, của tôi, nhà tư vấn phát triển kinh doanh thực thụ.

Được chọn đăng lại trên blog này là bài viết về Thực Phẩm Chức Năng. Kính mời các bạn đọc tham khảo.

Trân trọng.

  Mở Hướng Kinh Doanh: Thực Phẩm Chức Năng [3]

Hãy Là Chính Mình & Vượt Lên Chính Mình

Hoàng Hữu Phước, MIB

Emotino 06-01-2012

Mục Lục

A) Tại Sao Thực Phẩm Chức Năng?

B) Thế Nào Là “Thuốc”

C) FDA: Ông Là Ai?

D) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hàn Quốc

E) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hoa Kỳ

F) Hãy Nhìn Vào Ta

G) Sau Khi Biết Người, Biết Ta: Hãy Là Chính Mình và Vượt Lên Chính Mình

A) Tại Sao Thực Phẩm Chức Năng ?

Khi tham dự tiệc tất niên 2010 do Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, tôi được ban tổ chức đến bàn tiệc ngỏ ý mời tôi lên phát biểu sau bài phát biểu của Ông Từ Minh Thiện, Giám đốc Trung tâm. Vì là ứng khẩu nên tôi bắt đầu tập trung lắng nghe bài phát biểu của Ông Thiện để nắm bắt và khai thác các ý nào phù hợp với sự quan tâm của tôi, và chi tiết rằng Thành phố sẽ có hướng phát triển ngành thực phẩm chức năng trở thành tâm điểm được tôi quyết định chọn để sau đó phát biểu ứng khẩu hùng biện về thực phẩm chức năng, và rồi các nhà báo phải tiu nghỉu khi đến tôi hỏi mượn bài phát biểu (do thấy tôi có cầm mấy tờ giấy lên sân khấu, còn họ thì biếng lười không chịu lắng nghe và ghi chép) mới biết đó chỉ là tờ chương trình buổi tiệc mà ban tổ chức phát cho các đại biểu. Vậy thực phẩm chức năng là gì, vì sao tôi quan tâm thiết tha đến thực phẩm chức năng, và hôm nay lại muốn nói đến thực phẩm chức năng?

Thực Phẩm Chức Năng hay Thực Phẩm Dinh Dưỡng Bổ Sung là những khái niệm ngoại lai, không phải của Việt Nam, được Việt Nam nhập khẩu, sử dụng đại trà, tự mình trói mình, tự mình nhường sân chơi lớn cho nước lớn, tự mình chối từ ưu thế kinh nghiệm vĩ đại của ông cha mình. Trong một tài liệu nước ngoài, người ta có cách giới thiệu rất hài hước như sau về lịch sử của thực phẩm chức năng:

- Năm 2000 trước Công Nguyên: Thầy Mo phán: Này, hãy nhai rễ cây này sẽ hết bệnh.

- Năm 1000 sau Công Nguyên: Thầy Pháp phán: Nhai rễ cây ấy rất lạc hậu, tà đạo, dốt nát. Hãy lập lại lời thần chú sau sẽ hết bệnh.

- Năm 1850 sau Công Nguyên: Ngự Y tâu: Khải tấu Đức Kim Thượng, việc chúng dân hay cúng bái bùa chú khi có bệnh là việc mê muội dị đoan. Chúng Ngu thần ở Ngự Y Viện đã chưng cất được loại thuốc nước này giúp dân hết bệnh.

- Năm 1940 sau Công Nguyên: Y Sĩ phán: Mấy thứ thuốc lang băm đó là dầu rắn rít đấy! Hãy uống viên thuốc này sẽ hết bệnh.

- Năm 1985 sau Công Nguyên: Bác Sĩ phán: Thuốc viên ấy có hiệu nghiệm gì đâu! Hãy uống thứ kháng sinh này sẽ hết bệnh.

- Năm 2000 sau Công Nguyên: Nhà sản xuất xanh-sạch-lành nói: Thứ kháng sinh ấy là đồ nhân tạo trái tự nhiên. Hãy nhai thứ rễ cây này sẽ hết bệnh.

Vì nhiều lý do khác nhau như “thuốc tây” có giá cao, không thể chữa hết tất cả các bệnh, và phong trào “ăn lành”, “ăn sạch”, “trở về với Mẹ Thiên Nhiên”, “tiêu chí an toàn không phản ứng phụ”, và xuất hiện các phương pháp trị bệnh mang tính “truyền thống dân gian” từ sự giao thoa văn hóa của toàn cầu hóa, người dân Âu Mỹ ngày càng quan tâm đến thực phẩm dinh dưỡng bổ sung và các loại thảo dược. Nhu cầu này của “người tiêu dùng” đương nhiên được hăng hái đáp ứng bởi các nhà sản xuất, dẫn đến – theo số liệu năm 2001 – sự thật là có 42% dân số người lớn ở Mỹ dùng các thứ đa sinh tố và thực phẩm dinh dưỡng chức năng, và các liệu pháp thảo dược trị bệnh cho thấy người tiêu dùng Mỹ đã chi từ 3,5 tỷ USD năm 1997 nay đã lên hơn 5 tỷ USD mỗi năm, với số lượng hơn 20.000 sản phẩm thảo dược bán tự do không cần toa (OTC – Over-the-counter).

Khi người tiêu dùng quan tâm đến kho tàng tri thức Đông Phương, từ sự sửng sốt trước những sách cổ thư vĩ đại bằng tiếng Sanskrit về tình dục như Ananga RangaKama Sutra mà thế giới Âu Mỹ nhận ra rằng những cái họ gọi là hưởng lạc dục tình trong Thế Kỷ XX hóa ra đã tồn tại nhiều ngàn năm trước đó tại Phương Đông, những kỹ thuật huyệt đạo nền tảng của giải phẫu học và châm cứu của Trung Quốc cùng các thảo dược thần diệu ở Đại Hàn và khắp vùng Châu Á từ thời thượng cổ, đến thực tế đắng cay rằng nếu xưa kia vấn đề vệ sinh tồi tệ của y học Âu Mỹ vĩ đại đã từng gây ra các cơn đại dịch như Black Death tàn phá Anh Quốc và Châu Âu, và rằng y học cận đại bị vết nhơ do xử tội vị y sĩ duy nhất giữ vệ sinh rửa tay sạch sẽ khi khám bệnh, đến sự thật là ngày nay thuốc Tây Y vẫn còn bó tay trước nhiều căn bệnh hoặc gây ra những phản ứng phụ tai hại, họ quan tâm – và có quyền quan tâm cũng như yêu cầu được phục vụ – đến các phương pháp bí ẩn của Đông Phương trong lĩnh vực y tế tức chữa bệnh, phòng bệnh, và cải thiện sức khỏe. Đó là l‎ý do cho sự trỗi dậy của cái mà chúng ta đặt tên theo sự thống trị ngôn từ của phương Tây là: thực phẩm chức năng hay thực phẩm dinh dưỡng bổ sung, tức những thứ mà ta bị buộc phải ghi dòng chữ vô nghĩa vô duyên vô lý:‎ “không phải là thuốc và không có tác dụng chữa bệnh thay thuốc”.

Vậy, thế nào là “thuốc”? Xin xem hồi sau sẽ rõ.

B) Thế Nào Là “Thuốc”

Chẳng ngôn ngữ nào tối ưu so với các ngôn ngữ còn lại. Tiếng Anh chỉ có chữ You dành cho đối tượng trực tiếp ngôi thứ hai số ít hoặc số nhiều, trong khi tiếng Việt có cơ man nào là chữ, chẳng hạn như Em, Anh, Chị, Ông, Chú, Bác, Thím, Dì, Bố, Mẹ, Ba, Má, Thầy, U, Dượng, Mợ, Tổng Thống, Mầy, Ngươi, Nhà Ngươi, Tụi Bây, Chúng Mày, Các Anh, Các Chị, Quý Vị, v.v. Ngược lại, tiếng Anh có medicine, medicament, medication, drug, druggery, medicinal drug, potion, nostrum, dope, elixir, lincture, linctus, electuary, v.v. dùng cho từng loại khác nhau hay trong ngữ cảnh khác nhau cho ý nghĩa của “thuốc”, trong khi tiếng Việt ta chỉ có mỗi chữ thuốc xuất hiện mọi lúc mọi nơi cho mọi thứ và mọi ngữ cảnh từ thuốc Tây đến thuốc Bắc, thuốc Nam, thuốc Đông, thuốc bổ, v.v. để cứu người, đến thuốc độc, thuốc chuột, v.v. để không cứu người, thậm chí cả khi chẳng liên quan gì đến cứu hay không cứu, như… “hết thuốc chữa” với nghĩa “bó tay” hay “chào thua”.

Chính bởi tiếng Anh có sự phân định rạch ròi nghĩa của medicine là thuốc dùng để chữa bệnh, phòng bệnh, gia giảm triệu chứng của bệnh, trong ngành khoa học y dược chuyên nghiệp về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh, nên mới có việc Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ (US Food and Drug Administration, FDA) cùng với đạo luật DSHEA 1994 (Luật Giáo Dục và Chế Độ Thực Phẩm Bổ Sung) quy định những thứ không là sản phẩm của ngành khoa học y dược chuyên nghiệp cao quý cao cấp cao chót vót của hóa học hàn lâm về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh thì không được phép dùng chữ medicine để gọi mà phải dùng chữ khác. Đó là nguyên nhân ra đời của cụm từ mới tinh mà ngàn xưa không ai dùng đến: nutritional supplement hay dietary supplements hay herbal supplement hay functional foods hay nutraceuticals hay những cách gọi khác mà ở Việt Nam gọi chung là thực phẩm chức năng. Thế giới Âu Mỹ luôn chứng minh người ta chỉ có tiếng nói mạnh hơn nếu là đại gia tài chính, và khi các nhà sản xuất thực phẩm chức năng biến ngành công nghiệp thực phẩm chức năng thành ngành kinh tế trị giá gần chục tỷ USD/năm, họ có quyền giằng lấy từ medicine về phía mình, và phát sinh ra cụm từ alternative medicine (mà giới hóa học gia của ngành khoa học y dược chuyên nghiệp cao quý cao cấp cao chót vót của hóa học hàn lâm về phòng bệnh, chẩn bệnh, giảm bệnh và chữa bệnh chịu thua nhưng vẫn trề môi khinh bỉ khi nghe ai nói đến) với nghĩa đen trần trụi là thứ thay thế thuốc, nghĩa là thuốc được dùng cho thực phẩm chức năng dù chưa chính quy chính thức chính đạo.

Thế thì tại sao Việt Nam lại tự trói mình, tự phủ nhận mình, không dám gọi đó là thuốc như tổ tiên Việt Nam đã dùng, mà phải gọi là thực phẩm chức năng và ghi cái dòng chữ vô duyên cứ như FDA của Mỹ chủ đạo đứng đầu và có quyền sinh sát với ngành y dược cổ truyền của Việt Nam. Trước khi phân tích về điều này, ta hãy xem FDA là ai mà thiên hạ khiếp sợ thần uy đến thế. Xin xem hồi sau sẽ rõ.

C) FDA: Ông Là Ai?

FDA là Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm & Dược Phẩm Hoa Kỳ, thuộc Bộ Y Tế & Phục Vụ Nhân Dân (US Department of Health and Human Service HHS). Nhưng do bài viết này nhằm làm lợi cho độc giả Việt Nam chứ không tiếp tay đánh bóng thương hiệu FDA, nên những người quan tâm có thể vào trang web của họ để biết họ lớn như thế nào với hàng ngàn phòng thí nghiệm ở nhiều châu lục và tỷ tỷ tỷ USD ngân sách, có quyền sinh sát ra sao, và luôn bị giới tỷ phú ngành thực phẩm chức năng nhạo báng, tranh cãi, bút chiến, khẩu chiến, và nắm cổ lôi xềnh xệch ra tòa nhiều quan chức FDA vì ăn hối lộ và tham nhũng, v.v.

Nói vắn tắt một cách bình dân về sự “quản lý” của FDA đối với thực phẩm chức năng là như thế này: chúng tớ quản lý thuốc drug và thực phẩm theo tên gọi cơ quan chúng tớ ấy mà; vậy nếu các cậu là thuốc drug thì tất nhiên phải theo các quy trình cực kỳ chặt chẽ do chúng tớ ban hành, và nếu các cậu là thực phẩm thì cũng y như vậy; nhưng cái thứ của các cậu không là “thuốc drug” mà cũng chẳng là “thực phẩm” nên chúng tớ không có quyền đụng vô để thông qua hay không thông qua; song tiếc là do quy định của… “ở trên” nên buộc phải ra “thần uy”quản lý nhà nước một tí bằng cách đề nghị các cậu chịu khó ghi dòng chữ rằng cái thứ của các cậu không là “thuốc drug” mà cũng chẳng là “thực phẩm” nên cách chi mà chúng tớ có phôi biểu mẫu để cấp chứng thư cơ chứ; và nếu ghi như thế ngoài hộp thì cả hai ta đều có lợi ở chỗ khẳng định chúng tớ đâu có công nhận gì đâu nên không chịu trách nhiệm còn các cậu khỏi bị người tiêu dùng kiện tụng nếu uống cả đời vẫn không thấy si-nhê hay ép-phê hoặc hiệu nghiệm gì sất.

FDA là như vậy đấy. Quy định về thực phẩm chức năng là cũng vì vậy đấy. Nếu ai đó muốn bán thực phẩm chức năng vào nước Mỹ thì phải ghi câu ấy – nhưng dường như chỉ có desperado tức kẻ liều mạng mới có ý định kinh doanh thực phẩm chức năng vào nước Mỹ! Ấy vậy mà có nhiều nước xem FDA là Thượng Đế của thế giới y dược nên ra quy định sản phẩm thảo dược nước mình, của Ông Cha mình, của tiên tổ mình, là thực phẩm chức năng, đồng thời phủ nhận luôn đặc thù dược tính chữa bệnh của nó, cứ như thể hoặc “thuốc Tây” đã có mặt tại nước ta nhiều ngàn năm trước, hoặc tổ tiên ta chẳng biết bịnh là gì bao giờ. Con Rồng, Cháu Tiên mà!

Thế mới biết cái lợi của siêu cường: lời anh nói ra đương nhiên là chân lý. Song, do FDA to quá nên sau khi có vài lời nhẹ nhàng trên, thiết nghĩ nên tha cho FDA để tiến ra thế giới cho mở rộng thêm tầm mắt trong khi lẽ ra thiên hạ phải đến nước ta để mở rộng tầm mắt. Xin mời xem tiếp hồi sau sẽ rõ.

D) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hàn Quốc

Thật không thể buột miệng nói “tiếc quá các bạn ơi” như người dẫn chương trình Ô Cửa Bí Mật trên VTV3 ngày Chủ Nhật được, vì khi xem phim tài liệu của TV Discovery mới bán tín bán nghi, nửa tin nửa ngờ, trước điều mắt thấy với kính 3D, tai nghe với âm thanh qua hệ thống loa 12 chiếc: hàng đoàn người Âu Mỹ, đa số là người cao tuổi, đa số đi có vợ có chồng cùng đi, thiểu số do con cái đưa đi, và tất cả đều ngời rạng niềm hy vọng không ai có thể dấu diếm được trên gương mặt khi ngồi thoải mái trong sảnh sáng sạch đẹp của một “bịnh viện dân tộc” tại Hàn Quốc chờ đến phiên vào… đánh gió, giác hơicắt lễ! Đánh gió với miếng gỗ nhúng vào “thuốc” tức thực phẩm chức năng dạng chất lỏng. Giác hơi kiểu mới với ống thủy tinh hút chân không hình trụ (sau đó, Discovery còn phát phim tài liệu khác cho thấy cảnh “dữ dội” hơn tại Mỹ chiếu cảnh mấy anh Mỹ da trắng trần trùng trục cười khoái trá mãn nguyện khỏe khoắn sau khi được thử giác hơi bằng ống thủy tinh hình cầu y như của Việt Nam trước đây và dùng que nhúng vào cồn để đốt bên trong lòng ống giác hơi trước khi úp lên lưng y như kiểu dùng que nhúng vào dầu lửa của người Việt Nam trước đây!). Cắt lễ kiểu vừa cũ vừa mới: sử dụng cụ tân kỳ, tiệt trùng, có thoa “thuốc” tức thực phẩm chức năng dạng chất lỏng, để thực hiện việc cũ (đâm nhẹ vào vùng mặc định có vấn đề để trích ra một giọt máu).

Cảnh trên này thấy quen quen. Alexandre Dumas Cha có viết trong Ba Chàng Ngự Lâm việc hễ đau ở đâu thì đâm vào đó nặn ra cả chén máu. Ông Bà Việt Nam tiết kiệm nên tinh tế trích ra có một giọt máu để chữa bệnh cứu người. Người ta đọc Ba Chàng Ngự Lâm, buột miệng nói: thấy mà ghê! Bác sĩ Tây Y Việt không bao giờ không chỉ trích đánh gió, giác hơi, cắt lễ, với ý khẳng định rằng đánh gió làm vỡ mạch máu nên lưng có lằn y như roi quất, rằng giác hơi làm phồng dộp da lưng cùng nguy cơ cháy phỏng, và rằng cắt lễ rất mất vệ sinh gây ra nhiễm độc máu. Người Việt thì tất nhiên vừa nghe lời bác sĩ Tây Y, vừa thần phục y học Âu Mỹ, nên không cho phép bà nội, bà ngoại, hay mẹ già được đụng vô mình với mấy thứ “vũ khí” ghê rợn đó khi mình bị … trúng gió. Đến khi không thể phủ nhận tác dụng trị liệu của “đánh gió” như một thứ massage nhất là khi đánh gió với dầu khuynh diệp, bác sĩ Tây Y mới phán một cách khôn ngoan rằng đánh gió rất nguy hiểm đối với người bị cao huyết áp, nghĩa là cứ áp cái hù dọa và tính từ tiêu cực cho đánh gió, thay vì nói đánh gió có tác dụng tích cực đối với những người khỏe mạnh. Đến khi thấy Trung Quốc và Hàn Quốc chào bán dụng cụ giác hơi chân không, các bác sỹ Tây Y thôi không nói gì về giác hơi, vừa không muốn đụng chạm đến giới y dược các nước ấy do ở nước họ Tây – Đông phối hợp hòa thuận mà các hãng đưa vào Việt Nam cơ man nào là thuốc Tây với chiết khấu hậu hỉ cơ mà. Đến khi thấy cắt lễ tự động biến mất, các bác sĩ Tây Y ở Việt Nam không nói gì thêm về phương pháp chữa bệnh này.

Thế là những người giàu có muốn sống lâu, những người Âu Mỹ tuyệt vọng trước thuốc Tây, và những người chẳng có vấn đề gì về sức khỏe nhưng bị mê hoặc bởi các lời đường mật do chính các hãng thực phẩm chức năng của Âu Mỹ soạn ra để tiếp thị “thần dược Đông Phương made-in-USA”, đổ xô đến Hàn Quốc, chờ được “chữa”, rồi mua biết bao “thần dược” thực phẩm chức năng cho vào ba-lô trước khi lên đường chu du đến thăm bao danh lam thắng cảnh xứ Hàn, khiến đất nước của Nàng Đê-Chang-Kưm (giai nhân điện ảnh cực hiếm trên toàn thế giới vì vừa đẹp tuyệt trần, vừa đúng là ngôi sao thực thụ của nền điện ảnh thực thụ, vừa có văn hóa cao học lực cao và học thức cao) hừng hực tiến mạnh phát triển du lịch, hốt bạc từ y dược truyền thống dân gian (có nghi vấn: không biết Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn khi tháo chạy từ Việt Nam Cộng Hòa về nước, có đem theo “kinh nghiệm” của người Việt đánh gió, giác hơi, và cắt lễ biến thành của … tổ tiên Hàn?), và qua đó biến văn hóa đời sống, ẩm thực, văn minh, con người, vang danh toàn thế giới.

Sau khi tiếc ngẩn tiếc ngơ trước những gì Hàn Quốc làm để vinh danh tài sản trí tuệ của Ông Cha của họ (hay copy của tổ tiên người Việt), ta nên quay trở lại Mỹ để biết cái tài sản trí tuệ Đông Phương cũng được các nhà tư bản “xem trọng” ra sao qua những chiêu thức nhanh nhạy, chuyên nghiệp, đẳng cấp cực cao của họ. Xin xem hồi sau sẽ rõ.

E) Hãy Nhìn Ra Thế Giới: Hoa Kỳ

Hầu như có rất nhiều người Việt có thân nhân ở các nước Âu Mỹ, và “quà cáp” họ thường nhận với số lượng “khủng” là thực phẩm chức năng vì chỉ có thực phẩm chức năng mới là thứ đóng vai trò thể hiện tình thương, đạo hiếu, tình cảm của người Việt xa quê dành cho thân nhân và người thân thương ở Việt Nam. Tất cả cho thấy hàng năm ngoài số lượng nhập khẩu chính thức để bán tại “nhà thuốc”, siêu thị, và các công ty đa cấp, ắt có hàng triệu lọ thực phẩm chức năng đổ bộ vào Việt Nam qua hàng quà biếu hay trong va-li của Việt Kiều, từ đa sinh tố (như Centrum có vài chục sinh tố từ A đến Z, hay như Kirkland trộn Calci với hai sinh tố D và K) đến đơn sinh tố (chỉ một loại sinh tố, như Kẽm Zinc), và … nghiền hạt của trái nho làm “thuốc” bổ tim

Và qua bàn tay điêu luyện chuyên môn của các nhà chuyên môn tiếp thị PR, viết nên những câu chuyện thần bí thần kỳ ở những xứ miền Anh-đô-nê-diêng hay đảo quốc đã từng tồn tại hay sắp bị biến đổi khí hậu nước biển dâng nhấn chìm, biến những quả ngon ngọt đầy dẫy ở Việt Nam (như măng cụt hoặc trái nhàu có mùi khai gai góc mà dân Việt dùng nuôi dê) thành thần dược thần diệu mà nói theo cú pháp của mấy ông đạp xe bán dạo keo dính chuột là: “không có thứ trái cây nào có thể so sánh được”.

Thậm chí sau khi đã dùng hết tên các địa danh huyền thoại, cũng như đã hết “nguồn” của cải “quả”, “lá”, “rễ”, “cành” và…“từ ngữ”, các nhà sản xuất thực phẩm chức năng Mỹ nhanh tay sử dụng luôn những thứ như… dầu dừa (thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Việt Nam Cộng Hòa, phụ nữ các tỉnh vẫn còn dùng dầu dừa để vuốt tóc cho óng mượt, nuôi dưỡng tóc cho dài, chắc, dày; còn sau ngày 30-4-1975 thì mấy nhà máy SEP tức trích ly dầu thực vật do… công ty tôi cung cấp cho các tỉnh như Bến Tre thì nhằm sản xuất dầu dừa làm dầu ăn) làm viên nang mềm cực đẹp và tinh tế mà chẳng thèm làm PR marketing cũng như chẳng ghi công dụng tốt cho “chức năng” nào của cơ thể, đồng thời phớt lờ chẳng in cái câu mà FDA yêu cầu!

Những việc trên cho thấy thực phẩm chức năng là đối tượng của một ngành kinh doanh siêu lợi nhuận tại Hoa Kỳ. Siêu lợi nhuận vì thoát được những ràng buộc khắt khe của “thuốc”, tất nhiên trừ yêu cầu về cGMP (Current Good Manufacturing Practices) và chịu sự điều chỉnh của đạo luật DSHEA 1994 (Dietary Supplement Health and Education Act of 1994) dưới cơ chế quản lý nhà nước của FDA như đối với tất cả các nhà sản xuất dược phẩm và thực phẩm khác. Sự phát triển rầm rộ của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng tại Mỹ cho thấy người tiêu dùng Mỹ quay sang loại “thuốc thay thế” này, khiến có các khuyến cáo kêu gọi người dân Mỹ hãy bình tĩnh đừng mặc định rằng những gì của thiên nhiên không có hóa chất là đương nhiên tốt hơn thuốc tây (tân dược), và chỉ nên mua thực phẩm chức năng “hàng hiệu” để yên tâm hơn về chất lượng.

Nếu như thập kỷ cuối cùng của Thế Kỷ XX là thời hoàng kim của sự bùng nổ ngành kỹ nghệ thảo dược Hoa Kỳ, thì sụt giảm về doanh số bán trong thập kỷ đầu tiên của Thế Kỷ XXI này chỉ cho thấy ngành thảo dược đã phát triển quá nóng với sự bon chen vào sân của các đối thủ từ Châu Âu, kể cả từ các nước Đông Âu khối xã hội chủ nghĩa cũ. Tuy có điều oái oăm là các nước Châu Á chỉ bắt đầu vào sân chỉ sau khi đột nhiên thấy những “thứ” của Ông Cha mình đang làm giàu cho các nhà sản xuất thực phẩm chức năng Âu Mỹ, song sự có mặt của họ như những nhà sản xuất của các nước có nền y học cổ truyền hưng thịnh cũng khiến ảnh hưởng đến doanh số của các nhà đại tư bản Âu Mỹ. Tức giận, người ta đổ lỗi cho mọi thứ, chẳng hạn như Mark Blumenthal, nhà sáng lập kiêm giám đốc điều hành Hiệp Hội Thảo Mộc Hoa Kỳ ở Bang Texas, đồng thời là chủ bút tờ báo về thảo dược HerbalGram, đã chỉ trích các phương tiện truyền thông đại chúng cứ nói lung tung linh tinh công kích thực phẩm chức năng khiến thị trường sút giảm, chẳng hạn cứ nói kiểu đó là ngành kỹ nghệ phi luật lệ làm người tiêu dùng hết tin vào sự chuyên nghiệp của ngành và sản phẩm, thậm chí việc cơ quan chính phủ không chịu công nhận dược tính thảo dược đối với công tác phòng bệnh cũng làm gia tăng tiêu cực kinh doanh. Trong khi đó, một cách ôn hòa hơn, Ông Greg Ris, phó tổng giám đốc kinh doanh của Indena USA ở Bang New Jersay, nhìn nhận rằng chính thị trường phát triển bùng nổ phải chịu trách nhiệm vì nhu cầu tăng quá nhanh dẫn đến áp lực về giá bán thành phẩm giảm và giá mua thảo mộc nguyên liệu tăng. Đơn cử một thí dụ như đinh hương (clove) được Mỹ thu mua cả quả và thân nhánh từ các nước Madagascar, Singapore, Pháp, Sri Lanca, Indonesia, Tanzania, Moldova, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc, v.v., mỗi năm gần 2.000 tấn do thiếu hụt nguồn cung trong nước, kể cả ở nước ngoài do số lượng nhà sản xuất thì tăng nhưng diện tích đất trồng thì không tăng.

Sự cạnh tranh trong nội bộ thị trường Mỹ cho người ta thấy ngành kỹ nghệ này rất chính danh tương tự bất kỳ ngành công nghiệp lớn và quan trọng nào khác của nền kinh tế quốc dân. Brian Stephenson cho rằng người dân Mỹ khi hàng năm chi nhiều tỷ USD cho thực phẩm chức năng nhưng trước số lượng gần như vô tận các nhà sản xuất và nhà thuốc thực phẩm chức năng mọc lên hơn nấm, thì người dân Mỹ của ông cần lưu ý đến 3 điều sau:

- Không có sự khác biệt giữa “thuốc” và “thực phẩm chức năng” vì cả hai đều có tác dụng nếu dùng đúng cách. Sự khác biệt sở dĩ có là tại FDA xem những “thứ đó” như thể chúng là “thực phẩm”, từ đó FDA bày ra cách giải thích kỹ thuật rằng “chúng” là những sản phẩm dùng bằng đường miệng, có chứa chất liệu nhằm bổ sung cho khẩu phần ăn, trong khi “thuốc drug” là những sản phẩm được định nghĩa theo pháp luật là những chất liệu được dùng nhằm khám bệnh, chữa bệnh, hay phòng bệnh. Hóa ra thực phẩm chức năng bị FDA xem chẳng khác nào như viên kẹo ngậm cho mát cổ họng.

- Do “thực phẩm chức năng” cũng là thuốc, nên đừng vội tin rằng đó là “thực phẩm” mà dùng vô tư. Phải có tham vấn của bác sĩ, vì không nên dùng cùng lúc hai loại … “thuốc” này với “thuốc tây”.

- Nên mua “hàng hiệu” vì không phải cứ sản phẩm thiên nhiên, không sử dụng hóa chất, là mặc định rằng “thuốc” ấy (thực phẩm chức năng) đương nhiên tốt, vì rằng chính do là sản phẩm thiên nhiên nên có khi lại dính thuốc trừ sâu bệnh, vi khuẩn ngoài trời, khoáng chất kim loại nặng rất độc hại của thiên nhiên, và sự gia giảm hàm lượng để gia tăng lợi nhuận của nhà sản xuất cạnh tranh không chân chính.

Như vậy, siêu cường Hoa Kỳ đã chứng tỏ họ là siêu cường cả về thảo dược mà cơ quan FDA của họ gọi là “thực phẩm chức năng”. Điều cần lưu ý ở đây là: cơ quan FDA gọi đấy là “thực phẩm chức năng” không vì nó không có dược tính, không vì ý muốn ngôn từ của các nhà sản xuất thực phẩm chức năng, các bác sĩ chữa bệnh bằng thảo dược, và không vì mong muốn của bệnh nhân Mỹ, người tiêu dùng Mỹ. Vậy ở Việt Nam xử sự thế nào với thảo dược? Nếu thực phẩm chức năngthực phẩm, liệu người tiêu dùng có cho là họ bất bình thường khi bỏ tiền ra mua với giá cao những viên mà trái cây ngon ngọt thơm lừng họ có thể mua với giá rẻ hơn để… ăn tươi nuốt sống? Xin mời xem hồi sau sẽ rõ.

F) Hãy Nhìn Vào Ta

Có thể người Việt ta ham học hỏi, thậm chí có bạn trẻ khi dự phỏng vấn xin việc ở công ty nước ngoài lại nói rằng bản thân ham học hỏi và muốn vào để học hỏi hoặc sẽ học hỏi để khắc phục những năng lực còn chưa đạt, mà không biết rằng đối với nhà phỏng vấn chuyên nghiệp đẳng cấp cực cao thì một dấu X to tướng đã xuất hiện gạch chéo ngang hồ sơ trước mặt ngay khi tai vừa nghe thấy từ “học hỏi” vì người ta chỉ muốn tuyển dân chuyên nghiệp đã qua đào tạo chứ không tuyển…học viên. Anh phải nhuần nhuyễn, tôi mới tuyển. Anh còn phải học hỏi thì cứ về học cho xong, vài năm nữa quay lại để phỏng vấn tiếp nhé. Chính vì ham học hỏi mà người ta luôn thấy kẻ khác ở nước ngoài là Thầy ta. Chính vì ham học hỏi mà người ta luôn thấy bản thân chẳng có gì hay ho để đem ra dạy người khác. Chính vì ham học hỏi mà người ta nói đi học tiếng Anh để tiếp thu văn hóa nước ngoài chứ chẳng ai như nhà giáo Hoàng Hữu Phước nói học thật giỏi tiếng Anh để dạy cho đại học Mỹ các môn lịch sử Việt Nam và Văn Học Việt Nam, hoặc học tiếng Anh để dạy môn Ngôn Ngữ Học Tiếng Việt cho sinh viên Anh Mỹ. Cứ thế mà giới y khoa gọi bác sĩ Tây Y là “bác sĩ” chứ không xem trọng bác sĩ Đông Y nên không gọi họ là “bác sĩ” mà gọi hết sức xằng bậy về ngữ nghĩa là “lương y” thay vì phải gọi là bác-sĩ-Tây-Y và bác-sĩ-Đông-Y; còn bác sĩ Tây Y đeo ống nghe (chẳng biết để làm chi) để rồi cằn nhằn người mẹ hay người vợ của người bệnh khi thấy lưng người bệnh có mấy đường cạo gió hay mấy mặt trăng tím bầm của giác hơi, rằng làm vỡ mạch máu, v.v. và v.v., phủ nhận nhiều sự thật rằng tổ tiên Việt Nam đã dùng “thực phẩm chức năng” để chữa bệnh từ ngàn xưa để ra sức thần uy Phạt Tống, Bình Chiêm, Trừng Minh, Trị Thanh, Đuổi Xiêm, Rượt Phỉ; rằng danh tiếng của “cạo gió” đã theo chân người lính Mỹ về đến Hoa Kỳ với những tác phẩm hồi k‎ý không phải nhớ mấy em bán dâm mà nhớ mấy lần say xỉn trúng gió được mấy ẻm đè ra cạo gió nhờ vậy còn sống đến ngày rút quân; và rằng bà mụ đỡ đẻ Việt Nam từ xa xưa đã biết rửa tay bằng nước ấm pha gừng trước và sau khi đưa hài nhi ra khỏi cửa mình người mẹ, chứ không như giới Tây Y ngay thời cận đại còn “đì” một ông bác sĩ làm ông bị tống cổ ra khỏi viện hàn lâm y học rồi chết trong nghèo khổ đơn độc mà kẻ đưa ma chỉ là một chú chó trụi lông chỉ vì ông ấy dám đề nghị mọi người rửa tay với xà phòng trước và sau khi khám mỗi sản phụ và bệnh nhân để may ra không làm nhiễm bệnh cho bệnh nhân tiếp theo.

Như trong bài Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương, nhiều chùa cũ ở Việt Nam bị các sư cho đập bỏ để xây chùa bê-tông lớn hơn, sát mặt đường hơn cho rộng nơi ở hơn, không phí dù một khoảnh nhỏ nào để trồng cây xanh bóng mát, hầu như những y sĩ Việt Nam cũng theo tâm lý chung ấy rằng cái mới ắt tốt hơn, đáng tin cậy hơn. Tất nhiên ai cũng công nhận chùa bê tông khó cháy hơn chùa gỗ. Tất nhiên ai cũng công nhận ngành phẫu thuật và vi phẫu thuật của Tây Y không bao giờ là thế mạnh của Đông Y cũng như các thuốc và vắc-xin quan trọng sống còn với sự sinh tồn của nhân loại. Nhưng cho rằng toàn bộ kinh nghiệm dân gian về các loại thảo mộc dùng trong chữa bệnh là thứ vất đi thì lại là một thứ cực đoan kỳ lạ, lẽ ra chỉ xuất hiện ở nước nào chưa từng có các kinh nghiệm ấy, chứ không tại xứ sở luôn viết lời vinh danh những nào là “thần y” này, “ngự y” nọ, đồng thời gây hoang mang vì lớn tiếng phủ nhận rằng “thứ đó” không có tác dụng trị bệnh thay thuốc. Vậy các danh y và thần y ấy được ca ngợi ắt không do chữa bệnh chăng? Song, dù không cần tranh luận thắng hay thua, vẫn phải công nhận một điều rằng ta đã không làm điều như Hàn Quốc đang làm, và ta đã làm điều FDA của Mỹ làm chứ không làm điều giới phát triển thực phẩm chức năng Mỹ làm là tranh đấu đòi trả lại tác dụng chữa bệnh của thực phẩm chức năng.

Ta có cơ may nào đưa sản phẩm thực phẩm chức năng vào thị trường Mỹ không? Không. Vậy tại sao phải buộc ghi câu phủ nhận lên sản phẩm của Việt Nam cho thị trường Việt Nam? Phải làm sao, đó là câu hỏi mà câu trả lời khi xem ở hồi sau sẽ rõ.

G) Sau Khi Biết Người, Biết Ta: Hãy Là Chính Mình Và Vượt Lên Chính Mình

Thay vì dựa vào … “sách thuốc” của các … thần y và ngự y “nội” để nghiên cứu phục vụ nhân dân, các dược sĩ ta đa số mong tốt nghiệp để mở tiệm thuốc tây hay cho người khác thuê văn bằng để mở tiệm thuốc tây. Thậm chí có vị quan tâm đến thảo dược trong “sách thuốc” chỉ sau khi ở nước ngoài có người (kể cả có Việt Kiều) nghiên cứu chế tạo như trường hợp của Trinh Nữ Hoàng Cung trong khi các doanh nhân Việt thì nhanh tay làm…trà túi lọc Trinh Nữ Hoàng Cung cũng ghi xa xa ám chỉ về “dược tính” nhưng ghi to đùng dòng chữ phủ nhận dành cho thực phẩm chức năng…Mỹ. Hoặc quan tâm đến thảo dược chưa hề có trong “sách thuốc” nước mình chỉ khi thấy nước ngoài chế tạo rùm beng như trường hợp Dây Thìa Canh, cũng bắt chước sản xuất theo với lời vinh danh kiểu kẻ cướp rằng đã tự dày công nghiên cứu phát hiện Dây Thìa Canh ở vùng núi những tỉnh nào ở Việt Nam và thử nghiệm lâm sàng phát hiện dược tính nào nên nay cho ra đời sản phẩm sau, v.v. và v.v., tất nhiên có ghi thêm kiểu “nói thế mà không phải thế” với câu tự phủ định rằng đây chớ phải là thuốc, rằng đây chớ trị được bịnh, và đây chớ được dùng thay thế thuốc.

Ta hãy là ta! Đây là “thuốc” Nam của ta! Nếu “Nước Nam là của dân Nam” thì “thuốc Nam là của dân Nam”, sao lại hổ thẹn mà tự phủ nhận? Nếu như một người nước ngoài nào đó nói như sau :

Tui là người nước ngoài quan tâm đến thảo dược Đông Phương, nếu nước anh có, thì tui sẽ tìm đến; còn nếu anh chỉ có thuốc tây thì tui đến làm chi? Bọn nước ngoài tụi tui đánh giá cao về vệ sinh, nên nước nào có nền y học cổ truyền hiệu nghiệm thì tụi tui kính trọng vô cùng vì đó đích thị là văn minh, là trí tuệ, là nhận thức nghiêm túc của người xưa ở nước ấy. Bạn hỏi tui làm sao biết “hiệu nghiệm”ư ? Chắc bạn hỏi chơi chứ ai chẳng biết là nếu như ngành y học cổ truyền ấy đang được vinh danh, phát triển, và được chính người dân nước ấy sử dụng ngay cả trong thời hiện đại này, thì đó là dấu hiệu chứng minh các phương “thuốc” và cách chữa trị của người xưa đã rất hữu hiệu. Bọn tui phải nhanh tay nhanh chân đổ xô tìm đến ngay, cứ như là cuộc đổ xô tìm vàng thời miền Viễn Tây Hoa Kỳ ấy chứ lị!

thì các bạn nghĩ sao ?

Người dân Việt vẫn gọi mấy thứ sinh tố là thuốc bổ, và không có hình thức phạt hành chính nào áp dụng đối với ai không gọi viên sinh tố là viên thực phẩm chức năng. Vậy tại sao cứ mặc định rằng chữ “thuốc” phải mang ý nghĩa duy nhất tương đương “medicine” hay drug của tiếng Anh?

Ghi dòng chữ phủ nhận cho thực phẩm chức năng, phải chăng muốn nói rằng chỉ có thuốc tây mới trị được bệnh? Thuốc tây trị được bịnh là một mặc định không đúng sự thật. Ngoài ra, y học nước Mỹ có cả các “bác sĩ” ngành thảo dược, và các vị này có những công trình nghiên cứu cho thấy thực phẩm chức năng cũng là “thuốc”, vì vậy không nên tự ý dùng chúng như… “thực phẩm” cùng lúc với uống “thuốc tây”; còn giới kinh doanh thì đặt ra tên mới cho thực phẩm chức năng là nutraceutical (nutrition + pharmaceutical = dinh dưỡng + dược phẩm) hoặc alternative medicine (sản phẩm dùng thay thế thuốc) nghĩa là giành cho bằng được nội dung “thuốc” chữa bệnh của thực phẩm chức năng. Sẽ thật là kỳ lạ nếu vẫn chưa có bác sĩ hay dược sĩ nào của Việt Nam viết bài công kích mấy ông Mỹ ấy. Và cũng sẽ thật là kỳ lạ nếu Việt Nam cho phép mấy công ty của mấy ông Mỹ ấy vào kinh doanh hàng thực phẩm chức năng với giá trên trời của hình thức đa cấp, cho phép các công ty dược nhập khẩu thực phẩm chức năng của mấy ông Mỹ ấy với nào là viên tỏi, viên gừng để tích cực phục vụ nhu cầu của người dân Việt.

Nhất thiết phải bỏ câu phủ định trên các sản phẩm thảo dược Việt Nam. Dân chúng tôi uống để trị bệnh, nên nếu quý vị ngoại kiều tin thì cứ đến Việt Nam mua mà dùng, chẳng ai ép, chớ ai dụ, và hà cớ gì chúng tôi phải ghi mấy dòng chữ của FDA mà chính các vị đang phản công bên nước các vị. Ngoài ra, lợi thế của thảo dược là phải dùng lâu dài, phải kiên nhẫn, và người tiêu dùng có tri thức đều nhận biết điều này cũng như hiểu rõ rằng cả thuốc tây và thảo dược đều không là “thần dược” vì còn tùy vào nhiều yếu tố khác như cơ địa và tình trạng sức khỏe thực sự của mỗi người, nên khi sử dụng sẽ không có chuyện bù lu bù loa đòi lại tiền như trẻ nít hay chửi bới như người ngoài hành tinh. Đến với thảo dược truyền thống dân gian tức là đến với niềm tin cũng như hy vọng vào thứ gần như là cuối cùng. Sự tự phủ nhận là cách xử sự rất kỳ quái đối với người tiêu dùng, tước đi của họ sự hy vọng ấy. Trên đời này không có nhà kinh doanh nào làm như thế, trái lại họ luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhất là khi khách hàng ấy đang còn niềm hy vọng cho bản thân hay người thân.

Thực phẩm chức năng ư ? Không phải!

Câu cần in ngoài bao bì nên là: Đây không phải là thuốc tây hóa chất nên không mang tác dụng chữa bịnh của thuốc tây hóa chất. Sản phẩm này được sự cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam. Không có câu này, hóa ra Bộ Y Tế phó mặc sức khỏe và sinh mạng người dân sao?

Thứ giết người và giết chuột thì được phép dùng chữ thuốc để thành thuốc độcthuốc chuột. Vậy thứ giúp cải thiện sức khỏe và chức năng này nọ trong cơ thể con người lại bị nghiêm cấm bằng câu vô duyên không phải là thuốc ư ?

Đó là thuốc từ nguồn thực vật thiên nhiên truyền thống và hữu hiệu của Việt Nam. Câu đúng phải ghi – nếu muốn tỏ lòng thần phục bái phục FDA của Mỹ – phải là : đây không phải là thuốc Tây hóa chất và không thể dùng thay thế thuốc Tây hóa chất trong chữa bệnh.

Bằng không, phải sửa lại sử sách để ghi rằng từ ngàn xưa nước Việt đã có thuốc Tây và nhờ vậy đã đánh thắng tất cả các giặc ngoại xâm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2] Trang Emotino.com của cộng đồng doanh nhân đã ngưng hoạt động từ Qu‎ý III năm 2014.

[3] Hoàng Hữu Phước. 06-01-2012. Mở Hướng Kinh Doanh: Thực Phẩm Chức Năng.http://www.emotino.com/bai-viet/19471/mo-huong-kinh-doanh-thuc-pham-chuc-nang-hay-la-chinh-minh-vuot-len.

[4] Hoàng Hữu Phước. 11-5-2010. Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/02/nen-cu-lau-dai-bong-tich-duong-luan-ve-bao-ton-bao-tang/ .

Emotino.com có nhiều bài của Hoàng Hữu Phước viết về y tế và y học. Ba bài sau sẽ được chọn đăng lại trên blog.com:

Giới Thiệu Một Thức Uống Quý Tộc Thời Dịch Bệnh. 29-5-2009.  http://www.emotino.com/bai-viet/17823/gioi-thieu-mot-thuc-uong-quy-toc-thoi-dich-benh-pernod

Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của Phương Thuốc Rượu Tỏi. 28-3-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

Luận Về Trái Cây Việt Nam. 24-05-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18619/luan-ve-trai-cay-viet-nam

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Báo Người Lao Động: Gương Trân Trọng Người Tài

– Gương Trân Trọng Người Tài –

(Bài thứ hai trong loạt 4 bài viết về 4 tờ báo lớn của Thành phố Hồ Chí Minh[1])

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Trong nhiều năm tôi viết liên tục những bài viết dài cho báo Người Lao Động của Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt cho chuyên trang Việc Làm. Và chỉ cần nhìn vào phần giới thiệu phía trái trên của trang 9 của tất cả các số báo

là đủ thấy vào thủa ấy báo Người Lao Động đã là tấm gương cho toàn bộ nền báo chí nước nhà trong việc biết cung kính trước người nào mà báo Người Lao Động tự đánh giá là…giỏi nhất: tên “Ông” Hoàng Hữu Phước luôn luôn đứng trên cùng trong một danh sách có những người mang học vị “thạc sĩ” hay “tiến sĩ”, mà danh sách này không theo thứ tự trước-sau của giới chức sắc quyền lực của hệ thống chính trị, cũng không theo thứ tự trước-sau của bảng mẫu tự tiếng Việt hay tiếng Anh – mà dù nếu có ai đó xấu tính xấu nết cố tình lập luận rằng tại bị vì bởi danh sách được xếp theo hình chóp kim tự tháp thì vẫn dễ dàng bị “phản biện” rằng (a) trong thế giới học thuật quản trị kinh doanh thì đỉnh chóp kim tự tháp là nơi thượng tầng của thiểu số cao cấp nhất của nhu cầu, và rằng (b) hãy xem ảnh minh họa ở trên sẽ thấy ở giữa có tên của Bà Nguyễn Thị Bạch Yến không đáp ứng yêu cầu của “kim tự tháp” vốn nhất thiết đòi hỏi phải có triền sườn thẳng thớm.

Sự kính trọng, tôn trọng có được nơi báo Người Lao Động làm tôi thiển nghĩ ắt vì tôi trong nhiều năm viết bài đã hội đủ cùng lúc tất cả 12 nhánh tiêu chuẩn của 3 cụm tiêu chuẩn chính sau của người mà báo chí chính quy của Đảng và của nhân dân luôn luôn cần có:

1- Đề tài đạt 4 chuẩn của (a) “thời thượng” tức vấn đề chính của xã hội theo chuyên mục; (b) “nóng bức” tức “nóng + bức bách”, tức cấp bách mà chưa ai trong nước có thể vấn kế và truyền thụ kinh nghiệm; (c) ích quốc hoặc lợi dân, hoặc cả hai; và (d) cho chính nghĩa của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

2- Bài viết đạt 4 chuẩn gồm (a) thật dài để chiếm ít nhất ¼ trang báo lớn, (b) nội dung văn phong cùng thông tin thật độc đáo độc quyền để trở thành bài chính của trang, (c) lôi cuốn sự quan tâm của người đọc làm gia tăng doanh số bán của tờ báo, và (d) biến báo Người Lao Động trở thành tờ báo đẳng cấp chính quy chính thức của người lao động Thành phố Hồ Chí Minh và vươn ra toàn quốc;

3- Người viết đạt 4 chuẩn gồm (a) có uy tín nhất trong ngành tư vấn việc làm của công ty lớn nhất, quyền lực nhất của hiện thời; (b) có tâm hướng thượng vì lợi ích của người dân, nhất là công dân trẻ, và vì quốc thể, được thể hiện qua trách nhiệm cao trong thông tin quan trọng, nhạy cảm, và không bao giờ nhận tiền nhuận bút mà tuyên bố dành tất cả cho quỹ bảo trợ người nghèo hoặc chương trình từ thiện của báo Người Lao Động; (c) có thẩm quyền tuyên bố về những vấn đề, vấn nạn, cùng các biện pháp để xử lý luôn tình huống chứ không theo bài bản của mọi người là “đề xuất để cấp trên xem xét”; và (d) có quá trình công tác nổi bật, được công chúng thuộc giới của lĩnh vực viết về biết đến.

Riêng về phần người viết thì “uy tín” được thể hiện qua việc các lãnh đạo các văn phòng nước ngoài mỗi khi có sự cố về nhân sự cần được tư vấn pháp luật hoặc biện pháp xử lý đều trực tiếp tìm đến nhân vật Hoàng Hữu Phước, thí dụ như nội dung tờ fax sau của một vị Trưởng Đại Diện đã phản ảnh ngay khi được nhân viên cung cấp ý nghĩa của một thông tin trên báo Người Lao Động rằng đã phỏng vấn và tôn vinh một nữ lãnh đạo ngôi sao của doanh nghiệp nước ngoài trong khi vị này lại “tố” rằng đó là người phụ nữ đã gây bao điều tác tệ cho công ty của ông và mong tôi tư vấn pháp luật để xử lý đòi lẽ công bằng và trừng trị kẻ gian:

Ngoài ra, “uy tín” còn được thể hiện ngay khi phát hiện báo Người Lao Động có đăng một bài của một kỹ sư viết về “lò vi ba” (sau này thiên hạ ngoài Bắc gọi nửa nạc nửa mỡ, nửa Hán Việt nửa thuần Việt là “lò vi sóng”), gọi nó là “cái bếp đun”, tôi đã fax ngay đến tòa soạn một thư khẳng định nội dung bài viết đó sai hoàn toàn, bậy hoàn toàn, nguy hại hoàn toàn, kèm theo một bài viết mà ngay sau đó tòa soạn đã đăng ngay trên số báo tiếp theo mà không sợ vị kỹ sư ấy mếch lòng:

 

Còn về nội dung bài viếtđề tài thì những bài viết dài như Anh Văn Bằng A, B, C, Hay Cử Nhân; hoặc Những Tính Xấu Có Thể Làm Bạn Mất Việc, hay Tu Nghiệp Nước Ngoài: Đừng Để Bị Lợi Dụng; và Lương Gross Hay Lương Net, v.v. đã luôn chiếm phần trang trọng của báo và là những bài luôn “nổi đình nổi đám” vào thời điểm chưa có bất kỳ ai dù được gọi hay tự phong là nhà tư vấn việc làm, nhà tư vấn nhân sự chính quy cao cấp, và nhà biện thuyết về nhân sự cả, nhất là khi nhà tư vấn ấy còn là diễn giả thường xuyên tại các buổi thuyết trình trước nhiều trăm khán giả là nguồn lực của nền kinh tế quốc dân như mẫu tin năm 1997 dưới đây trên báo Người Lao Động:

 

Có thể vấn nạn “hai mang” như dịch bệnh lây lan vấy bẩn phần lớn các báo giấy hay báo mạng ở Việt Nam nên mới có việc vài nhân viên và bạn hữu của tôi báo tin tôi biết rằng Báo Người Lao Động có tham gia tấn công tôi trong vụ “dân trí thấp[2] [3] và “tứ đại ngu[4]. Tôi đã cười khoan dung độ lượng nói rằng nếu người viết còn trẻ tuổi thì ắt là con nít non dạ và yếu nghề nên rất đáng thương hại cho người viết, còn nếu người viết từ 30 tuổi trở lên thì chính là thuộc bọn hai mang nên rất đáng thương hại cho tòa soạn. Virus hai mang ấy nếu được phát hiện ra, nhất thiết phải bị diệt trừ. Đảng không thể dung túng việc phát tán virus hủy hoại đời sống tinh thần của nhân dân. Và người dân trưởng thượng đoan chính không bao giờ chấp nhận những tờ báo ngập ngụa bài viết của bọn virus hai mang ấy. Báo Người Lao Động ắt phải đồng tình với tôi rằng uy tín của báo tùy thuộc vào (a) người viết báo, đề tài viết báo, nội dung bài báo, và (b) báo không chứa chấp bọn hai mang.

Giá như báo Người Lao Động có Phòng Truyền Thống đúng nghĩa cũng như hàng năm có tổ chức họp mặt những người đã góp công sức vào việc nâng cao vị thế báo Người Lao Động trong xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ ngày thành lập báo đến nay thì lẽ ra “phóng viên” của họ đã có thể biết “ai là ai” để tỏ lòng tôn kính tôn trọng nhanh chân chen nhau tìm đến để được bảo ban, hướng dẫn tác nghiệp báo chí thành công.

Cảm ơn Báo Người Lao Động của thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Gương trân trọng hiền tài của Báo Người Lao Động sẽ là điểm son sáng nhất trong Báo Sử của Việt Nam cho đến ngày tận thế.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

 

[1] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. http://hhphuoc.blog.com/?p=182

[2] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Phát Biểu Của Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[4] Hoàng Hữu Phước. 02-2013. Tứ Đại Ngu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

Lời Cảm Ơn Của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

Gần đây tôi nhận được rất nhiều lời động viên từ không gian mạng.

Từ khi tạo blog mang tên Aspiration năm 2005 trên Yahoo!3600 cho các bài viết bằng tiếng Anh, mỗi khi đăng một bài và nhận được những lời phê bình khen tặng là tôi đều viết thư bằng tiếng Anh hoặc bằng tiếng Việt tùy lời khen nhận được bằng ngôn ngữ gì để cảm ơn. Với lời cảm ơn bằng tiếng Việt, đôi khi tôi thực hiện bằng một bài thơ; và theo thời gian, những bức thư và các bài thơ đã gia tăng về số lượng; song, nội dung luôn xoay quanh một điều tương tự vì những gì tôi viết dù nhiều về số lượng, thuộc bất kỳ chủ đề nào và bằng ngôn ngữ gì đi chăng nữa cũng luôn nhằm vinh danh đất nước Việt Nam và những điều chính nghĩa của đất nước này.

Năm 2011 Luật sư Vũ Ngọc Dũng, Tổng Giám Đốc Bắc Việt Luật ở Hà Nội, có gởi đến tôi lời động viên, ủng hộ, cùng một bài thơ tựa đề “Thầy” như sau:

và tôi đã kính gởi đến vị luật sư này bài thơ sau viết theo thể Đường Luật đăng trên Emotino.com:

     Sông núi hùng anh vẫn hãy còn

     Sơn hà thánh tổ để đàn con

     Điểm tô thêm sắc thêm ngời rạng

     Vinh danh vạn thế chẳng xói mòn.

     Chí Việt hướng về phương cẩm tú 

     Tâm Nam soi chọn nẽo vuông tròn

     Một lòng đau đáu vì non nước

      U hoài giấy trắng tỏ lòng son

     Hoàng Hữu Phước, 08-12-2011.

Nay để tỏ lòng biết ơn những người đã gần đây gởi đến tôi những lời động viên, ủng hộ, tôi xin được sử dụng bài thơ tôi đã tặng vị luật sư trên, người mà cho đến nay tôi vẫn chưa từng được gặp mặt, để tỏ chí hướng của mình như một lời cảm ơn chung tận đáy lòng đến tất cả, cho tất cả, và vì tất cả.

Trân trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tôi và các Luật Sư

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 

Vào những năm 1980 và những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ trước [1] lúc Trương Trọng Nghĩa [2], người hiện là Đại biểu Quốc hội Khóa XIII và Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam còn đang được Nhà nước dùng tiền ngân sách từ tiền thuế của nhân dân cử đi mài đũng quần học Luật ở Cộng hòa Dân chủ Đức và Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ (đến năm 1996 vừa được cho về công tác tại Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tháng 2 thì qua tháng 10 đã được thăng quan tiến chức làm lãnh đạo Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh, nghĩa là thời gian thực sự làm việc “luật sư” chả là bao, ngoài “đại công” tự khoe trên web là đã thành công đem thắng lợi cho thân chủ là công ty “nước ngoài” đập một doanh nghiệp “thuần Việt” te tua đền tiền mệt xỉu, để rồi từ tháng 10 năm 2008 trở thành Phó chủ Tịch Liên Đoàn Luật Sư Việt Nam, và vô Quốc Hội Khóa XIII tích cực phát biểu đòi có Luật Biểu Tình và chầu chực đợi có biểu tình là xách máy quay phim đi quay ắt muốn hành nghề nhà báo khi tuổi già sức yếu chứ chưa bao giờ đem “kiến thức” Luật để tư vấn dân chúng sống và làm việc theo luật pháp vì bản thân ắt chưa bao giờ làm luật sư đúng nghĩa) thì tôi đã là nhà tư vấn luật pháp cho các ngoại giao đoàn và tất cả các văn phòng đại diện công ty nước ngoài hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh, dịch thuật sang tiếng Anh các bộ luật hiện hành để công ty FOSCO của nhà nước cung cấp cho các đơn vị nước ngoài nêu trên, thậm chí tôi còn tham gia giải quyết những vụ việc tuy thuần túy tranh chấp thương mại nhưng lại có nguy cơ lớn đối với quan hệ đối ngoại của quốc gia như trong sự cố hạt điều có phiên phải triệu đại sứ Ấn Độ và cơ quan chức năng cấp Bộ của Việt Nam vào cuộc, cũng như tôi làm phiên dịch pháp đình (miễn phí) tại Tòa Án Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với các phiên xử có yếu tố nước ngoài để giúp nguyên đơn hay bị đơn là công dân Việt Nam có khó khăn về tài chính không thể trả tiền thuê phiên dịch tại Tòa còn Tòa thì không có ai biết tiếng Anh. Trong thời điểm sớm sủa đó của đất nước, tiêu chuẩn để trở thành thẩm phán là có đạo đức cách mạngcó tín nhiệm với nhân dân chứ không phải là tiêu chuẩn phải có văn bằng gì thuộc ngành luật gì do chẳng qua các đại học Việt Nam chưa có đào tạo (hoặc đào tạo chưa xong) luật sư.

Năm 2011 khi tôi phát biểu về Luật Biểu Tình [3] thì có một đám người ngợm đần độn xưng là luật sư gởi đến tôi những email phản đối và thậm chí có tên còn lợi dụng buổi tiếp xúc cử tri ở Quận 3 để đứng lên xưng là cựu Giám đốc Sở Tư Pháp để chống lại tôi và lên trao cho tôi trước mặt Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang một bức thư mà tôi thì chưa hề hạ mình đọc các email cũng như các bức thư ngu xuẩn loại đó vì tôi đương nhiên biết tất cả các lập luận nhàm chán yếu ớt xằng bậy đáng thương của tất cả bọn chống Cộng dù chúng thuộc bất kỳ quốc tịch nào trên toàn thế giới. Còn khi tôi đăng bài Tứ Đại Ngu [4] thì đám nhà báo hai mang ruồi nhặng hèn hạ bâu ngay vào các văn phòng của các luật sư dốt luật cùng phe để phỏng vấn và đưa lên báo những lời vi phạm pháp luật và dốt nát về luật pháp của các luật sư này mang nội dung đòi “bãi miễn Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước”. Nay nhân Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang tuần này có phát biểu trong Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Luật Gia lần thứ XII rằng Hội “đã có nhiều cống hiến cho sự nghiệp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân”, tôi thấy nổi bật cụm từ “xã hội chủ nghĩa”, đặc biệt là “xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như để đanh thép thét vào lổ tai nút nghẹt của nhiều “luật sư” đang mê muội mông muội ngu muội đem cái ngoại lai tạp giống mà rao giảng rao truyền sứ điệp đòi nhân quyền dân chủ cứ như thể muốn ám chỉ Việt Nam có cẩu quyềncẩu chủ vậy, tôi chợt nhớ đến “lịch sử Luật” mà tôi nắm rất vững, và với tư cách người có kinh nghiệm thực tế thực tiễn – chí ít là các vấn đề luật pháp về lao động và đầu tư – kinh doanh những năm Việt Nam chưa có các vị “luật sư” nào hành nghề – và đặc biệt là với tư cách nghị sĩ tức người đã đương nhiên trở thành Nhà Lập Pháp và Nhà Lập Hiến (do các Đại biểu Quốc hội Việt Nam Khóa XIII ngoài việc thông qua rất nhiều đạo luật còn đặc biệt thông qua Hiến Pháp 2013) tôi xin đăng lại bài viết sau mà tôi đã tải lên mạng Emotino năm 2009 để góp thêm phần cung cấp sử liệu cho hậu thế:

Luật Sư Việt Nam và “Hội Nhập”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Emotino, đăng lúc 10g13 ngày 04-01-2009

Được Luật sư Vũ Ngọc Dũng, CEO Bắc Việt Luật, thành viên tích cực của Emotino, giới thiệu trang web http://luatsutoanquoc.com, tôi lập tức đến thăm ngay và đọc được một bài viết rất thú vị của Luật sư Bút Thì Khiêm ghi nội dung phỏng vấn Ông Edward Nally, nguyên Chủ Tịch Hội Luật Sư Anh và Xứ Wales, người đã đến Việt Nam nhân Tuần Lễ Pháp Luật Việt Nam-Châu Âu do Bộ Tư Pháp Việt Nam, Hội Đồng Anh, Hội Luật Sư Anh và Xứ Wales phối hợp tổ chức. Theo Ông Nally, việc (Việt Nam) gia nhập WTO đồng nghĩa với việc giới luật sư quốc tế sẽ đổ vào Việt Nam nhiều hơn, … và pháp luật trong nước (Việt Nam) gần như là lĩnh vực dành cho luật sư địa phương (Việt Nam). Do có sự chưa rõ và thậm chí trái nghịch nhau trong hai ý trên của Ông Nally, tôi xin có những nhận định sau.

Thật ra không cứ gì phải đợi đến khi Việt Nam gia nhập WTO hay phải có “hội nhập” mới nảy sinh vấn đề luật sư Việt Nam “vươn ra thế giới“. Thậm chí việc cho rằng “pháp luật trong nước gần như là lĩnh vực dành cho luật sư địa phương” cũng không thực sự chuẩn xác. Trong thời gian Việt Nam chịu sự cấm vận thương mại toàn diện của chính quyền Hoa Kỳ từ sau ngày thống nhất đất nước 1975, đã có nhiều công ty luật nước ngoài mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh như Lucy Wayne, Kelvin Chia, Phillips Fox, Frasers, Baker & McKenzi hay Tilleke & Gibbins, v.v. hoạt động cực kỳ tích cực trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam. Chẳng hạn công ty luật Phillips Fox đã tích cực chuyển ngữ các đạo luật của Việt Nam sang tiếng Anh, dù mục đích vẫn là thu lợi nhuận qua việc bán bản dịch cho biết bao nhà đầu tư quốc tế và cơ quan thông tấn hay cá nhân khắp các châu lục, nhưng cũng đã là những đóng góp không nhỏ trong phổ biến pháp luật Việt Nam theo hướng chuyên nghiệp tích cực và phục vụ sự phát triển kinh tế của Việt Nam thủa đầu mở cửa. Hoạt động của các công ty luật nước ngoài này bao gồm hỗ trợ tư vấn pháp luật cho các công ty nước ngoài xúc tiến liên kết liên doanh hoặc mở văn phòng đại diện tại Việt Nam, và làm dịch vụ hồ sơ lao động (với cơ quan chuyên trách, chẳng hạn ở Tp Hồ Chí Minh là FOSCO tức Công Ty Dịch Vụ Cơ Quan Nước Ngoài).

Ngoài ra, dù bất kỳ trong hoàn cảnh chính trị nào, bất kỳ quốc gia nào cũng có hoạt động ngoại thương riêng. Tại Việt Nam, hoạt động ngoại thương xuất nhập khẩu vẫn diễn ra mạnh mẽ ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (kể cả kỳ tích xuất khẩu gạo mà người viết bài này chính là người nỗ lực giúp thực hiện thành công chuyến xuất một tàu 15.000 tấn gạo đầu tiên kể từ năm 1975) với sự thanh toán bằng đồng Bảng Anh, Đức Mã, Yên Nhật, và Phật Lăng Pháp (không được sử dụng Mỹ Kim tức USD do cấm vận); mà đã có giao thương và hợp đồng kinh tế, ắt có tranh chấp bất kỳ ngoài ý muốn, và Việt Nam đã phải tiến hành những phiên xử. Tuy chỉ qua “trọng tài kinh tế” do bấy giờ ta chưa có các luật sư có bằng cấp về corporate/business disputes, nhưng vẫn có thể nói chúng ta đã có kinh nghiệm “xử lý” các vụ kiện lĩnh vực kinh doanh có yếu tố nước ngoài, và các luật sư nước ngoài cũng đã có kinh nghiệm cung ứng dịch vụ luật pháp tại Việt Nam từ 25 năm nay.

Để “vươn ra thế giới”, luật sư Việt Nam cần rất nhiều thứ chứ không phải chỉ là khả năng nói tiếng Anh. Prestige tức uy tín mới là cái chính, mà để có nó, luật sư phải chứng tỏ năng lực ngay tại Việt Nam qua chất lượng dịch vụ tư vấn pháp luật và tần suất thành công của sự cung ứng này đối với khách hàng – đặc biệt là khách hàng nước ngòai tại Việt Nam. Sự hài lòng của họ mới là lực đẩy cần thiết giúp luật sư Việt Nam vươn được ra thế giới.

Song, một điều cần quan tâm là không phải cứ nói đến toàn cầu hóa và hội nhập là buộc phải “vươn ra thế giới” theo nghĩa đen của ngôn từ, vì rằng không phải mọi đất nước, mọi doanh nghiệp, mọi người dân đều phải giong buồm ra biển lớn để rồi chạm trán giữa đại dương! Xông ra biển lớn là để cập đến một bến bờ, nghĩa là ai sẽ là người lo hậu cần và xây dựng bến bờ chào đón và kinh doanh kiếm lời từ đoàn thương thuyền lũ lượt hè nhau cập bến ấy. Toàn cầu hóa là cơ hội không những để ta vươn ra thế giới mà còn để ta cho phép thiên hạ…vươn đến mình như một điểm đến lý thú của thiên niên kỷ. Học sinh học địa lý năm châu bốn biển không phải để du hành khắp nơi. Luật sư phải học luật các nước không phải để ra nước ngoài lập nghiệp. Đơn giản học chỉ vì đó là kiến thức không thể thiếu đối với một nhà tư vấn luật. Vươn ra thế giới đối với luật sư Việt Nam vì vậy sẽ mang ý nghĩa tầm cỡ, uy tín, năng lực, hiệu quả thành công, đạo đức chuyên nghiệp của luật sư Việt Nam đạt được và xây dựng được ngay tại Việt Nam sẽ tạo nên danh tiếng chung, vừa giúp doanh gia Việt Nam trụ vững và hành sử chuyên nghiệp trong giao thương quốc tế, hạn chế hữu hiệu các sơ xuất, vừa là chỗ dựa của doanh giới nước ngoài trong giải quyết các bất đồng phát sinh trong kinh doanh với và/hay tại Việt Nam, giữa họ với doanh nghiệp Việt Nam và/hay doanh nghiệp nước ngoài khác.

Đó mới chính là sự vươn ra thế giới của Luật Sư Việt Nam vậy.

Hoàng Hữu Phước, Nhà Lập Pháp và Lập Hiến, Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế

1- Ghi chú:

[1] Đây là cụm từ do Hoàng Hữu Phước sáng tạo (công thức: “từ những năm …của thế kỷ trước”) và sử dụng từ năm 2000 trên bản tin tiếng Anh và tiếng Việt HR Online của Công ty Manulife, hiện nay được sử dụng rất rộng rải trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng toàn quốc.

[2] Hoàng Hữu Phước. 08-7-2014. Trình Độ Trương Trọng Nghĩa. http://hhphuoc.blog.com/?p=440http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/08/trinh-do-truong-trong-nghia/

[3] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Phát Biểu Của Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[4] Hoàng Hữu Phước. 02-2013. Tứ Đại Ngu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

2- Các tham khảo cho nội dung “Biểu Tình” theo chính kiến kiên định của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước mà chưa có bất kỳ lập luận nào của bất kỳ ai tại Việt Nam hay trên thế giới phản bác hay dám phản bác trên cơ sở chính nghĩa và hùng biện thành công:

Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

Hoàng Hữu Phước. 05-6-2013. Phát Biểu Ứng Khẩu Của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước về Luật Biểu Tình. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/06/05/phat-bieu-ung-khau-cua-hoang-huu-phuoc-dai-bieu-tp-ho-chi-minh-ve-luat-bieu-tinh/

Hoàng Hữu Phước. 26-5-2014. Luật Biểu Tình. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/26/luat-bieu-tinh/

Hoàng Hữu Phước. 20-5-2014. Biểu Tình Và Ô Danh. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/05/20/bieu-tinh-va-o-danh/


Tôi Và Lê Công Định

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Nghe nói Lê Công Định sau khi đoái công chuộc tội nhờ khai sạch sành sanh băng nhóm cùng phạm tội cũng như làm ô danh Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cũng như Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh vì đã cung khai sạch bách và đầy đủ chi tiết nội dung những vị này đã rót vào tai Định, đồng thời vận dụng cái “ưu thế gia đình có công với cách mạng” để được Nhà Nước Việt Nam tha cho cái cụm từ “có tội với cách mạng” và thả ra khỏi chốn ngục tù sớm hơn thời hạn, Lê Công Định lại tuyên bố vung vít gì đó với mấy cái đài đẳng cấp lè tè trong đó có BBC (Việt ngữ, vì BBC tiếng Anh chẳng lẽ lại suy vi đến độ phỏng vấn một lẻ dốt tiếng Anh và thuộc hạng tận tụy cung khai như Định), tôi nghĩ thay vì viết cái gì đó về y, tốt hơn nên lục tìm một bài cũ tôi đăng ngày 14-10-2010 trên mạng Emotino (sau này được Báo Nhân Dân chọn đăng rút ngắn trên số ra ngày 07-9-2012, trang 8, dưới tiêu đề mới: “Là Công Dân, Phải Tuân Thủ Luật Pháp Quốc Gia[*], để đăng lại như dưới đây vả kính mời bạn đọc tham khảo.

 

Tôi Và Lê Công Định

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vào năm 2005, biết khả năng của tôi trong soạn thảo bằng Tiếng Anh tất cả các hoạch định chính sách, văn bản, nội quy công ty, quy định quy chế công ty, mà cách hành văn khiến ngay cả Tổng Giám Đốc người Anh của Manulife là David Matthews phải nói là ắt kiếp trước (earlier life) tôi hành nghề luật sư ở Luân Đôn còn vị Phó Tổng Giám Đốc người Canada tuyên bố cả vùng Bắc Mỹ không ai viết tiếng Anh được như tôi cũng như có bản l‎ý lịch tiếng Anh trên cả tuyệt vời như của tôi, Lê Đình Bửu Trí lúc ấy đang phò tá David Matthews có cho tôi biết đã bí mật hợp tác cùng một số luật sư để mở văn phòng luật tại tòa nhà Sunwah Tower, đường Nguyễn Huệ, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, nài nỉ tôi đến giúp soạn thảo một số văn bản tài liệu bằng tiếng Anh cho văn phòng Luật ấy thêm danh tiếng với đối tác và khách hàng nước ngoài. Nghe nói tất cả các vị luật sư trong nhóm ấy nói chuyện được bằng tiếng Anh nhưng chịu thua không tài nào viết soạn được các chính sách và quy chế trực tiếp bằng tiếng Anh, tôi thấy tội nghiệp số “doanh nhân luật  tuổi chưa lớn tài chưa cao” ấy nên có nhận lời giúp đỡ.

Khi đến Sunwah Tower vào văn phòng luật ấy, tôi đếm thấy có 01 Lê Đình Bửu Trí, 01 nam nhân viên trắng trẻo thư sinh cận thị, 02 dãy bàn dài, 06 ô tò vò chia ngăn làm việc, 10 chiếc ghế xám xoay, 02 laptop, tất cả trong 03 gian phòng nhỏ. Trí giới thiệu tôi cho anh chàng trắng trẻo thư sinh cận thị, nói đó là luật sư Lê Công Định. Chúng tôi bắt tay nhau. Lê Công Định nhanh nhảu nói “Nghe danh anh Phước đã lâu, nay mới gặp” và khoe “em có bản CV của anh trong laptop rồi, em sẽ giới thiệu anh cho New York Life”.

Lúc ấy, đối với tôi Lê Công Định chỉ là một tên nhóc vô danh tiểu tốt, không thể có tương lai tốt đẹp vì hoàn toàn kém tư cách – chẳng qua vì tôi chưa bao giờ nộp đơn xin việc cho ai ở bất kỳ công ty nào thì cách chi mà Định có được l‎ý lịch sơ yếu của tôi (tức Resume) nói chi đến lý lịch hàn lâm của tôi (tức CV), còn các công ty bảo hiểm nhân thọ nước ngoài ắt đều biết đến danh tôi nên nếu muốn họ cứ liên lạc thẳng với tôi, cứ gì phải qua sự tiến cử của nhóc Lê Công Định. Kiểu “thấy sang nên bắt quàng làm họ” của Lê Công Định làm tôi rất xem thường cậu bé ăn nói tào lao ấy, song tôi cười độ lượng giống y như nụ cười của bất kỳ bậc trưởng thượng nào khác của Việt Nam của 5000 năm văn hiến, chẳng cải chính, đơn giản vì người lớn không nên làm đứa bé đang biểu lộ niềm vinh dự lớn lao được biết “Anh Phước” lại cụt hứng. Cũng có thể anh ta có trong tay đơn xin việc và hồ sơ lý lịch của một ông Phước nào đó nên lầm chăng vì cái tên “Phước” rất ư là được ưa chuộng ở xứ sở này  – song ngay cả trong trường hợp này cũng cho thấy nghiệp vụ ba chớp ba nháng của luật sư tài giỏi Lê Công Định ra sao rồi. Hoặc cũng có thể New York Life trao cho anh ta bản CV tức lý lịch của tôi mà họ đã tung tiền tìm kiếm tổng hợp thông tin cá nhân tôi trên blog hay lý lịch ở địa phương rồi nhờ Lê Công Định tiếp cận săn đầu người chăng – song cả ngay trong trường hợp hoang đường này thì lập luận cũng không đứng vững vì Lê Đình Bửu Trí ắt biết tôi sẽ rất xem thường New York Life nếu họ không “deal” trực tiếp với tôi.

Tôi quyết định phải thất hứa, không giúp Lê Đình Bửu Trí và Lê Công Định, vì sau khi hỏi họ ý nghĩa của tên công ty luật DC, tôi được biết đó là chữ viết tắt của từ  “Đồng Chí”, và khi hỏi thêm vì sao công ty luật lại cần đến từ “Đồng Chí” thì tôi được Lê Đình Bửu Trí giải thích là các bạn luật sư trẻ trong nhóm có chung niềm khao khát mãnh liệt đưa các nhà đầu tư nước ngoài vào làm giàu đất nước, giúp tạo môi trường đầu tư chuyên nghiệp theo đúng bài bản pháp luật, vân vân và vân vân. Tôi cảm thấy bất an, không vì tôi là bậc tiên tri thấu thị nhìn thấy được họ sẽ làm chuyện động trời nào đó trong tương lai gần hoặc xa, mà đơn giản vì tôi biết ngay bằng trực giác rằng đó chỉ là những kẻ thất bại losers ngay từ trứng nước do họ không biết thực chất công việc của chính họ, những người tốt nghiệp ngành luật, đó là: đạo lý duy nhất, chuyên nghiệp nhất, và văn minh nhất của “luật sư” là chỉ phục vụ cho quyền lợi của thân chủ, bất kể thân chủ là người tốt hay không tốt, sát nhân hàng loạt hay tội phạm xuyên quốc gia thủng biên giới. Còn nếu họ khoe là có ý chí vì nước vì dân như luật sư Nguyễn Hữu Thọ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì hóa ra trong đầu óc của họ cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam này là cái họ phải giải phóng hay sao?

Sau này qua tin tức báo đài, tôi mới biết đến vụ án phản động của Lê Công Định, mới nghe nói về nhân thân gia đình cách mạng của hắn. Qua phát biểu khai tội của Lê Công Định trên tivi, tôi còn biết thêm một điều bí mật của hắn: thiếu ánh sáng trí tuệ –  không hiểu trường nào ở Việt Nam và ở Mỹ đã đào tạo ra một tên thiếu ánh sáng trí tuệ đến như vậy. Hắn nói đã gặp những quan chức Mỹ và nghe các vị này nói về những mong muốn đối với luật pháp và thẩm phán Việt Nam, cứ như đứa trẻ ngô nghê lắng nghe bậc cao minh chỉ giáo vậy, trong khi nhiều vị giám đốc người Mỹ và Việt Kiều Mỹ thường nói với tôi rằng luật sư bên Mỹ đại đa số làm ô danh ngành luật khiến nghề luật sư bị gọi là dirty job tức “nghề bẩn”.

 

Lê Công Định và những tên tương cận sẽ luôn là losers vì toàn là những kẻ thiếu ánh sáng trí tuệ. Bọn biệt kích do Mai Văn Hạnh chỉ huy gồm từ những tên được huấn luyện qua những khóa tại Thái Lan hình thành các nhóm Kinh Kha – ngay cả cái tên cũng cho biết ngay là muôn đời thất bại vạn kiếp lu-dơ (kiểu doomed to be eternal losers). Lý Tống mới đây giả dạng đàn bà tấn công ca sĩ thấp bé Đàm Vĩnh Hưng, một hành động ngu xuẩn (anh hùng tối kỵ giả dạng nữ nhi) và hèn nhát (tấn công một ca sĩ nhỏ con của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chứ không dám đụng đến một anh công an xã của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đệ nhất đẳng huyền đai thái cực đạo). Còn nhóm Lê Công Định người xưng mật danh Chị Hai, kẻ Chị Ba, thì Chị Tư cũng cùng một giuộc không bao giờ thành những anh hùng do dùng danh nhi nữ.

Học ngành luật phải chứng tỏ mình hiểu luật thể hiện qua việc thượng tôn luật pháp và mọi hành sử đều phải trong khuôn khổ luật pháp của quốc gia mà mình là công dân. Điều đơn giản hiển nhiên là Việt Nam có luật Việt Nam. Không tuân thủ luật Việt Nam thì không có tư cách rao giảng luật pháp nước ngoài. Một người trí thức nếu có tín ngưỡng Phật Giáo, thì nghiên cứu các hệ thống triết học tôn giáo khác để biết các hệ tư tưởng hay triết học để mở mang trí hóa. Chỉ có kẻ làm loạn điên rồ mới quay trở lại đòi đập bỏ bàn thờ tiên tổ sau khi được các hệ khác khai cho trí hóa.

Duy, một sinh viên lai da trắng tóc vàng trước khi đi Mỹ đã nói với tôi năm 1984:

“Thầy ơi. Lúc em đi gặp phái đoàn Mỹ ở Biên Hòa để được phỏng vấn ra đi, em tưởng bị loại rồi Thầy. Thằng Mỹ mắt nó xanh biếc, nhìn sợ lắm vì thấy luôn đáy mắt của nó, và nó nói tiếng Việt giọng Bắc, chắc là chuyên viên tình báo CIA. Em cà lăm vì thằng Mỹ vừa xé hồ sơ vất sọt rác vừa hét to vào mặt thằng bạn hàng xóm của em trước đó. Thằng Mỹ hỏi sao trong hộ khẩu có khoảng cách thời gian gián đoạn thì thằng bạn em vui vẻ tự hào nói vì muốn đi Mỹ nên phải trốn nghĩa vụ quân sự, về Sài Gòn trốn ở nhờ nhà bà con, chịu cực mấy năm chờ đi Mỹ chứ nhất quyết không đi lính cho Cộng Sản. Không ngờ thằng Mỹ xé hồ sơ, quát lên bằng tiếng Việt rằng ‘Mày là công dân Việt Nam mà chống lại luật Việt Nam, không đi lính bảo vệ đất nước của mầy, thì lấy gì bảo đảm mày làm công dân Mỹ tốt và bảo vệ nước Mỹ!’ Rồi nó kêu tên em, em sợ điếng hồn vì nó đang giận dữ, may mà em rút kinh nghiệm nên không nói câu nào chống Cộng cả”.

Câu chuyện về Duy tôi đã kể cho tất cả các lớp tôi dạy trong suốt thời gian mười năm sau đó. Và tôi biết một điều tất cả những sinh viên ưu tú của tôi sau đó đều đã trở thành và đang là những công dân thành đạt ở Việt Nam. Đơn giản chỉ vì người họ muốn gần gũi và được làm việc với là những doanh nhân thành đạt của nước ngoài, tức những vị chỉ quan tâm đến người Việt tài giỏi, vì chỉ có bọn nước ngoài chống phá Việt Nam mới thèm quan tâm đến những người Việt không ưu tú, trong đó có Lê Công Định. Những doanh nhân thành đạt của nước ngoài chỉ muốn có những người Việt Nam giỏi, có ý thức tuân thủ luật pháp để không bao giờ gây phương hại cho việc làm ăn của họ ở Việt Nam. Thậm chí có doanh nhân Mỹ còn nói với tôi rằng rất thú vị nếu tuyển được nhân viên Việt Nam nào là đảng viên Cộng sản, vì người Mỹ chỉ có thể làm đảng viên chính trị của một trong hai đảng cầm quyền nếu có tiền nhiều mà thôi chứ không phải vì lý tưởng gì hết nên cả đời chưa hề biết đến con người có l‎ý tưởng như mấy ông Cộng sản trông ra làm sao.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng Sản là một đảng cầm quyền và có lý tưởng. Phải chăng vì đồng tiền không giúp những kẻ mới phất nouveaux riche như Lê Công Định mua được một ghế đảng viên cao cấp như ở Mỹ nên đã khiến những người như Định mơ màng đến viễn cảnh xây dựng một thể chế y chính trị như Mỹ, để Định sẽ được bỏ tiền túi ra tranh cử làm Tổng Thống Việt Nam? Một kẻ thú nhận là đã gặp gỡ các quan chức Hoa Kỳ nhưng lại không thể viết bằng tiếng Anh các nội dung chính sách, quy định, quy chế hoạt động, bài bản tổ chức cho chính văn phòng luật của mình thì không rõ kẻ ấy khi nói tiếng Anh chất lượng ra sao, hay chỉ cần nói một từ duy nhất là anticommunism tức Chống Cộng là xem như chủ Mỹ và tớ Việt đã hiểu nhau sâu sắc?

Lê Công Định không phải là một luật sư, không chỉ vì Định đã bị khai trừ khỏi các luật sư đoàn Việt Nam theo quy định của luật pháp Việt Nam mà còn vì Định không có tư cách của một luật sư. Một bác sĩ giải phẫu phải xử l‎ý vết thương của bịnh nhân theo đúng các phương pháp quy định của ngành và của chuyên môn, còn mọi sáng kiến có thể tự tiến hành thí nghiệm với chuột lang, đúc kết thành công trình để đệ trình hội đồng y khoa đánh giá, và được công bố áp dụng chung nếu các kết quả chứng minh có giá trị ngang bằng hoặc áp dụng thay thế nếu chứng minh có giá trị tối ưu. Một luật sư phải hành sử theo và trong khuôn khổ luật pháp quốc gia, mọi ý kiến cá nhân nếu có qua quá trình nghiên cứu dài lâu, đúc kết thành công trình hàn lâm, gởi tạp chí chuyên ngành để rộng đường tranh luận hoặc trình cho Bộ có liên quan để được đánh giá phản hồi. Đó luôn là các bước chuyên nghiệp của những người chuyên nghiệp của bất kỳ ngành nào. Only these and nothing else! Chỉ có vậy chứ làm gì còn có cách nào khác! Bàn tay sắt của chính quyền liên bang Hoa Kỳ luôn sẵn sàng dập tắt ngay cả dìm trong biển máu đối với những manh động chống lại Hiến Pháp và Luật Pháp Hoa Kỳ như đã bao lần được ghi lại trong lịch sử Hoa Kỳ từ thời lập quốc đến nay. Đó là điều đương nhiên đúng ở tất cả các quốc gia trên toàn thế giới này mà chỉ có những “luật sư” con rối thiếu ánh sáng trí tuệ mới cố tình làm ngơ trước sự thật hiển nhiên rằng Luật Pháp Quốc Gia Là Khung Hành Sử Mà Bất Kỳ Ai Là Công Dân Quốc Gia Ấy Cũng Phải Tuyệt Đối Tuân Thủ.

Qua vụ Lê Công Định và những kẻ chung ngành với Định, tôi đã dặn dò các học trò và bạn hữu hãy cảnh giác và răn dạy con cái nếu chúng muốn theo ngành Luật vì chúng sẽ là mồi ngon của các thế lực chống Cộng ở nước ngoài chiêu dụ trở thành những tên phản quốc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[*] Báo Nhân Dân Online ngày 06-9-2012: http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/quocte/phantichnhandinh/la-cong-dan-ph-i-tuan-th-lu-t-phap-qu-c-gia-1.366322

Cô Lại Thu Trúc Gởi Thư Cho Lãnh Đạo Nhà Nước Góp Ý Về “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Tp HCM

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong đa số các lãnh đạo doanh nghiệp dạn dày kinh nghiệm chốn thị trường ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở một số tỉnh thành trên cả nước là thành viên của trang mạng Emotino của cộng đồng doanh nhân và doanh nghiệp ắt hẳn có biết đến Cô Lại Thu Trúc, cây viết tích cực về kinh tế, xã hội, quản trị doanh nghiệp, v.v. bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh, trên trang mạng Emotino từ năm 2008 đến 2014, mà nhiều bài trong số đó đã được đăng lại trên một số báo mạng hoặc báo giấy

 

cũng là người tích cực tham dự các hội thảo hội nghị tại các tỉnh thành, chẳng hạn như khi đăng đàn phát biểu tại Hội Thảo “Kết Nối CEO” ở Dinh Độc Lập Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 với các chủ tọa như Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, Tổng Biên Tập Báo Người Lao Động Đỗ Danh Phương, v.v.,

vốn là công dân có nhiều đóng góp ‎ý kiến cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, và Chính phủ [1] về các vấn đề quan trọng của nước nhà trong nhiều năm qua, và cũng không lạ với trang blog này [2].

Theo yêu cầu của Cô Lại Thu Trúc, tôi đã chuyển Bản Góp Ý của Cô đối với “dự án đường bay vàng” tức “đường bay thẳng Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh qua không phận Lào và Campuchia” đến các vị lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ.

Cũng theo yêu cầu của Cô, tôi đăng toàn văn bản góp ý trên tại blog này như dưới đây, có xóa nội dung của phần liên quan đến an ninh tình báo do sự tinh tế của vấn đề cần phải bảo mật

**********

Kính gởi: Lãnh đạo Đảng, Quốc hội, và Chính phủ

Kính thưa Quý Lãnh Đạo:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh,

Xin kính chuyển đến Quý Lãnh đạo Bản Góp Ý của cô Lại Thu Trúc về  Dự Án “ Đường Bay Vàng” Qua Không Phận Lào và Campuchia

Bản góp ý trên làm ngày 12/09/2014 do Cô Lại Thu Trúc, công tác tại văn phòng của tôi, thục hiện và nhờ tôi chuyển đến Quý Lãnh Đạo.

Cô Lại Thu Trúc trong nhiều năm qua đã viết rất nhiều kiến nghị và đề nghị gởi đến các Lãnh đạo Đảng, Quốc hội, và Chính phủ với nhiều nội dung xây dựng khác nhau.

Kính chúc Quý Lãnh đạo sức khỏe và xin kính chào trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

************

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 09 năm 2014

THƯ GÓP Ý VỀ DỰ ÁN “ĐƯỜNG BAY VÀNG” QUA KHÔNG PHẬN LÀO VÀ CAMPUCHIA

Kính gửi:

-   Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

-   Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam

-   Chủ Tịch Quốc Hội và Các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

-   Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Nước

-   Thủ Tướng Chính Phủ và Các Phó Thủ Tướng

Đồng kính gửi:

-  Ông Nguyễn Văn Nên, Bộ Trưởng-Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ

-  Ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ Nhiệm Văn Phòng Quốc Hội

-  Ông Nguyễn Kim Khoa, Chủ Nhiệm Ủy Ban Quốc Phòng và An Ninh Quốc Hội

-  Ông Trần Văn Hằng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại Quốc Hội

-  Ông Hoàng Hữu Phước, Đại Biểu Quốc Hội, Đoàn ĐBQH Tp. Hồ Chí Minh

-  Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp. Hồ Chí Minh

Kính thưa quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, công dân Thành phố Hồ Chí Minh, được sự khuyến khích của Thầy tôi là Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, đối với việc người dân nên tích cực nghiên cứu, tìm hiểu, và mạnh dạn đóng góp ý kiến với lãnh đạo Đảng và Nhà Nước để xây dựng đất nước,

Kính xin có ý kiến sau về dự án “Đường Bay Vàng” qua không phận Lào và Campuchia với các nội dung chính như sau:

A- Các Nghiên Cứu Khoa Học Cần Phải Có

1) Địa thế địa hình, “Tử địa Hàng không- Nhiễu động khí & an toàn bay”

2) Hiện tượng Foehn

3) Cứu hộ, cứu nạn

B- Vấn Đề Và Vấn Nạn An Toàn Hàng Không

1) Kỹ Thuật Hàng Không

a- Vấn Đề FIR và UIR

b- Kiểm Soát Không Lưu ATC

c- Hành Lang Bay

2) Sinh Mạng Hành Khách Và An Nguy Của Lãnh Đạo Việt Nam

C- Vấn Đề Và Vấn Nạn Lợi Ích

1) Tiết Kiệm

2) Lợi Nhuận

3) Quyền Lợi Của Hành Khách

D- An Ninh Tình Báo và Vấn Đề Đối Ngoại

E- Kết Luận

A.  Các Nghiên Cứu Khoa Học Cần Phải Có

Trước hết xin phép được làm rõ ý nghĩa của từ ngữ “đường bay thẳng” đang được sử dụng bởi cơ quan chức năng Việt Nam vì “đường bay thẳng” trong hàng không rất khác với “đường bay thẳng” trong sự việc nghiên cứu của Bộ Giao Thông – Vận Tải cùng cơ quan hàng không Việt Nam, vì

- “đường bay thẳng” của ngành hàng không là dành cho chuyến bay từ nơi đi tới nơi đến mà không qua quá cảnh ở một sân bay thứ ba nào;

- còn “đường bay thẳng” của sự việc đang gây tranh cãi ở Việt Nam là cách né nhóm từ “đường bay vàng” đã lỡ dùng trước đó với ý nghĩa đường thẳng tưởng tượng kẻ thẳng từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh;

- và do hai nội hàm khác biệt hoàn toàn nêu trên, trong thư này thì “đường bay thẳng” sẽ không nói về “đường bay theo đường thẳng tắp tưởng tượng của thước kẻ”, nhưng sẽ liên hệ đến nhóm từ đầy đủ của “đường bay thẳng từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh qua không phận Lào và Campuchia mà không phải quá cảnh ở một sân bay thứ ba”,  nghĩa là không phải bay theo đường thẳng tắp như đường của thước kẻ mà sẽ gián tiếp ngụ ‎ý rằng “đường bay thẳng” này thực chất là “đường bay vòng qua lãnh thổ Lào và Campuchia để vào Thành phố Hồ Chí Minh”.   

Đối với vấn đề lớn như vạch ra một đường bay mới chưa từng được biết đến hay chưa từng được thực hiện bởi các chuyến bay thương mại dân dụng của Việt Nam hay các quốc gia khác, thì lẽ ra các nghiên cứu phải được tiến hành trên nhiều lĩnh vực trong đó có địa thế – địa hình, tác động khí hậu – khí quyển của Foehn, và cứu hộ – cứu nạn, v.v., thì các cơ quan chức năng của Việt Nam lại chỉ tìm hiểu (hoàn toàn không phải công trình nghiên cứu khoa học) xem “đường bay thẳng” (theo đường kẻ thẳng tắp của thước kẻ) này có giờ bay ngắn hơn bao nhiêu về thời gian và khoảng cách cũng như tiết kiệm được bao nhiêu nhiên liệu giống như so sánh đo đạc giản đơn giữa đường quốc lộ với đường cao tốc, không đúng với tầm cỡ của Bộ Giao Thông và ngành hàng không.

1Địa thế địa hình, “Tử Địa Hàng Không”, Nhiễu Động Khí Và An Toàn Bay

a- Đối với địa thế địa hình chập chùng núi non của Lào thì những biến động về luồng, hướng, và sức mạnh của gió là điều không thể không có ảnh hưởng đến không gian bay của máy bay. Việc nghiên cứu chỉ về mặt này thôi sẽ đòi hỏi rất nhiều thời gian, trí tuệ, và tiền bạc, mà trong thời điểm hiện nay Việt Nam vẫn chưa thể đáp ứng được đầy đủ về mặt nhân sự và kinh nghiệm thực hành.

b- Địa thế địa hình còn khiến không bao giờ có thể có đường bay thẳng tắp như đường kẻ thước kẻ nên đường bay có thể sẽ là đường zigzag khiến đường bay thực tế sẽ không thể ngắn như dự án đã nêu; chưa kể còn phải tính đến chiều quay của trái đất. Tương tự, đường biển và đường hàng không trên Đại Tây Dương không thể theo một đường thẳng kiểu đường kẻ chỉ xuyên thẳng qua vùng Tam Giác Quỷ Bermuda, hoặc đường bay bên trong lãnh thổ Việt Nam không thể không tránh bay qua khu vực Thung Lũng Ô Kha, chứng minh rằng đường bay còn phải tùy thuộc vào bề mặt địa cầu bên dưới.

c- Ngoài ra, nếu chỉ dựa vào sự thật là bên kia Dãy Trường Sơn có sân bay Xayabury của Lào còn bên này có sân bay Vinh của Việt Nam đối xứng tức đã có các chuyến bay chứng tỏ địa thế địa hình không phải là xa lạ thì vẫn còn đó điều nghiêm trọng hơn sự xa lạ: đó là những rủi ro tiềm tàng trên vùng nói non hiểm trở bất lợi cho trường hợp khẩn cấp phải hạ độ cao hoặc trong cứu nạn – cứu hộ.

Có những khu vực trên thế giới được mệnh danh là “tử địa hàng không” là nơi có rủi ro cao về an toàn bay với nguy cơ của “nhiễu động không khí”. Nhiễu động không khí nguy hiểm bởi có thể xuất hiện ở bất cứ độ cao nào trong khí quyển và trong các điều kiện khí tượng khác nhau bao gồm các loại nhiễu động như “Nhiễu động trời trong – Clear Air Turbulance”, “Nhiễu động sóng núi – Mountain Wave”, và “Nhiễu động trong mây đối lưu – Cumulonimbus”.  Trong thực tế, lịch sử hàng không thế giới đã ghi nhận nhiều tai nạn hàng không thảm khốc có liên quan đến nhiễu động không khí bao gồm nhiễu động sóng núi tại các khu vực có địa hình đồi núi, trong đó có cả số liệu về gần 30 tai nạn hàng không thảm khốc xảy ra trên đất nước Lào kể từ năm 1950.

2) Hiện tượng Foehn

Do địa thế hiểm trở của Dãy Trường Sơn, Foehn tức Gió Lào đã trở thành một hiện tượng tự nhiên bất lợi. Đối với Úc, Foehn gây ra nạn cháy rừng nghiêm trọng hàng năm và đã có những nghiên cứu sâu rộng về Foehn để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những tai họa từ thiên nhiên này. Còn đối với Việt Nam thì khi muốn lập đường bay thẳng qua Lào cần phải nghiên cứu sâu rộng về Foehn để có các thông tin và số liệu thực địa để biết các tác động đến khí quyển của Foehn do máy bay của Việt Nam sẽ gặp khó khăn rất lớn nếu đường bay từ vùng bên này Dãy Trường Sơn khô nóng qua ngay lập tức vùng bên kia Dãy Trường Sơn ẩm mưa khiến đối mặt với tình trạng biến đổi nhanh và khôn lường về áp suất không an toàn cho việc điều khiển máy bay. Ngoài ra, những trận cháy rừng lớn nếu có ở phía bên này Dãy Trường Sơn của Việt Nam tức là phía hứng chịu tác động khô nóng tăng nhiệt từ Foehn sẽ càng gây ra những biến động lớn về áp suất với khí quyển làm mất an toàn cho máy bay khi trong tích tắc vượt qua đến vùng mưa ẩm.

3) Cứu hộ, cứu nạn

Một khi đường bay phải qua các khu vực núi non của nước khác, việc cứu hộ – cứu nạn trước hết là do nước sở tại tiến hành, và cơ quan chuyên trách cùng quân đội của nước hay những nước có công dân trên máy bay gặp nạn không thể tiếp cận nhanh và không triển khai được công tác cứu hộ – cứu nạn khi chưa xong các thủ tục ngoại giao. Ngoài ra, do Việt Nam cùng chung biên giới với Lào và Campuchia, việc triển khai cứu hộ – cứu nạn hợp lực cùng hai nước này là điều khả thi, nhưng cũng vì vậy mà nhất thiết phải biết khả năng cứu hộ – cứu nạn của hai nước này hiện như thế nào, năng lực của Việt Nam ra sao, phối hợp bằng cách nào, qua những thủ tục nào, và bằng những phương tiện nào, biện pháp tối ưu nào đã được định ra từ đúc kết của quá trình nghiên cứu, v.v. Chưa tiến hành nghiên cứu và đúc kết thành báo cáo khoa học cũng như chưa có diễn tập cứu hộ – cứu nạn thực địa thì sẽ là thiếu sót rất lớn trong quyết định về đường bay “thẳng” qua Lào và Campuchia.

B. Vấn Đề Và Vấn Nạn An Toàn Hàng Không

1) Kỹ Thuật Hàng Không

       a- Vấn Đề Vùng Thông Báo Bay FIR/UIR, và Kiểm Soát Không Lưu ATC

Báo cáo của đơn vị nào được giao nhiệm vụ nghiên cứu về đường bay thẳng nhất thiết phải cho biết chi tiết thông số dữ liệu về Vùng Thông Báo Bay FIR và UIR để biết phạm vi của FIR Hà Nội, FIR Viêng Chăn, FIR Phnom Penh cũng như UIR Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó kiểm tra thực lực của các FIR và UIR của Lào và Campuchia cả về nhân sự, trang thiết bị, Hệ thống Kiểm Soát Không Lưu, và quá trình an toàn an ninh trong vận hành chức năng của FIR và UIR tại đó từ trước đến nay đối với nội dung đảm bảo an toàn bay, hướng dẫn bay, cảnh báo bay, v.v.

Lịch sử hàng không thế giới từng có những ghi nhận về những tai nạn hàng không rất nghiêm trọng xảy ra do lỗi của nhân viên phụ trách kiểm soát không lưu như trong trường hợp thảm họa khi hai máy bay Tupolev Tu-154M và Boeing 757 đụng nhau trên bầu trời Uberlingen miền Nam nước Đức tháng 7  năm 2002 do nhân viên kiểm soát không lưu của Thụy Sĩ là nước kiểm soát không phận bay của vùng đã cho chỉ dẫn sai; còn thảm họa giữa một máy bay trực thăng và một máy bay khác tháng 8 năm 2009 tại Mỹ lại do một nhân viên kiểm soát không lưu lo trả lời điện thoại cá nhân. Liệu năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, sự sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại, ‎ý thức trách nhiệm, sức khỏe tâm thần, tổ chức quản lý vận hành v.v., của các nhân viên kiểm soát không lưu tại Lào và Campuchia có đáp ứng và giải tỏa được các quan ngại của người dân Việt Nam nói riêng và hành khách sử dụng dịch vụ hàng không của Việt Nam nói chung hay không.

b- Hành Lang Bay

Một vấn đề khác liên quan đến Hành Lang Bay là trong trường hợp có căng thẳng về ngoại giao giữa Việt Nam và Lào hay Campuchia hay cả hai thì đường bay Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị buộc phải bay theo đường khống chế chặt chẽ bởi sự áp đặt từ cơ quan ngoại giao hay quân sự của nước mà máy bay Việt Nam bay qua không phận của họ mà không có quyền thay đổi dù có sự cố cần phải hạ độ cao hay chuyển hướng, đặt máy bay của Việt Nam vào tình huống không thể bảo đảm an toàn bay và sinh mạng của hành khách.

2)  Sinh Mạng Hành Khách Và An Nguy Của Lãnh Đạo Việt Nam

Theo đánh giá của cơ quan hàng không quốc tế tháng 4 năm 2014 thì “đường  bay thẳng” Thành phố Hồ Chí Minh – Hà Nội được xếp thứ 17 trong số 50 đường bay thẳng khác trên thế giới tính theo số lượng hành khách 366.256 lượt khách mỗi tháng (trong khi Mỹ chỉ có đường bay thẳng Los Angeles – San Francisco là có tên trong danh sách Top 20 với thứ hạng 18 có 350.014 lượt khách/tháng). Điều này cho thấy an toàn bay trở thành tối quan trọng vì bất kỳ sự cố nào cũng có nguy cơ dẫn đến thảm họa tổn thất rất cao về nhân mạng, phá hỏng uy tín của ngành hàng không quốc gia. Tai nạn máy bay tháng 5 năm 2014 tại Lào gây tử nạn cho Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng, Bộ Trưởng Bộ An Ninh cùng nhiều quan chức cao cấp khác không thể không tạo sự hoài nghi về sự yếu kém của nhân viên không lưu, tác động bất lợi của địa thế địa hình, và có khi là của sự lạc hậu của trang thiết bị phục vụ cho Vùng Thông Báo Bay và Kiểm Soát Không Lưu.

Sự an toàn tuyệt đối của lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ Việt Nam khó thể được bảo đảm khi đường bay quốc nội “Thành phố Hồ Chí Minh- Hà Nội” theo đường bay mới qua lãnh thổ Lào và Campuchia, và nếu lãnh đạo theo đường bay “cũ” còn người dân theo đường bay “mới” sẽ châm ngòi cho sự hỗn loạn nội tình đối với các công kích của các thế lực thù địch, chưa kể một thảm họa máy bay nếu không may xảy đến cho đường bay mới dù ngay cả do thuần túy lỗi kỹ thuật cũng đặt Việt Nam vào tình trạng bất ổn chính trị và bạo loạn xã hội.

Việc các chuyến bay hiện có từ Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh đến Viên Chăn hoặc Phnom Penh được tính là đường bay “quốc tế” theo đăng k‎ý với ICAO, không thể được đưa ra làm biện minh cho đường bay “quốc nội” nhưng lại qua không phận Lào và Campuchia và phải xin phép hai nước này cũng như trả phí sử dụng không phận cho hai nước này và phải tuân theo áp đặt của họ cho một hành lang bay – nếu có.

Đường bay nội địa giữa hai sân bay bên trong lãnh thổ Việt Nam không thể bị biến thành đường bay quốc tế một cách kỳ lạ như vậy.

C. Vấn Đề Và Vấn Nạn Lợi Ích

Mỗi khi phải lý giải cho một dự án nào thuộc bất kỳ lĩnh vực nào, các Bộ liên quan luôn đưa nội dung “có lợi cho người dân”, “có lợi cho khách hàng”, và “có lợi cho đất nước” để làm cơ sở biện minh. Tôi xin phản biện như sau:

1) Tiết Kiệm

Tiết kiệm là quốc sách để dồn tiền ngân sách cho các công trình ích quốc, lợi dân. Siêu dự án đầu tư cho Sân bay Long Thành và các dự án cho các sân bay khác cho thấy ngành hàng không trong nước có tiềm lực tài chính hùng mạnh, và nội dung tiết kiệm sẽ hiệu quả chỉ bằng hai biện pháp là tiến hành tổng thanh tra toàn diện cùng kiểm toán toàn diện Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam, và tổng giám sát cấp cao liên tục khi bắt đầu các dự án đầu tư xây dựng sân bay cũng như mua sắm máy bay.

Việc bỏ tiền cùng thời gian nhiều lần chỉ cho việc kiểm tra đi kiểm tra lại để xem đường bay thẳng mới ra sao so với đường bay thẳng hiện hành của tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh là sự hoang phí ngân sách chứ không vì lý do tiết kiệm. Chưa kể việc hô hào sự nổi trội về “tiết kiệm” thời gian lưu lại trên máy bay của hành khách trên đường bay thẳng mới khó thể là ưu thế khi mà thực tế có sự tồn tại nghiêm trọng của vô số và thường xuyên của việc chậm chuyến, hủy chuyến tại tất cả các sân bay lớn của Việt Nam, chắc chắn không phải là lỗi của đường bay thẳng hiện hành, mà chính là của sự quản l‎ý, điều hành, và vận hành dịch vụ hàng không. Do đó, đường bay thẳng mới nếu được thông qua cũng sẽ chỉ dẫn đến các tồi tệ mới dưới sự lãnh đạo của cùng những nhân sự đã quản lý yếu kém đường bay thẳng hiện hữu.

2) Lợi Nhuận

Sự lập luận không logic đã xảy ra khi một mặt lý do tiết kiệm được đưa ra, và một mặt viễn cảnh lợi nhuận cũng được đưa ra. Việc phản tác dụng biện minh ở đây là: nếu đường bay thẳng mới ngắn hơn có lợi cho hành khách về giá vé, thì không thể có việc các hãng hàng không sẽ thu lợi nhuận nhiều hơn do giá vé phải thấp hơn trước. Lợi nhuận của các hãng hàng không – một thứ lợi ích nhóm – chỉ có thể có nếu đường bay thẳng mới ngắn hơn và tiết kiệm nhiên liệu hơn, mà giá vé vẫn giữ nguyên hoặc tăng cao với viện cớ sau này rằng đường bay ưu việt hơn về thời gian nên giá phải cao hơn, hoặc do các nước có liên quan tăng giá sử dụng không phận của họ, v.v.

3) Quyền Lợi Của Hành Khách

Khi cả hai nội dung trên hoàn toàn không vì lợi ích của khách hàng thì rõ ràng là hành khách bay đã bị tước mất quyền lợi mà quan trọng trên hết là sự an toàn an ninh hàng không dành cho họ đã bị hy sinh cho lợi ích nhóm và trên cơ sở thiếu vắng các nghiên cứu khoa học nghiêm túc, có tính đến giá trị thực tiễn thay vì chỉ có giá trị tiền bạc.

D. An Ninh Tình Báo và Vấn Đề Đối Ngoại

phần được xóa, không thể công khai trên mạng công cộng

E. Kết Luận

Trong thư của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước gửi đến các vị Lãnh Đạo Việt Nam và sau đó có đăng trên các blog của mình, Ông có viết rằng nếu sự cố được dàn dựng cho một sự “vô tình” như trên xảy ra, toàn bộ danh tiếng an toàn-an ninh quốc gia bị tổn hại, đồng thời gây bạo loạn xã hội ở Việt Nam khi cơn thịnh nộ của người dân và sự khích động của kẻ thù của đất nước chắc chắn sẽ hoặc nhấn chìm đất nước trong bạo loạn hoặc đẩy quốc gia vào cuộc chiến tranh mới với đất nước phản phúc nào đã gây thảm họa cho một chuyến bay của Việt Nam, khiến hủy phá toàn bộ thành quả chính trị và  kinh tế của Việt Nam; và có đặt vấn đề rất đáng suy gẫm về sự lựa chọn giữa hai giá trị của (1) “sinh mạng hành khách + uy tín an toàn hàng không quốc gia + hòa bình trong khu vực + minh định chủ quyền thực tế không phận trên Biển Đông + sự tồn vong của chế độ ” và (2) “tiết kiệm tiền xăng + tiết kiệm thời gian”, và cho rằng “sự thải loại một bên bất kỳ chính là sự xem thường giá trị của bên đó.” Người dân không cho rằng Đảng, Nhà Nước, và Chính Phủ xem thường giá trị của “sinh mạng hành khách + uy tín an toàn hàng không quốc gia + hòa bình trong khu vực + minh định chủ quyền thực tế không phận trên Biển Đông + sự tồn vong của chế độ” để phục vụ cho nội dung “tiết kiệm xăng”.

Vì tất cả các l‎ý do diễn giải nêu trên, tôi kính kiến nghị các vị Lãnh Đạo Đảng, Lãnh Đạo Quốc Hội và Lãnh Đạo Chính Phủ xem xét không thông qua dựa án “Đường Bay Vàng” này.

Kính cảm ơn quý lãnh đạo đã dành thời gian đọc bản đề xuất này và xin kính chào trân trọng.

Lại Thu Trúc

Phone: 0903 380 207

Email: laithutruc@myabiz.biz

*******

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1]  Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm kỳ 2011-2016. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2]  Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân: Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. http://hhphuoc.blog.com/?p=93

Hành Trang Nghị Sĩ

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Rất có thể nhiều người cho rằng hành trang của họ trên đường công tác là điều bí mật, riêng tư, và không muốn ai biết cái gọi là personal và privacy đó. Song, cũng nhiều người hoặc trong số những người ấy hoặc trong xã hội lại luôn mắt dõi theo, tai dõi theo, và miệng cũng nhóp nhép những gì dõi theo ấy đối với cái personal và privacy của người khác.

Thôi thì mặc người ôm khư khư cái privacy của họ và cũng mặc kẻ lăm le dõi mắt vào cái personal và privacy của người khác. Tôi là tôi, một hữu thể cá biệt, cách biệt, riêng biệt, khác biệt, dị biệt với tất cả các cá thể khác – tất nhiên là tôi né tránh nói mình đặc biệt vì có lắm kẻ chực chờ những lời của tôi để ra tay hèn hạ (chẳng hạn có thể rống lên rằng tôi “ăn cắp” cụm từ “người đặc biệt” của Mô-ri-nhô của đội Chen-Xi tại giải ngoại hạng Anh) như đã luôn từng như thế trên mấy tờ báo giấy và mấy trang báo mạng năm 2011[1] [2] và 2013[3]. Qua bài này, tôi muốn kể về hành trang của tôi trên đường đi dự các kỳ họp của Quốc Hội từ năm 2011 đến nay. Một bài viết khác có thể sẽ về hành trạng tư duy của riêng tôi cũng trong môi trường nghị viện. Cần nói thêm là mỗi năm Quốc hội có hai kỳ họp toàn thể, mỗi kỳ khoảng 45 ngày, ấn định khai mạc vào ngày 20 tháng 5 và 20 tháng 10 hàng năm (nếu ngày này rơi vào ngày nghĩ cuối tuần thì buổi khai mạc tất nhiên sẽ dời vào ngày làm việc đầu tiên tiếp theo sau đó). Cũng cần nói thêm rằng tôi là nghị sĩ duy nhất của Thành phố Hồ Chí Minh trong tất cả các kỳ họp toàn thể chưa bao giờ bỏ họp một ngày nào để trở về Thành phố Hồ Chí Minh vì 5 lý‎ do gồm (a) tôi tuân thủ nghiêm túc yêu cầu luật định cũng như yêu cầu của Chủ Tịch Quốc Hội đối với nghị sĩ về thời gian dự họp, (b) tôi thực hiện chính xác yêu cầu mang tính tiêu chuẩn phải đạt của người muốn tham gia ứng cử Quốc Hội năm 2011, (c) tôi muốn “tiết kiệm” chi phí vé máy bay của Nhà Nước, (d) tôi chả phải là chức sắc gì trong hệ chính quyền và tổ chức Đảng của thành phố để phải bay về Thành phố họp nhiều lần trong tháng công tác tại Quốc Hội, và (e) vì tôi có khả năng thu xếp từ xa và quản l‎ý từ xa mọi công việc khác của cá nhân bằng nhiều phương tiện cùng thiết bị hiện đại.

Cũng vì 5 lý do trên, tôi phải đem theo hành l‎ý dư dùng cho thời gian 45 ngày, chẳng hạn:

Số lượng đồ đựng gồm hai “va-li” cũ cỡ lớn, một da nâu và một vải dù giả da xanh  đen (của Chị Hai của tôi cho tôi hồi xửa hồi xưa mà suốt mấy chục năm nay dù đến đâu trên trái đất này tôi đều nâng niu sử dụng chứ không quan tâm đến mấy cái va-li hàng hiệu thật tuyệt mỹ đến độ mê hoặc cái anh chàng ca sĩ nọ ngất ngây mua về chất đống trong nhà thay vì chất kiến thức trong đầu rồi chụp hình khoe của trong tư thế đáng thương hại của kẻ quảng cáo không công cho hãng va-li). Ngoài ra còn hai túi vải nhựa xanh lớn bán ở chợ truyền thống giá mỗi cái chừng 30.000 đồng, giống y như thứ dành cho những người thồ hàng trên đường phố, và bên trong có chứa 2 túi y như vậy để phòng khi lúc bế mạc kỳ họp ra về có nhiều quà tặng của bạn hữu các tỉnh và các đoàn hoặc nhiều tài liệu quan trọng phải mang về thì có cái mà chứa đựng. Tất cả thật cũ. Thật bình dân.

Chưa kể ngoài nhiều thứ văn phòng phẩm, tôi còn đem theo một máy in laser HP (kèm một ram giấy SurePaper 500 tờ khổ A4) để biến phòng ngủ của tôi thành một phòng làm việc tiện nghi với hai máy laptop (một thường nhật và một dự phòng, vì tôi hay thóa mạ Bill Gates và Microsoft do những sự cố hay xảy ra với hệ điều hành của chúng dù tất cả máy của tôi dùng phần mềm bản quyền, cũng như thóa mạ tổ tiên Tàu mỗi khi những thiết bị phần cứng Mỹ chế tạo tại Bắc Kinh dỡ chứng) giúp tôi thay vì phá giấc ngủ của nhân viên Đoàn ĐBQH, chủ động in ra những xấp bài kết quả của đêm đêm nghiên cứu các dự án luật viết thành các ghi chú, những tài liệu nước ngoài có liên quan tra kiếm được từ internet hoặc từ tàng thư cá nhân; soạn thảo các bài phát biểu ở hội trường, các thư góp ‎ý gởi lãnh đạo Đảng, Nhà Nước, Chính Phủ; các thư chuyển và/hay đề xuất những hướng giải quyết các khiếu nại hay tố cáo của công dân[4]; và thực hiện những yêu cầu từ các đơn hàng của khách hàng của công ty tôi, v.v.

Về trang phục, tất nhiên như tôi đã nói đâu đó tại các bài viết của mình [5], tôi thích và quen đeo cra-vat (tức neck-tie) từ nhỏ, còn khi đi làm việc thì cho đến nay luôn đeo cra-vat bất kể đó tại công ty trong nước hay ngoài nước, có tiếp khách hay không, và chỉ thắt cra-vat kiểu Ăng-lê phức tạp với khối tam giác đều ngay ngắn nơi cổ, không bao giờ thắt theo kiểu Mỹ bình dân với khối hình thang méo mó. Số lượng cra-vat tôi đem theo cho mỗi kỳ họp gồm khoảng 30 chiếc đựng trong hai hộp bánh trung thu , với một hộp chứa cra-vat màu đơn made-in-Vietnam, một hộp cra-vat hàng nước ngoài gồm các loại sọc và hoa văn mà đa số Ba tôi hay đeo lúc sinh tiền.

 

Tôi cũng tự hào sử dụng ba dây thắt lưng cũ của Ba tôi để có cảm giác như thể luôn có Ba tôi theo sát bên mình để biết tôi luôn làm việc chăm chỉ như Ba và hết lòng vì nước vì dân theo ước nguyện của Ba, một người cha bình dị, bình dân, bình thường luôn đeo cra-vát ăn mặc nghiêm túc giày tây bóng loáng mỗi khi ra đường đến sở làm cũng như mỗi ngày Chủ Nhật lúc dẫn vợ con dạo phố đi xem xi-nê ở rạp Rex (xem phim cổ trang Đài Loan như… Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài) và rạp Long Phụng (xem phim thần thoại Ấn Độ) rồi đi ăn trưa ở nhà hàng này nhà hàng nọ

 

Trong số nhiều loại thực phẩm dư sử dụng cho thời gian dài ngày của mỗi kỳ họp, tôi đem rất nhiều cà phê thuộc các nhãn hiệu khác nhau do nhiều học trò gởi tặng quanh năm suốt tháng. Và như trong nhiều bài viết về chủ đề cà phê trên Emotino từ 2008, tôi có cho biết tôi nghiện cà phê nhưng rất ghét cà phê pha “phin” vì nó không giống ai cả trong thế giới Âu Mỹ. Tôi uống cà phê tự pha bằng vợt y như cách uống của người dân trưởng thượng sành điệu của Sài Gòn thực thụ (vì cách uống pha “phin” là của giới bình dân). L‎ý do đã được miêu tả rất chi tiết trong các bài viết ấy và có thể sẽ được chọn đăng lại trên blog này. Ở đây xin kể cách pha cà phê của tôi (dù ở nhà, ở cơ quan, ở khách sạn khi họp Quốc Hội, hay ở nước ngoài): cho cà phê đã rang xay vào ly inox theo mức đầy hơn nửa thân ly để bảo đảm cà phê đậm đặc (hộp Phin Deli như hình dưới đây pha được 3 ly, tối đa 4 ly, đủ tôi dùng trong tối đa 2 ngày), đổ nước sôi vào (rót qua chiếc phểu có lót  bông gòn để lọc thêm cho yên tâm về chất lượng nước) cho mức nước vừa 2/3 ly, đậy nắp kỹ; sau năm phút lấy vợt để vào trong ly thủy tinh rồi mở nắp ly inox đổ cà phê vào vợt. Thế là đã có ly cà phê ngon theo ý tôi: nóng, đậm đặc, không đường, thỉnh thoảng có pha thêm bột sữa Coffee Mate. Và mỗi ngày pha ít nhất hai lần cho buổi sáng và buổi trưa, tức trước khi ra xe để đến hội trường Quốc Hội, còn Chủ Nhật thì pha “vô tư” tức không đếm số lần pha. Ban đêm không uống cà phê thì không sao ngủ được vì thương vì nhớ.

 

Cần nói thêm là khi xuất hiện một hay hai tiệm cà phê treo bảng “Cà Phê Trung Nguyên” năm 2007 thì các nhân viên phục vụ ở tiệm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa đối diện bên hông CoopMart Nguyễn Đình Chiểu ắt còn nhớ tôi sáng nào cũng đến để kêu một ly cà phê pha từ 4 phin (nhưng phải pha trong bếp, vì tôi rất ghét bản mặt mấy cái phin rẻ tiền quái đản), không thêm đường, một ấm trà thật đặc quánh mà không một bô lão nào có thể uống đậm bằng, một dĩa thịt bò beef steak có hai ổ bánh mì nóng giòn, và một dĩa 6 cái bánh “su” kem tráng miệng. Tôi pha nước trà đặc chung với cà phê đậm vào ly nước đá to đùng, vừa uống ừng ực ly cà phê thật lạnh, thật đắng, thật nhiều ấy, vừa thưởng thức bánh thật ngọt sau khi đã ăn tảng thịt thật dày. Đó là vào thời gian tôi làm giám đốc điều hành trường Cao Đẳng Doanh Thương Hoa Kỳ (100% vốn nước ngoài của những người Mỹ tại California), và luôn đến đó  ăn cùng một nhân viên trung tín mà tôi phone hẹn mỗi sáng, người luôn kêu cho mình một ly cà phê chồn sữa nóng với một chiếc bánh “su” và né gọi thịt bò để giữ eo cho thon gọn; tôi vừa thưởng thức bửa ăn sáng đạm bạc vừa bàn với cô ấy những việc phải làm trong ngày.

Sự phục vụ của Nhà Khách Trung Ương Đảng (số 8 Chu Văn An, Hà Nội, là nơi “đóng quân” truyền thống của đoàn nghị sĩ Thành phố Hồ Chí Minh từ rất nhiều khóa trước) rất tốt. Y phục mặc xong trong ngày, tôi cho vào giỏ để nhân viên phục vụ đem giặt ủi (tiếng Bắc gọi là “giặt là”) rồi giao lại tủ y phục của tôi ngay trong ngày. Tôi không được “tự nhiên” cho lắm đối với việc trang phục lót (mà tiếng quái gở hiện nay thiên hạ mới nhớn gọi là “nội y”) của mình mà để người phụ nữ xa lạ giặt gỵa , nên tôi tự giặt lấy. Có thể các nữ nhân viên phục vụ phòng và tạp vụ sẽ nhớ đến tôi như nghị sĩ duy nhất quá lịch sự tôn trọng phái nữ khi phơi đồ lót mà vẫn thận trọng che chắn bằng kiểu lồng ghép “độc quyền” có “bằng sáng chế” của sở hữu trí tuệ: áo lót che phần nhạy cảm của quần lót và đôi vớ ở hai bên cánh tay áo, nhìn từ xa cứ như áo ngắn tay thể thao vậy, thay vì áo, quần, và vớ phơi trên những pọt-măng-tô tức móc áo khác nhau:

 

Trên đây là đôi nét về hành trang của tôi, và sẽ là việc bình thường nếu trong các va-li ấy có cả những món ăn tinh thần (các tác phẩm tiếng Anh), những món quà Sài Gòn dành cho viên sĩ quan cảnh vệ cùng nhân viên phục vụ, cùng hai hay ba thùng mì ăn liền  để ăn khuya lúc 2 giờ sáng, v.v.

Thế là sau khi “trang bị tận răng” với những báu vật bình dân, cũ kỹ, mang tính hồi ức thân thương về người Ba quá cố kính yêu và đầy ắp kỷ niệm gia đình, cùng những tình cảm và lời động viên của những cử tri chí khí, bạn hữu chí cốt, học trò chí tình, gởi đến bằng tin nhắn mỗi sáng,

Tôi, nghị sĩ Hoàng Hữu Phước,

Đường bệ ngạo nghễ bước vào Hội trường Quốc hội Việt Nam:

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ. http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[2] Hoàng Hữu Phước. 17-11-2011. Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình & Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[3Hoàng Hữu Phước. 02-2013. Tứ Đại Ngu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/08/05/tu-dai-ngu/

[4Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm kỳ 2011-2016. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[5] Hoàng Hữu Phước. 22-6-2014. Dương Khiết Trì Run Sợ. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/06/22/duong-khiet-tri-run-so/

Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Tham Khảo Dành Cho Bạn Trẻ Thực Sự Muốn Thành Công

Hoang Huu Phuoc, MIB

 

Gần đây có một bạn (nam, không phải nữ) đang làm luận án Tiến Sĩ ở Hà Lan báo cho tôi hay là đã mừng hụt khi tìm được trang blog sau

 

và tiu nghỉu vì bài chỉ có tựa đề mà không có nội dung, có search mấy blog khác cũng bị tương tự. Do emotino.com đã không còn hoạt động nên những liên kết bài từ các blog khác sẽ không còn truy cập vào đó được để đọc bài cần đọc. Vì vậy, tôi cố tìm lại bản nháp đã đăng ngày 21-11-2011 trên emotino.com [*] và đăng lại trên blog này để rộng đường tham khảo cho cộng đồng ắt cũng không phải là điều không ích lợi. Bài được viết từ kinh nghiệm sống, làm việc, hiểu biết, chiêm nghiệm, nhận xét, đánh giá, nghiên cứu, và hành trạng tư duy của riêng tôi.

 

 Định Tính Và Định Lượng Tuổi Trẻ

Tham Khảo Dành Cho Bạn Trẻ Thực Sự Muốn Thành Công

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ở viện nọ tọa lạc trên một con đường mang tên một vị Trạng Nguyên Việt Nam ở Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, có một ông được đề bạt lên từ trưởng phòng hành chính lên chức giám đốc hành chính, tất nhiên đây sẽ là chuyện thăng tiến bình thường và lành mạnh nếu như ông ấy … trưởng thành, đường bệ. Nói như thế vì ông ta vẫn luôn xem mình “trẻ trung” và ra sức chứng minh mình còn trẻ bằng cách cứ nhún nhảy bước chân vào văn phòng là thực hiện hành vi thói quen cố hữu sà vào từng bàn nữ nhân viên một để nhí nhảnh thốt câu “chào bé yêu!” trong khi ai cũng biết sở dĩ ông được lên chức vì sếp chủ tịch xem ông là người tâm phúc chuyên xăng tay áo chạy đáo chạy đôn tìm cách dàn xếp ổn thỏa các khoản thu chi nhạy cảm thiếu hóa đơn tài chính của hàng loạt mấy công ty mà vị sếp ấy làm chủ duy nhất, chứ ông đừng hòng được nhận vào làm việc cho công ty nước ngoài với cái bộ tịch Lão Lai Tử vốn chỉ thích hợp khi có mẹ già cha yếu chứ không phải dzung dzăng dzung dzẻ chốn văn phòng với nữ nhân viên.

Nhiều bạn trẻ mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett, và là đối tượng mềm lòng của các hội thảo thời thượng “học làm giàu” của những vị ba xạo đến từ cõi siêu tưởng hoang đường. Song, giữa mơ và thật, giữa muốn và được luôn tồn tại một vực thẵm thật sâu với khoảng cách giữa hai bờ vực thật rộng đầy nghiệt ngã mà bước chân duy ý chí hoặc một cú nhảy với công cụ lò xo thuần vật lý chỉ là điều khó xảy ra hơn so với việc ngày nào đó quả địa cầu bị đuôi sao chổi xẹt cắt ngọt làm đôi theo chiều ngang, biến thành hai hành tinh độc lập hình nửa quả cam tên Trái Đất Upper và Trái Đất Lower và người Việt thở phào nhẹ nhõm khi Trung Quốc nằm trên Trái Đất “Cõi Trên” (Upper) mà chỉ có một cuộc Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao mới khiến phi thuyền Trung Quốc mò đến được Việt Nam để bị bắn nổ tan tành trên bầu trời Trái Đất Ta Bà (Lower). Việc “mơ” và “muốn” của nhiều bạn trẻ luôn vấp phải vực thẳm ấy chỉ vì hầu như họ chỉ nhìn thấy Mặt Trời hay Mặt Trăng rồi muốn chiếm Mặt Trời hay Mặt Trăng mà không cần biết con đường để đi đến ấy mất bao xa, bao lâu, bằng phương tiện gì, theo đường vòng vèo nào, và người đi phải có sức khỏe ra sao, trí tuệ cỡ nào, tài năng vời cao bao bậc, thậm chí phải có trang bị khủng khiếp ra sao để tồn tại được trong môi trường nóng chảy kim loại bốc hơi của hỏa ngục Mặt Trời và cái lạnh địa ngục tròng mắt đóng băng của Mặt Trăng. Ngoài ra, nhận thức đúng về ưu thế đúng của chính mình là phần đúng nhất đối với các bạn trẻ nào thực sự muốn thành công, mà bài viết này thử nêu đôi dòng ý cá nhân trình làng tham khảo.

Trước khi tiến đến phần cốt lõi về “công thức” Định Tính và Định Lượng Tuổi Trẻ, thiết nghĩ sẽ không phí phạm thời gian nếu nhắc nhở các bạn thêm vài câu hỏi xem (a) bạn nghĩ thế nào về hai chữ “thành công” vì không phải ai cũng cùng chung ý nghĩ với bạn do người tu hành chân chính thành công tất nhiên khác với một nhà buôn chân chính thành công, (b) bạn muốn thành vĩ nhân để riêng bản thân vinh hiển hay vì muốn hy sinh thân mình cho y học, cho dân tộc hoặc cho nhân loại, (c) bạn muốn thành đại gia ngành nào và có manh nha ý định sẵn sàng tàn diệt tất cả các đối thủ cạnh tranh, (d) bạn muốn làm chủ doanh nghiệp phải chăng vì bạn không bao giờ là nhân tài dưới mắt bất kỳ nhà tuyển dụng nào, và (e) bạn có biết đầy đủ về những con người có cái tên bạn đọc vanh vách không – chẳng hạn Bill Gates giàu có nhờ triệt tiêu đường sống của hàng vạn anh tài công nghệ thông tin trên thế giới, chà đạp luật chống độc quyền, nhởn nhơ không cần biết phán quyết tòa án ra sao vì luôn sẵn sàng quăng đủ tiền ra nộp phạt và để nhân loại tức khách hàng hứng gánh cơn thịnh nộ tung virus trả thù của các bậc anh tài mất đất sống nêu trên, v.v.

Nếu chẳng đoái hoài đến phần câu hỏi nhiêu khê ở trên, bạn hăm hở nằng nặc đòi ta đây phải là người thành công dựa trên duy chỉ ưu thế “tuổi trẻ” của mình, xin bạn hào phóng dành ra chỉ mười phút thôi trong cuộc đời tươi trẻ dài dằng dặc của mình để ném một cái liếc nhìn đầy khinh bạc về các phân loại sau để biết vì sao trong thế giới kinh doanh tư bản hùng cường có một vài người trẻ tuổi thành công được phép đứng ngang hàng với đám đông những người lớn tuổi, và vì sao có quá nhiều những người lớn tuổi vẫn chễm chệ ngôi cao mà không bao giờ bị thay thế bởi những người trẻ tuổi. Những nhận định này thuần túy từ ý kiến cá nhân của người viết, dựa trên hơn 20 năm kéo dài qua hai thế kỷ XX và XXI làm việc thân cận với các vị Phó Chủ Tịch Nhân Sự tập đoàn đa quốc gia người Mỹ, và bản thân cũng đã thực thi quyền lực tối thượng của quản trị nhân sự và đã thực nghiệm nhìn người, biết người, chọn người, dùng người trong ngắn hạn, dùng người trong trung hạn, dùng người trong dài hạn, cũng như sử dụng và sa thải ngay cả toàn ban tổng giám đốc người Anh, Mỹ, Canada, Hong Kong, và Việt Kiều, trong khi bản thân từ thời kỳ “tuổi trẻ” đến “hậu tuổi trẻ” luôn được săn đón bởi các tập đoàn nước ngoài cho các vị trí lãnh đạo nên chưa bao giờ có đến nửa lần trong đời phải nộp đơn xin việc, ắt vẫn chưa đến nỗi lạc hậu không còn đáng để tham khảo.

A- ĐỊNH LƯỢNG TUỔI TRẺ

1) Nhân Lực Cho Công Tác Thống Kê:

Nhân lực phục vụ theo ý nghĩa này chỉ đơn giản dựa theo tuổi trên giấy khai sinh mỗi người, và do đó ắt không là sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett.

2) Nhân Lực Theo Phát Triển Tự Nhiên:

Không màng đến 7 Giai Đoạn Đời Người được nêu theo bản sonnet cùng tên của đại thi hào William Shakespeare mà đặc điểm là 7 giai đoạn này gắn kết chặt chẽ như chuỗi ngọc trai được xỏ bằng sợi platin đắt tiền và vững chắc, các nhà buôn hàng hóa tiêu dùng dường như nghĩ rằng ở Việt Nam đơn giản chỉ còn 4 giai đoạn độc lập hoàn toàn như hạt ngọc trai bị đứt dây xỏ dựa hoàn toàn vào sự quan tâm nhiều hay ít của các chương trình khuyến mãi của ngành hàng tiêu dùng của họ, chẳng hạn (1) trẻ em nhất thiết cần sữa bột hay sữa tươi với phụ gia là hàng tá sinh tố và khoáng chất để cao hơn và thông minh hơn dù những thứ sữa này không được phép khẳng định tốt hơn sữa mẹ và trẻ em cũng là nạn nhân của việc tăng giá sữa triền miên, (2) giới “teen” tửng tửng mê sảng nhìn ngón chân cái theo lời réo gọi khuyến mãi của giới quảng cáo chỉ biết chạy theo lợi nhuận hủy phá nhân cách và tương lai giới trẻ bằng các sản phẩm chỉ được tung hứng ở Việt Nam, (3) người trong tuổi lao động kiếm ra tiền để xài tiền mua sắm sữa tắm dê rừng thượng hảo hạng cheo leo vách đá, và (4) người không còn trong tuổi lao động, cần đến các sản phẩm sữa ngừa chứng loãng xương.

Đặc điểm của những người bị giới kinh doanh tự tiện xếp loại này là tất cả họ, dù là người trẻ, người lớn, hay người già đều là đối tượng nhắm đến của ngành hàng tiêu dùng, và do đó ắt không nằm trong sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett.

3) Nhân Lực Theo Nhu Cầu Làm Việc (Lao Động):

Dù là người trẻ, người lớn, hay người già đều có nhu cầu làm việc, khác nhau ở chỗ (a) đối với một số người trẻ thì công việc phải đem đến ngay nào là lương cao, chức trọng, quyền uy, bất kể bản thân hiện có những gì đáng giá hay không, ngoài tuổi trên khai sinh cho biết còn đang thuộc giới trẻ; (b) đối với một số ít người lớn nào tiêu cực thì cách tốt nhất để giữ ghế là kìm hãm sự ngoi lên của những người trẻ tuổi nào “đột biến” giỏi giang, xuất chúng, “già trước tuổi”; và (c) đối với một số người già thì việc được tiếp tục đóng góp trí lực cho xã hội vừa là mong muốn chính đáng vừa là niềm vui thú lành mạnh. Do đây nói về tuổi trẻ, nên nội dung cơ hội việc làm theo đúng…trình tự trước sau, không có cửa cho bất kỳ cú đại nhảy vọt nào theo kiểu đại cách mạng văn hóa Trung Hoa, từ không có gì lên có tất tần tật, nên ắt không nằm trong sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett.

4) Nhân Lực Cho Nhu Cầu Lãnh Đạo Cấp Cao Theo Kỳ Vọng Của Nhà Tuyển Dụng Tập Đoàn Nước Ngoài:

Khi cả ba phần ở trên ắt không là sự quan tâm của những bạn trẻ nào mơ thành vĩ nhân, muốn thành đại gia, ham làm doanh chủ, và đọc vanh vách tên những thần tượng nước ngoài như Bill Gates hay Warren Buffett, tôi thiết nghĩ nên tạm ghi lại sau đây một vài điểm phân tích của tôi mà người trẻ tuổi có thể tham khảo, tự điều chỉnh bản thân để biến mình thành “đại doanh chủ” hoặc “xếp cao cấp” của doanh nghiệp nước ngoài.

 

Theo Bảng 1, các bạn trẻ sẽ thấy trên lý thuyết bạn cực kỳ yếu thế so với người lớn tuổi, còn theo Bảng 2 các bạn lại hơi yếu thế trước người lớn tuổi. Cộng chung cả hai Bảng thì rõ mười mươi là hoàn toàn không có cửa cho bất kỳ bạn trẻ nào chỉ với duy nhất sức hùng hục mà lại có thể tự cho phép mình ngẫng cao đầu, trề môi dè bỉu chê bai người lớn tuổi, gọi họ là “người già”, và muốn chiếm chiếc ghế lãnh đạo công ty từ họ. Bất kỳ ai nếu sớm nhận ra điều yếu thế này của tuổi trẻ, không muốn theo kiểu “từ đồ dần dà” hay “ở lâu lên lão làng”, có thể buộc bản thân phải phát triển thật bình thường từ rất sớm tức là tập trung san bằng khoảng cách với người lớn tuổi. Gọi là bình thường vì chỉ có kẻ bất thường mới sống như miêu tả trong bài “Tuổi Teen Không Có Thật”.  Những điều cực kỳ bình thường ấy bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các việc đơn giản quen thuộc sau đây:

1) Ngay từ cấp mẫu giáo phải làm việc chăm chỉ tức hàng ngày phụ giúp cha mẹ những việc nhà như quét dọn, sắp xếp chăn màn, v.v. (Ghi chú: điều này trước 1975 ở Sài Gòn tất cả các cô giáo đều viết vào tập yêu cầu mẹ học trò phải bảo các em cùng mẹ giặt đồ chung, cùng thu xếp mùng mền chiếu gối chung, rồi ghi nhận số lần có cho các em cùng làm việc ở nhà để nộp cho cô giáo, khiến hình thành cung cách đảm đang của học trò. Điều khác biệt là sau 1975 các thầy cô giáo đều kêu học trò “lao động” tại trường với toàn việc bụi bặm bẩn dơ vô lý vô duyên vô bổ khiến làm mất đi tính đảm đang tại gia đình của trẻ nhỏ vì trẻ chứng kiến chuyện “thầy cô” và ban giám hiệu “yêu lao động” bằng cách chễm chệ ngồi đọc gì đó hay thảnh thơi đứng gởi tin nhắn gì đó qua điện thoại chứ chẳng lao động gì cả với bụi bặm bẩn dơ).

2) Ngay từ lớp đầu tiểu học phải đọc những điều hay kim cổ qua sách vở với mẹ cha.

3) Ngay từ lớp đầu tiểu học phải rèn tính tự lập trong gia đình và lúc học tập (Ghi chú: trước 1975 ở Sài Gòn cha mẹ và thầy cô phối hợp gắn bó nhịp nhàng, dù không có Hội Phụ Huynh và chẳng đời nào có buổi họp phụ huynh; thầy cô nhà trường chỉ gặp tất cả phụ huynh lúc họ đưa con đến ngày tựu trường còn ban giám hiệu gặp vài phụ huynh vào ngày bãi trường vì họ có con thuộc danh sách học giỏi mỗi lớp có 3 em từ hạng nhất đến hạng ba, đặc biệt chẳng bao giờ có chuyện nhà trường xin tiền xin đồ, gợi ý xin tiền xin đồ, hay vận động xin tiền xin đồ phụ huynh vì bất kỳ lý do gì như hiện nay có cái kiểu cấp thấp dưới tên gọi cấp cao “đóng góp cơ sở vật chất” hay “nhân Ngày Nhà Giáo” hoặc “để thầy cô đi nghĩ mát hè ở Singapore” xảy ra nhan nhản hoặc chỉ cá biệt ở tất cả hoặc chỉ dăm ba trường học Việt Nam).

4) Ngay từ lớp đầu trung học phải tập trung trau giồi kiến thức chung của trường lớp đang học, tham khảo thêm kiến thức chung của cấp lớp cao hơn và kiến thức chung của cấp lớp cao hơn cấp lớp cao hơn, cùng kiến thức đầy ắp khác của riêng từng ngành dù không có trong chương trình trường lớp của cấp hiện học, cấp lớp cao hơn, và cấp lớp cao hơn cấp lớp cao hơn.

5) Ngay từ lớp đầu trung học phải biết tuyệt giao với các trò giải trí vô bổ, đừng dại dột nghe theo câu vớ vẩn nói về tai hại của việc “học mà không chơi”. (Ghi chú: trước 1975 ở Sài Gòn trò giải trí vô bổ ở trong xóm gồm đánh đáo, bắn bi, chơi bầu-cua-cá-cọp hay các thứ bài và cờ, v.v.; còn ở thời hiện đại ngày nay thì trò giải trí vô bổ bao gồm chơi game vi tính, tham gia những gameshow không cùng một đẳng cấp với “Đường Lên Đỉnh Olympia”,  v.v.).

6) Ngay từ lớp đầu trung học phải hướng và cố sức vói với ra bên ngoài chiếc hộp của tuổi “teen” để học hỏi từ các anh chị lớp lớn hơn, các anh chị sinh viên, các thầy cô, và bạn hữu của mẹ cha.

7) Ngay từ lớp đầu trung học biết tuyệt giao với các quan hệ vớ vẩn (mà ngày nay phát triển như dịch trên các mạng xã hội như Facebook và những thứ tương cận ngay cả khi mạng xã hội ấy của Việt Nam thuần túy.)

8) Ngay từ lớp đầu trung học đã phải tập tính nghiêm túc, nghiêm trang, nghiêm nghị, điềm đạm, đảm đang, có trách nhiệm, xung phong gánh vác nhiều nhất có thể được các công việc nơi trường lớp.

Kết quả từ những việc bình thường trên là nhiều người trẻ tuổi tạo được cho mình sự vững chãi từ trước khi bước vào ngưỡng cửa lớp 10 để vinh diệu đường bệ tiến vào đại học, nơi họ trở thành đại loại như một “nhà khoa học tập sự” hay “nhà nghiên cứu tập sự” và có tư thế “nhà khoa học” khi bước đến cổng ra của trường đại học để là người thầy giỏi hay nhà khoa học giỏi. Chẳng thế mà trước 1975 cái danh “bác sĩ”, “kỹ sư”, “giáo sư”, v.v. luôn có ánh hào quang, hào nhoáng, đầy cuốn hút, chứ không như hiện nay thiên hạ cứ nói hoài về chuyện sinh viên tốt nghiệp đại học bị nhà tuyển dụng chê, thậm chí còn có chuyện cần đào tạo lại. Việc này không do lỗi nhà trường mà do bản thân người đi học đã không  quen với những việc “bình thường” nêu trên trong cố gắng tự thân để lao nhanh đến trước, gom nhiều thu thừa kiến thức, xem sự học như cuộc chiến sinh tồn chứ không là khoảng thời gian bình thường của cuộc đời hưởng thú rong chơi cuối trời quên lãng của tuổi xanh. Cái “lượng” của tuổi trẻ, do đó, là tất cả những gánh nặng không những do chương trình học đè lên vai nhỏ mà còn từ tất cả những kiến thức, việc làm, mà mỗi ngưởi trẻ tuổi cố tự thân nhặt nhạnh thật nhiều, thật nhiều hơn để chồng lên thêm trên các chương trình ấy.

B- ĐỊNH TÍNH TUỔI TRẺ

Khi nói về “tuổi trẻ”, người ta không nói về trẻ em, mà như một mặc định thiên hẳn về thanh niên, tức những công dân “mới tinh” với gánh nặng trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, và tổ quốc. Sự khác biệt duy nhất giữa những người lớp “tuổi trẻ” là ở vị trí gánh nặng: nó đang nằm trên vai người ấy hay bị vứt ngỗn ngang trên mặt đất, nó nặng hơn hay ít nặng hơn gánh của người khác, gánh đầy hay trống trơn, và gánh có bị san bớt một cách láu cá qua gánh của người khác hay không. Từ nhận xét này, có thể thấy những thể hiện khác nhau của những người “tuổi trẻ” do những nội dung khác nhau trong tư tưởng, tính cách riêng của mỗi người hình thành từ mức độ thấp hay cao của ý chí:

1) Tính Trẻ Con

Điển hình của “trẻ con” là dễ dàng thần phục sự chế ngự của cảm xúc (dễ bùng nổ), của cái tôi (ương bướng), và của ngẫu hứng (hay thay đổi, không gắn kết); từ đó dẫn đến thiên hướng phi tổ chức (tùy tiện), phi trách nhiệm (hoặc né tránh, hoặc viện cớ), và phi l‎ý (yếu phân tích, yếu tổng hợp, theo cảm tính); mà hậu quả thường là có quyết định nhưng không có quyết tâm, mừng vui bùng nổ khi thành công nhưng sụp đổ hoàn toàn khi thất bại, chất lượng công việc nếu tốt thì chỉ trong ngắn hạn, nhất thời, đặc biệt hiếm nhận được sự “thần phục” của người khác. Nếu có cá tính cao thì hoặc tự nhiên lập dị hoặc cố tạo cho mình lập dị, hoặc làm lộ mặc cảm tự tôn complex of superiority, còn nếu không có cá tính thì lại có khuynh hướng bầy đàn hùa theo số đông hoặc vướng mặc cảm tự ti complex of inferiority luôn thấy mình thua thiệt dẫn đến thù hằn, cau có, quạu quọ.

2) Tính Trẻ Trung

Trong khi đó, tính trẻ trung lại tồn tại ở bất kỳ ai, bất kể tuổi tác (trẻ hay già), bất kể tính tình chính (có cá tính cao hay không có cá tính), bất kể giai tầng xã hội (giàu vàng bạc đầy rương hay chạy cơm từng bửa), bất kể nghề nghiệp (lao động trí óc hay lao động chân tay, chiến sĩ hay tài xế taxi), bất kể địa phương (thôn quê hay thành thị), v.v., được thể hiện qua cách sống an vui tích cực, cách làm việc an vui tích cực, cách đối xử an vui tích cực với tha nhân, và cách nhìn an vui tích cực với xã hội, với cuộc đời. Từ “tích cực” được lập đi lập lại như cốt lõi của tính trẻ trung, vì đó mới là cung cách đúng, độc đáo, độc quyền của “tuổi trẻ”. Bạn trẻ nào làm mất thứ báu vật đó qua cách sống dật dờ, né tránh công việc nhất là công việc nặng nhọc, làm ngơ trước trách nhiệm nhất là khi phát sinh sự cố đòi hỏi phải có người gánh vác việc nhận lỗi và khắc phục, và buông thả, thì bạn trẻ đó không còn trẻ trung. Người lớn tuổi nào nâng niu cái báu vật ấy qua cách sống năng động, qua cách làm việc hăng say, xốc vác, có trách nhiệm cao, nhắm đến kết quả và hiệu quả, làm chỗ dựa cho đồng nghiệp trẻ, và giữ mình trong khuôn phép nội quy và khuôn khổ pháp luật, người lớn tuổi ấy vẫn mãi trẻ trung.

Nhà tuyển dụng nước ngoài thường quan tâm đến người trẻ trung, chứ không phải người trẻ con.

Người trẻ tuổi có tính trẻ trung là người tuyệt diệu.

Người lớn tuổi có tính trẻ trung là người tuyệt diệu.

Người trẻ tuổi có tính trẻ con là tai họa nhãn tiền.

Người lớn tuổi có tính trẻ con là tai họa hiển nhiên.

Và sự lựa chọn sẽ bắt đầu.

Người ta chỉ tuyển người tuyệt diệu.

Người trẻ tuổi sẽ thắng nếu đã biết lao lung để có sẵn nhiều kinh nghiệm sớm hơn từ trước đó.

Người lớn tuổi sẽ thắng nếu đã sẵn có nhiều thành tích nổi bật từ nhiều năm “chinh chiến chốn sa trường” trước đó và duy trì được sức hừng hực của sự trẻ trung.

C- KẾT LUẬN

Như vậy các bạn ắt đã phân biệt được thế nào là tuổi trẻ và thế nào là tính trẻ.

Tuổi trẻ chỉ cho bạn lợi thế duy nhất là thời gian, và lợi thế ấy đang mất ở vô số bạn trẻ đang coi mình là “teen”, đang sa đà vào ăn chơi, giải trí, chát chiết, cắm đầu chúi mũi vào I-phone I-pad, gameshow, nhảy nhót, đua chen “hàng hiệu”, phung phí bạc tiền, phí phung thời gian, mà thời gian nghĩa là tuổi trẻ. Lợi thế này chỉ được phát huy có lợi tuyệt đối cho bạn nếu bạn tận dụng thời gian làm giàu kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, ra tay thực hành tự tạo kinh nghiệm. Và sẽ là điều ngạc nhiên nếu bạn không trở thành nhà lãnh đạo doanh nghiệp trẻ tuổi thành công – tất nhiên ở đây chúng ta không nói đến nhóm những người tuy được gọi là nhà doanh nghiệp trẻ tuổi thành đạt nhưng do nhờ thừa kế tài sản cơ nghiệp sẵn có của mẹ cha.

Tính trẻ không có thời gian tính như tuổi trẻ. Tính trẻ còn hay mất tùy thuộc duy chỉ vào tinh thần sống, thái độ sống, cung cách sống, trí tuệ sống, của mỗi một con người. Người lớn tuổi nào vẫn còn tính trẻ, người đó trở thành bất khả chiến bại trước bất kỳ người trẻ tuổi nào (tất nhiên trong trận đấu công bằng, mà võ đài công bằng đễ thấy hơn là tại một công ty lớn của nước ngoài). Vì vậy bạn trẻ phải bằng họ ở tất cả các điểm quan trọng của Bảng A và Bảng B để tuổi trẻ của bạn biến thành lợi thế thực thụ, đồng thời duy trì tính trẻ để bạn mãi ở ngôi cao đến chừng mực cho phép của sức khỏe cuộc đời.

Đã khuya. Viết bài này thân gởi các bạn trẻ, vừa để hy vọng các bạn nhận ra uy lực của mình, vừa để chứng tỏ tôi vẫn đang cố duy trì tính trẻ để trở thành đối thủ cạnh tranh đáng gờm trên tất cả các mặt trận với bạn đấy.

Chúc các bạn thành công. Và…hãy đợi đấy!

Người bạn tính trẻ của các bạn tuổi trẻ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[*] Hoàng Hữu Phước. 21-11-2011. Định Tính Và Định Lượng Của Tuổi Trẻ. http://www.emotino.com/bai-viet/19402/dinh-tinh-va-luong-tuoi-tre

Thư Gởi Thủ Tướng Về “Đường Bay Vàng”

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Thực hiện đúng lễ nghi phong cách mà tôi đã từng nêu trong bài viết về Ngô Di Lân [1] nghĩa là nếu viết thư cho lãnh đạo nào thì trước hết phải gởi trực tiếp đến lãnh đạo đó, và phải đợi một thời gian mới có thể sử dụng nội dung của bức thư ấy, hôm nay tôi đăng toàn văn bức thư mà tôi, với tư cách Đại biểu Quốc hội Khóa XIII của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, đã gởi đến Thủ Tướng để nêu ý kiến cá nhân của tôi đối với vấn đề “Đường Bay Vàng”[2] , như dưới đây để làm sử liệu. Do tính cấp bách của vấn đề nhất là khi nó đã bị báo chí tác động kiểu khống chế trấn áp tâm lý người đọc nhằm cùng lúc hình thành hào quang giả tạo cho “Đường Bay Vàng” và sự bêu rếu Chính phủ như phía luôn phản bác những cơ hội “hốt bạc” và “tiết kiệm” “có lợi cho nước nhà”, bức thư của tôi đã được viết thật nhanh và ngắn gọn.

*********

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 9 năm 2014

Kính gởi: Thủ Tướng Chính Phủ

Bản sao kính gởi:

-         Chủ Tịch Nước và Phó Chủ Tịch Nước

-         Các Phó Thủ Tướng

-         Bộ Trưởng Bộ Giao Thông – Vận Tải

-         Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng

Bản sao đồng kính gởi:

-         Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam

-         Chủ Tịch Quốc Hội và các Phó Chủ Tịch Quốc Hội

-         Chủ Nhiệm Ủy Ban Đối Ngoại

-         Lãnh Đạo Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Thành phố Hồ Chí Minh

V/v Góp Ý Về  Dự Án “Đường Bay Vàng” Của Hàng Không Dân Dụng Việt Nam Qua Không Phận Lào Và Campuchia

Kính thưa Thủ Tướng:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh,

Kính có ý kiến sau để phản bác dự án “Đường Bay Vàng” Của Hàng Không Dân Dụng Việt Nam Qua Không Phận Lào Và Campuchia do Bộ Giao Thông – Vận Tải đệ trình Thủ Tướng mà dư luận báo chí đã tập trung “đánh bóng”, “lăng-xê”, thiếu khách quan, thậm chí có báo còn dùng từ ngữ bình dân như “hốt bạc”, và không có giá trị cao trong bao quát và phản biện.

1) Về phương pháp đo đạc số học giản đơn: Nếu cho rằng đường bay từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh theo tuyến truyền thống nghĩa là từ Hà Nội bay vòng ra Biển Đông rồi rẽ vào Buôn Mê Thuột để thẳng về Thành phố Hồ Chí Minh dài hơn, xa hơn, tốn thời gian hơn và tốn nhiên liệu nhiều hơn, thì đó là một nhận xét thuần túy tính toán số học và đo đạc trên sa bàn không cần phải ở trình độ đại học và sau đại học hoặc là chuyên viên ở cấp Bộ mới có thể nhận ra.

2) Về lập luận đối với “tiết kiệm”: Nếu nói đến “tiết kiệm” mà chỉ nghĩ đến số tiền có thể để dành được thì đó không là ý nghĩ của những người thuộc tầng lớp và đẳng cấp quyết định kế sách chiến lược dài hạn của quốc gia. Đường bay hiện hữu có đang làm Hàng Không Dân Dụng Việt Nam thiệt hại và lỗ đến độ không thể xây dựng sân bay mới ở các tỉnh thành và đặc biệt là dự án khổng lồ Sân Bay Long Thành; và sau “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh phải chăng sẽ là vô số các “Đường Bay Vàng” Hà Nội – Bang Kok, và Hà Nội – Paris, v.v., sẽ là những câu hỏi được đặt ra từ công chúng.

3) Về giá trị pháp lý quốc tế: Đường bay hiện hữu ắt đã được đăng ký và công nhận bởi các cơ quan quốc tế, trong đó có ICAO. Như vậy, “Đường Bay Vàng” ắt sẽ khiến xóa bỏ đường bay hiện hữu trong đăng ký của các cơ quan này.

4) Về không phận quốc gia: Đường bay qua không phận quốc gia khác luôn phải đóng lệ phí, và đường bay hiện hữu qua Biển Đông minh định chủ quyền không phận quốc gia Việt Nam trên Biển Đông bị bỏ có thể sẽ dẫn đến nguy cơ Trung Quốc chiếm lĩnh chủ quyền không phận truyền thống này cho phù hợp với tuyên bố của họ về chủ quyền Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông.

5) Về mặt kỹ thuật hàng không, trên những chuyến bay qua các vùng địa lý khác nhau có cả vùng biển thì luôn luôn có tiết mục hướng dẫn qua tiếp viên hàng không và/hoặc băng hình trong đó có cách sử dụng áo phao cứu hộ, trong khi trên tất cả các chuyến bay của tất cả các hãng hàng không trên thế giới không phải bay ngang vùng biển thì tuyệt nhiên không có hướng dẫn gì cả, nghĩa là khi có sự cố kỹ thuật khi bay trên biển thì hành khách trên nguyên tắc và lý thuyết còn có hy vọng sống sót, trong khi nếu xảy ra bên trong đất liền thì hoàn toàn không thể có hy vọng đó.

6) Về mặt thực tế an toàn an ninh hàng không, những chuyến bay qua vùng chiến sự không được cho là khôn ngoan như đã được minh chứng một cách thảm khốc trên toàn thế giới. Lào và Campuchia không có chiến sự thực tế với Việt Nam, nhưng đây là những nơi dưới tầm ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc, và không ai có thể bảo đảm rằng những hỏa tiển đất-đối-không của những bàn tay táy máy, “sơ ý”, “vô tình”, cướp cò, v.v., của những kẻ đang điên loạn kêu gào lãnh thổ Việt Nam chỉ kéo dài đến xứ Quảng sẽ không bao giờ nhằm bắn về các máy bay dân dụng Việt Nam.

7) Về danh tiếng và an ninh quốc gia: Nếu sự cố được dàn dựng cho một sự “vô tình” như trên xảy ra, toàn bộ danh tiếng an toàn-an ninh quốc gia bị tổn hại, đồng thời gây bạo loạn xã hội ở Việt Nam khi cơn thịnh nộ của người dân và sự kích động của kẻ thù của đất nước chắc chắn sẽ hoặc nhấn chìm đất nước trong bạo loạn hoặc đẩy quốc gia vào cuộc chiến tranh mới với đất nước phản phúc nào đã gây thảm họa cho một chuyến bay của Việt Nam, khiến hủy phá toàn bộ thành quả chính trị và  kinh tế của Việt Nam.

Nói tóm lại, sự lựa chọn phải là giữa hai giá trị của (1) “sinh mạng hành khách + uy tín an toàn hàng không quốc gia + hòa bình trong khu vực + minh định chủ quyền thực tế không phận trên Biển Đông + sự tồn vong của chế độ ” và (2) “tiết kiệm tiền xăng + tiết kiệm thời gian”, trong đó sự thải loại một bên bất kỳ chính là sự xem thường giá trị của bên đó.

Vì tất cả những yếu điểm mang tính nguy cơ trên của dự án “Đường Bay Vàng”, tôi khẩn thiết đề nghị Thủ Tướng không thông qua dự án trên.

Kính biết ơn Thủ Tướng đã dành thời gian đọc bản kiến nghị này.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 07-3-2014. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

[2] Hoàng Hữu Phước. 05-9-2014. Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về cái gọi là “Đường Bay Vàng”. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/09/05/nghi-si-hoang-huu-phuoc-noi-ve-cai-goi-la-duong-bay-vang/

Nghị Sĩ Người Khuyết Tật: Tại Sao Không?

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật tháng 12 năm 2006 sau thời gian dài kể từ khi ban hành các hiệp ước không có giá trị ràng buộc pháp lý như Các Định Chuẩn Về Bình Đẳng Trong Các Cơ Hội Dành Cho Người Khuyết Tật năm 1994 và Chương Trình Hành Động Toàn Cầu Về Người Khuyết Tật năm 1982, có xét đến các khuyến nghị của Ủy Ban Nhân Quyền và Ủy Ban Phát Triển Xã Hội cũng như các kiến nghị của các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ. Điều này cho thấy quyền, nhân phẩm, giá trị của người khuyết tật, và vấn đề phân biệt đối xử đối với người khuyết tật đã không nằm trong những chương trình nghị sự của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc và Ủy Ban Phát Triển Xã Hội Của Liên Hợp Quốc, những công cụ dưới bàn tay thao túng của các siêu cường tư bổn tích cực can thiệp vào nội bộ các quốc gia không có trong danh sách thân hữu mà các tổ chức này thân thiện. Điều cần nói ở đây là Cơ quan Nhân Quyền Liên Hợp Quốc UNCHR được thành lập năm 1946 đã mang nhiều tai tiếng tồi tệ về nhân quyền khi ủng hộ các chế độ độc tài khét tiếng và đưa các nước của các chế độ này vào cơ quan CHR đến độ nó phải bị phế bỏ và được thay thế bằng Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc UNHRC (từ CHR thành HRC) bởi Nghị Quyết A/RES/60/251 ngày 15-3-2006 của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc và gần như ngay lập tức nó tích cực “nghĩ” đến người khuyết tật và rốt cuộc tạo được tấm bình phong đầy hào quang tốt đẹp từ kết quả của các khuyến nghị đúng nghĩa nhân văn nhân quyền. Tuy nhiên, sau 60 năm kể từ khi có cơ quan nhân quyền CHR, với thân phận tật nguyền chịu đựng bao bất công xã hội và phân biệt đối xữ bởi thói đời và bị bỏ quên bởi cơ quan Liên Hợp Quốc đại diện cho toàn nhân loại, người khuyết tật đã có được sự bảo vệ quyền và nhân phẩm của chính mình cùng những cơ hội bình đẳng khác với bản Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật cũng như những chính sách của từng quốc gia dành các phúc lợi cho công dân khuyết tật của từng quốc gia đó.

Ở Việt Nam đã có những chính sách dành cho bản thân người khuyết tật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, xã hội, y tế, phúc lợi, nghề nghiệp, phục hồi chức năng, kinh tế, v.v., cũng như những ưu đãi dành cho các doanh nghiệp có tuyển dụng người khuyết tật ngõ hầu tạo cơ hội việc làm nhiều hơn cho người khuyết tật, sử dụng khả năng của họ, và trên hết là tạo cho họ sự tự tin khi phẩm giá của chính mình được tôn trọng và cuộc sống của họ đầy tự trọng trong tư thế “khuyết tật” vẫn chủ động được trong cuộc mưu sinh.

Việt Nam, đất nước trong số 196 quốc gia trên toàn thế giới và 193 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, và là một trong số 47 quốc gia thành viên của Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hợp Quốc UNHRC đang chuẩn bị phê chuẩn Công Ước Liên Hợp Quốc Về Quyền Của Người Khuyết Tật nhằm nâng cao hơn theo chuẩn mực quốc tế những cam kết và đảm bảo đối với nguyên tắc được tuyên bố tại Hiến Chương Liên Hợp Quốc và các công ước của Liên Hợp Quốc có liên quan.

Tôi kỳ vọng rằng kể từ Quốc Hội Khóa XIV trở đi sẽ có sự tham gia của các đại biểu dân cử là người khuyết tật vì chính trị cũng là một trong những quyền thuộc phạm trù bình đẳng, tự do, dân chủ, dân quyền, và nhân quyền, tức những điều thiêng liêng mà Việt Nam luôn tôn trọng, Chính phủ Việt Nam luôn cố gắng đẩy nhanh tiến độ luật hóa những phạm vi còn thiếu trong đảm bảo các quyền hiến định, và Đảng Cộng Sản Việt Nam luôn nêu cao tôn chỉ cũng như vạch ra các phương hướng, phương cách, phương sách, xây dựng được nền dân chủ, bảo vệ được dân quyền, và áp sát các chuẩn mực chung về nội hàm nhân quyền mà Việt Nam là thành viên tích cực trong tổng số 47 quốc gia thành viên của tổ chức nhân quyền lớn nhất hành tinh.

Tất nhiên, không phải người khuyết tật nào cũng có thể thực hiện dân quyền trong ứng cử vào cơ quan dân cử của quốc gia do các đặc thù khiếm khuyết của cơ thể, khó đáp ứng yêu cầu cao của một nghị sĩ quốc hội hoặc một đại biểu hội đồng nhân dân, thí dụ như phải có nguồn lực tài chính riêng do nghị sĩ Việt Nam không hưởng lương, có quỹ thời gian đủ đáp ứng 1/3 thời gian trong năm để làm công tác đại biểu tập trung và không tập trung, v.v. Những tham khảo dự án luật trong hoàn cảnh Việt Nam không có các văn bản ngôn ngữ Braille khiến những công dân khiếm thị khó thể tham chính. Song, trước mắt thì những công dân khuyết tật về các chi dưới chẳng hạn vẫn có thể đảm đương tốt vai trò của một nghị sĩ hay đại biểu dân cử trong đóng góp chất xám và trí tuệ cho Đảng, cho nước, cho dân, với lòng yêu đất nước xã hội chủ nghĩa.

Tòa nhà Quốc Hội mới của Việt Nam đang trong giai đoạn hoàn thiện. Vấn đề ở đây là không rõ trong thiết kế của tòa nhà mà Quốc Hội khóa trước đã thông qua đã có các trang bị dành cho người khuyết tật – là các nghị sĩ Việt Nam và nước ngoài kể cả khách mời và công dân Việt Nam – hay chưa, chẳng hạn ngoài thang máy còn phải có lối đi cho xe lăn, và cả thiết bị giúp người khuyết tật có thể cặp xe lăn của mình vào thành lan can cầu thang bộ để được tự động đưa lên hay đưa xuống theo đường vòng của chính các cầu thang này chung với dòng người đang sử dụng thang bộ, tức một cách hiện đại để thực sự có được sự hòa đồng, bình đẳng, theo đúng nội dung của Công ước và được Công ước khuyến khích.

Các bạn người khuyết tật tại Thành phố Hồ Chí Minh hay tại tất cả các tỉnh thành trên toàn quốc quan tâm đến việc được cống hiến sức lực và trí tuệ cho nước nhà với vai trò nghị sĩ quốc hội, muốn được trò chuyện, tư vấn, tìm hiểu thêm, cũng như được khuyến khích và động viên, xin vui lòng liên hệ với tôi qua thư gởi đến Văn Phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, số 2bis Lê Duẩn, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do tôi không có đảng tịch vì không là Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, không là hội viên của bất kỳ câu lạc bộ nào dù của khối khoa học hàn lâm hay doanh nghiệp, và cũng không sinh hoạt tại bất kỳ tổ chức nào kể cả VCCI, tôi sẽ không do bất kỳ ai giới thiệu ra ứng cử mà chỉ có khả năng tự ứng cử. Vì vậy, tôi có thể giúp các bạn về kinh nghiệm trong khâu tự ứng cử, phác thảo chương trình hành động và tiếp xúc cử tri cũng như tiếp dân và các nội dung khác của sinh hoạt nghị trường.

Công dân Việt Nam là người khuyết tật có thể làm nghị sĩ Quốc hội Việt Nam: đó là điều chắc chắn và là lẽ đương nhiên.

Nghị sĩ người khuyết tật: tại sao không?

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về cái gọi là “Đường Bay Vàng”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Báo chí đang nói quá nhiều về cái gọi là “Đường Bay Vàng” tức hướng bay mới cho các chuyến bay từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.

Các “nhà báo” nào đưa tin đối với đề tài linh tinh rẻ tiền không quan trọng không cần động não nghĩ suy kiểu “miễn bình luận” là nhanh nhảu tự phơi bày bản thân chỉ là “người đưa tin” tức là đẳng cấp thấp nhất của bất kỳ tờ báo danh tiếng nào trên thế giới, tức những ai không đủ trí kiếm tìm ra đề tài và tìm kiếm ra người đại trí có thể trả lời đúng nhất cái đề tài đó, và không đủ can đảm xông pha nơi hiểm ác nguy nàn nhiều rủi ro rơi vào tay những kẻ như Nhà Nước Hồi Giáo IS.

Các “nhà báo” nào nhanh nhảu phỏng vấn mấy ông CEO của hãng hàng không này hãng hàng không nọ là nhanh nhảu tự phơi bày bản thân mình theo công thức cũ rích nhàm chán chỉ toàn là  thất bại của: cái gì liên quan đến cà phê thì gặp “ông” Trung Nguyên, cái gì liên quan đến “ẩm thực” thì gặp “ông” Phở 24, cái gì liên quan đến “đường bay vàng” thì gặp “ông” hàng không, cái gì liên quan đến giáo dục thì gặp nhà giáo này nhà giáo nọ, cái gì liên quan đến hằm bà lằng xắng cấu thì gặp “ông” luật sư X hay “ông” nhà sử học Y, v.v., mà không hiểu rằng luật sư chỉ là người bảo vệ thân chủ bằng mọi giá dựa trên sự nắm rất rõ những đạo luật không phải do “ổng” xây dựng nên mà người thường vẫn có thể tự biện hộ không cần đến “ông” luật sư, rằng nha sĩ là người nhổ răng cho thân chủ dựa trên sự nắm rất rõ những phương pháp và thiết bị không phải do “ổng” chế tạo ra nhưng người thường chẳng ai mua thiết bị đó lắp ở trong nhà, rằng nhà giáo không phải là “nhà giáo dục” vì ở nước ngoài có bằng cấp thạc sĩ giáo dục học, thạc sĩ giáo học pháp, thạc sĩ soạn giáo trình, thạc sĩ phương pháp giảng dạy, v.v. chứ không phải cứ là nhà giáo là biết về kế sách vĩ mô của giáo dục, rằng phở không bao giờ là thức ăn xứng đáng đại diện cho ẩm thực Việt Nam do nguy cơ bò điên và gà cúm cũng như không thích hợp cho số dân khổng lồ trên thế giới thuộc nhóm ăn chay trường còn cái ông Phở 24 lo bán phở và bán luôn Phở 24 thì không có trình độ tư duy chiến lược để nói về ẩm thực Việt Nam ngoài tô phở nhạt thếch của ông ta, và rằng “nhà sử học” là người có đọc sách sử không do “ổng’ viết nên mà bất kỳ ai cũng có thể đọc như “ổng” hoặc nhiều hơn “ổng” thậm chí đọc sách sử bằng tiếng nước khác, biết chính xác hơn “ổng” và đúng hơn “ổng”, v.v. Hành nghề báo chí mà nguồn phỏng vấn chỉ có thế chẳng phải là đáng thương hại lắm ru?

Vì quá chán chường với mấy “nhà báo” đẳng cấp thấp trong sổ tay chỉ có danh sách lèo tèo hai ba vị luật sư” và “nhà sử học” cùng công thức quái gở trên, tôi xin có nội dung sau về “Đường Bay Vàng” sau khi đã gởi thư đến Thủ Tướng cách nay vài hôm để nêu ra 7 vấn đề quan trọng nhằm kiến nghị không thông qua dự án “Đường Bay Vàng” ấy.

Tôi đã đi phỏng vấn vài cháu học sinh tiểu học ở miệt vườn Miền Tây, và các cháu này giải thích như sau:

Chuyện mấy chú mấy bác ở Cục này Cục nọ chìa ra cái hình vẽ về “Đường Bay Vàng” cho mấy chú mấy bác ở báo đó báo kia đăng lại là sai bét sai be vì không bao giờ có được cái đường bay thẳng băng đó do địa cầu quay từ trái qua phải, nghĩa là nếu bay thẳng băng từ Hà Nội vô Thành phố Hồ Chí Minh thì khi tới không phận của cái lẽ ra là Thành phố Hồ Chí Minh thì bên dưới máy bay lại là Kandai, Takeo hay Koh Kong của Campuchia, hoặc nếu gió thổi địa cầu quay nhanh hơn thì bên dưới máy bay sẽ là biển Vịnh Thái Lan hoặc…thành phố Pattaya xinh đẹp của Thái Lan. Vậy thì Bác Phước ơi, máy bay mình hoặc đáp xuống Pattaya chơi, hoặc hết hồn quẹo trái để rượt theo trái đất để “dìa” đến Việt Nam. Bác thấy hông, máy bay mình hoặc bay vòng ra Biển Đông rồi lợi dụng ưu thế trái đất quay từ trái qua phải để quẹo phải vòng vô đất liền nhanh hơn để tiết kiệm thời gian, hoặc bay vòng qua Lào và Campuchia rồi quẹo trái và tăng tốc tốn nhiên liệu và thời gian để rượt đuổi địa cầu vì địa cầu và máy bay cùng đi về một hướng làm máy bay đi tới đâu đều bị địa cầu tiến thêm để bỏ máy bay lại phía sau. “Gồi” Bác sẽ thấy cả hai hướng “vàng” và “không vàng” đều bằng nhau hoặc cách nhau có chút xíu xìu xiu hà! Nhờ Bác nói với mấy “ổng” là chỉ có “đường bay thắng” nếu bay song song với đường xích đạo hay vĩ tuyến chớ hổng bao giờ có “đường bay thắng” để bay song song với đường kinh tuyến cả. Mà cả hai đường bay ngang và bay dọc đều có lợi thế và mất lợi thế khi tính đến sự quay của trái đất.”

Than ôi, cái sở học của Lăng Tần đã phải cúi đầu bái phục trước mấy cháu tiểu học miệt vườn chưa thể rờ tới được mấy cái máy móc thiết bị thông tin hiện đại giá cả trên trời của cải cách giáo dục.

Lành thay, mấy cháu tiểu học miệt vườn chưa thể rờ tới được mấy cái máy móc thiết bị thông tin hiện đại giá cả trên trời của cải cách giáo dục lại có trí hóa hơn hẳn mấy “nhà báo” chỉ biết đưa tin hoặc chỉ biết hét lên trên báo mạng hai chữ “hốt bạc” đáng thương hại.

Phúc thay, mấy cháu tiểu học miệt vườn chưa thể rờ tới được mấy cái máy móc thiết bị thông tin hiện đại giá cả trên trời của cải cách giáo dục lại có trí hóa hơn hẳn mấy vị CEO hay Tổng Giám Đốc hãng hàng không chỉ biết trả lời phỏng vấn ngợi ca “đường bay vàng” sẽ tiết kiệm được khối tiền rất một cách đáng ngạc nhiên vì không người dân nào có thể hiểu được vì sao mấy ông nói bậy về hàng không lại là lãnh đạo công ty hàng không.

Và cũng phúc thay, từ nay Lăng Tần biết mỗi khi có vấn đề quan trọng liên quan đến “vàng” thì chỉ cần mua một vé khoảng hai trăm ngàn đồng của Thành Bưởi hay Phương Trang về Miền Tây hỏi các cháu tiểu học là biết tất tần tật mọi thứ…sách lược vĩ mô, vừa chẳng tốn tiền trả cho mấy nhà tư vấn nhí này, vừa có thể ghé dọc đường mua bánh tráng sữa hương sầu riêng về Xè Gòong tặng bà con lối xóm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Song Ngữ Anh-Việt Trước Đây Về Đất Nước

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đây là bản dịch tiếng Việt từ bài viết tiếng Anh của tôi trên Yahoo!3600 tháng 8 năm 2006, đăng lại cả hai bài tiếng Anh và tiếng Việt trên Emotino.com ngày 09-4-2009, và đăng thêm trên hhphuoc.blog.com ngày 31-8-2011[1] . Tựa đề nguyên thủy của bản tiếng Anh là VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975 và tên của bản tiếng Việt là VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Nhân Quốc Khánh Nước Nhà năm 2014, xin tải đăng hai bài viết ấy trên blog này. Kính mời các bạn đọc tham khảo dưới đây với phần tiếng Anh trước, được tiếp nối bởi phần tiếng Việt ngay sau đó.

Phần Nguyên Tác Tiếng Anh

VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vietnam is my beloved country. Without his/her own country, one resembles an eternally wandering homeless soul. I am over-proud to be a Vietnamese, of course not from any blind patriotism. It is the home even Death can never detach my heart from – even with his powerful bloody scythe. It can be good. It can be not so good. It can be bad. It can be not so bad. And only lazy blokes, who sit still in the dark corners of mosquito-habitation cafes with legs senselessly jerking underneath the cheap small tables shouldering upon themselves glasses with or without ice-cubes patiently waiting for drop by drop of dubious-quality coffee falling from tiny holes of cheap percolators, curse the negative, if any, and the wrong, if any, and the one-thousand-and-one bad-and-worse-and-worst, if any, of this country the name of which has incorporated within its very self the meaning of pride and honour and efforts and valour and volition, all up surging from real blood, true ashes, and factual heroic deeds.

I was born in Saigon, and ever since my first day to welcome life and life to welcome my coming-into-being have not relocated my residence elsewhere in this world. On that eventful day of 30 April 1975, my parents were calm enough to advise their children to sit down on the floor, patiently waiting for a peaceful apocalypse to come. I sat near the closed window, thinking of whether my sweat heart Dinh Thi Mai Tram was still there at her home on Chi Lang Street of Gia Dinh, Saigon, or already followed the terrified and terrifying people rushing to the Saigon ports to flee the country by waterways to the unfriendly open sea. I did not have any thought of fear. Just a simple happiness to be safe with the family and to witness the ending of the war which gnawed at the bones and was soaked with blood of almost all my friends who were not as lucky as I was in successfully completing studies for universities and thereupon had to join the collapsing patched-up army of Nguyen Van Thieu the desperado, just to lay down for good on battlefronts on their very first days in operation, with rifles held firm in the thin hands accustomed to holding pens to compose fervid poems of love and hope and desire to live a decent life in peace, not war.

My family had no one being cadre or member of the Communist Party who led the liberation of South Vietnam to a final triumph. But we are proud of being Vietnamese and this pride has helped our family to stand firm against the vicissitudes a country at war and in its post-war era could bring and create. At the time the unified Vietnam suffered untold hardship from the US embargo, whenever I went abroad I proudly attached the Vietnam’s flag on my luggage and various items. I was upset to be advised by senior leaders of State corporations who were of course communist party members that I should remove such flag to avoid problems from overseas anti-communist Vietnamese in Thailand and other “capitalist” countries. I did not say anything, simply proving I respected them the elders and the VIPs, but I never took their advice. The Vietnam’s flag must be with me, wherever I go in this triple we (www, or the wild wide world).

 

Until now I am an outsider to the Communist Party of Vietnam. All my efforts to get its membership were spoilt by the management of any academic institution or trading or servicing companies I worked at, at seeing my becoming a communist could endanger their senior positions. I was such a great haunting to them. However, I have never railed against my country and its government and the Communist party, simply because I understand very well that the disastrous war did not provide sufficient time for these senior cadres to properly study and be educated of Confucius’ philosophy – beside Marxism-Leninism and President Ho Chi Minh’s teaching – for a proper awareness of social responsibilities, national responsibilities, and patriotic responsibilities. What I can do is to encourage my brother and my sisters and my child to strive to be communists themselves, for having a proper saying in favour of the nation of Vietnam, the only country of my only nationality. We go global on a boat. We cannot go global with one leg in a boat and the other leg in another boat. That is the work of circus people. The only music I could listen to includes the Western Country music and Hard Rock. Frankly, I must say folk-songs, music of the South during the war – Trinh Cong Son’s not excluded, and the present-day music of Vietnam are not of my tastes. I write everything and compose poems in English. But all these do not mean anything against my pride of being a Vietnamese citizen in this globalized world.

If this country is still immersed in undesirable problems, I can say the blaming could be on me personally, for unsuccessful contribution to make it better.

Vietnam is my country, and I am proud to be a righteous Vietnamese.

Hoang Huu Phuoc
Hochiminh City
Vietnam

Phần Dịch Nghĩa Tiếng Việt

VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước

** Đây là bản dịch tiếng Việt từ nguyên tác “VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975” đăng trên Yahoo!3600 và Emotino ngày 09/4/2009, nhân tháng 4, tháng của sinh nhật của 5 thành viên gia đình chúng tôi (Ba tôi, em trai và em gái út của tôi, cũng như của vợ tôi và tôi), cùng trong tháng của ngày Lễ Chiến Thắng 30/4 vinh quang của cả dân tộc Việt Nam.

Việt Nam là quê hương đất nước kính yêu của tôi. Không có đất nước quê hương riêng của mình, người ta chỉ còn như một linh hồn không chốn dung thân muôn đời lưu lạc. Tôi vô cùng tự hào được là người Việt, tất nhiên không do lòng ái quốc quáng mù. Việt Nam là quê hương mà ngay cả Tử Thần cũng không bao giờ có thể dùng lưỡi hái thần uy vấy máu tách được khỏi trái tim tôi. Việt Nam có thể tốt. Việt Nam có thể không tốt lắm. Việt Nam có thể tệ. Việt Nam có thể không đến nỗi nào. Và chỉ những kẻ chây lười ngồi thừ trong góc tối đầy muỗi ngụ cư của những quán cà phê, chân run bần bật bên dưới những chiếc bàn rẻ tiền đang cõng trên nó những ly có hoặc không có các cục nước đá, kiên nhẫn đợi chờ từng giọt từng giọt cà phê có chất lượng khả nghi nhỏ xuống từ những lổ nhỏ tí ti của chiếc phin xoàng xỉnh, miệng nguyền rủa tiêu cực – giả như có tiêu cực ấy, nguyền rủa điều sai trái – giả như có điều sai trái ấy, và nguyền rủa nghìn-lẻ-một-điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ – giả như có những điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ ấy, của đất nước Việt Nam này, đất nước mà bản thân tên gọi đã chất chứa tự thân lòng tự hào, niềm danh dự, sự nổ lực vươn lên, khí hùng anh, và ý chí cao vời – tất cả đã vút lên từ máu thật sự, tro hồng thật sự, và những chiến công anh dũng thật sự.

Tôi được sinh ra tại Sài gòn và từ ngày đầu tiên tôi chào đón cuộc đời và cuộc đời chào đón tôi đến nay chưa lần nào tôi chuyển đến sống tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới này. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đầy biến cố ấy của năm tôi mười tám, Ba Má của tôi điềm tỉnh, thay vì tay xách tay nải dắt díu nhau chạy về Miền Tây theo lời rủ rê của hàng xóm, khuyên con cái ngồi thụp xuống sàn nhà, bỏ cái ý nghĩ – dù chỉ thoáng qua – nghe theo bạn học đào thóat khỏi quê hương, lâm râm khấn vái Phật Trời, kiên nhẫn đợi chờ một khải huyền bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ngồi cạnh cửa sổ đã đóng chặc, tôi lo lắng không biết Đinh Thị Mai Trâm, nữ sinh lớp 11 hoa khôi Nguyễn Bá Tòng đã cùng mình thề non hẹn biển yêu nhau từ năm lớp 9, có vẫn còn ở nhà trên đường Chi Lăng, Gia Định (nay là Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh) không, hay đã cùng gia đình theo chân dòng người đang-khiếp-sợ-kinh-hoàng-và-đang-gây-khiếp-sợ-kinh-hoàng đổ về Cảng Sài Gòn rời xa quê hương bằng thủy lộ tiến ra nơi ác hiểm trùng dương. Tôi không chút sợ hãi, mà chỉ có niềm hạnh phúc giản đơn được bình an cùng gia đình chứng kiến sự kết thúc một cuộc chiến đã nhai nghiến xương và ướt sủng máu của hầu hết các bạn học của tôi, những đứa đã kém may mắn hơn tôi vì đã không thành công trước ngưỡng đại học, bị “bắt lính” bổ sung cho đám tàn quân tan tác chắp vá của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mạt lộ cùng đường, chỉ để vĩnh viễn nằm xuống trên chiến trường ngay lần đầu tiên bị xô thúc ra trận tiền, với khẩu tiểu liên ôm chặt trong đôi bàn tay thanh mảnh trước đó chỉ biết cầm bút viết nên những vần thơ nồng cháy về tình yêu và hy vọng, với khát khao được sống một cuộc sống đường hoàng trong hòa bình chứ không phải chiến tranh.

Gia đình tôi trước đây không có ai là thành viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đã đưa cuộc giải phóng Miền Nam đến thắng lợi cuối cùng. Song, chính lòng tự hào được là con dân nước Việt đã giúp gia đình chúng tôi trụ vững trước các thăng trầm cơ cực mà một đất nước thời chiến và thời hậu chiến có thể đem lại hoặc tạo nên. Vào thời điểm nước Việt Nam thống nhất phải chịu đựng vô vàn những khó khăn không bút mực nào tả xiết từ sự cấm vận của Hoa Kỳ, bất cứ khi nào đi công tác nước ngoài, tôi đều kiêu hãnh gắn hình lá cờ đỏ sao vàng của tổ quốc lên trang phục và hành lý. Có những vị chức sắc cấp cao của các tổng công ty nhà nước – tất nhiên là đảng viên – đã làm tôi buồn bực khi khuyên tôi hãy dấu lá cờ để không bị đám người Việt chống Cộng ở Thái Lan và các nước “tư bản” tấn công. Tôi đã không nói gì để tỏ sự kính trọng họ, những bậc trưởng thượng, những con người quan trọng của quốc gia; song, tôi không làm theo các lời khuyên bảo ấy. Lá cờ Việt Nam phải luôn ở bên tôi dù cho tôi có đi đến đâu trên chốn 3 w – www, the wild wide world, cái thế giới bao la hoang dã – này.

 

Hiện tôi vẫn là người ngoài Đảng. Tất cả những cố gắng phấn đấu của tôi đều bị lãnh đạo những học viện và công ty nhà nước tôi công tác cản ngăn, dường như do có nỗi ám ảnh bịnh lý rằng việc tôi trở thành đảng viên có thể thành mối nguy đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của họ chăng. Song, chẳng bao giờ tôi ghét bỏ quê hương đất nước Việt Nam của tôi, chê bai chính phủ Việt Nam, trách cứ Đảng Cộng Sản Việt Nam, đơn giản vì tôi hiểu rằng cuộc chiến tranh quá tàn khốc đã khiến những cán bộ cấp cao không kịp có đủ thời gian để ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê và giáo huấn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, học hiểu về vai trò tối quan trọng của tư tưởng Khổng Giáo Nho Gia để nhận thức đầy đủ hơn về các bổn phận đối với xã hội, bổn phận đối với quốc gia dân tộc, và bổn phận đối với lòng ái quốc, tức những bổ sung tuyệt diệu cho Chủ Nghĩa Cộng Sản đặc thù của riêng Việt Nam. Những gì tôi có thể làm là khuyến khích các em tôi và con của tôi hãy cố gắng thành đảng viên Cộng Sản để có tiếng nói đúng đắn vì quê hương đất nước dân tộc Việt Nam, đất nước duy nhất của quốc tịch duy nhất của tôi, chúng tôi. Chúng ta tiến ra thế giới trên con tàu chung. Chúng ta không thể đứng chàng háng một chân trên con tàu Việt và một chân trên con tàu khác, vì đó là việc của diễn viên xiếc. Thứ âm nhạc duy nhất tôi yêu là Nhạc Đồng Quê Mỹ và Hard Rock. Còn dân ca Việt Nam, nhạc Miền Nam trong thời chiến tranh – kể cả nhạc Trịnh Công Sơn, và nhạc Việt Nam sau chiến tranh đều không có trong danh mục nhạc tôi thích nghe. Tôi viết, sáng tác, thuyết trình chủ yếu bằng tiếng Anh. Nhưng tất cả những điều này hoàn toàn không đi ngược lại niềm tự hào của tôi được là công dân Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa này.

Nếu đất nước này vẫn còn có những điều chưa tốt, tôi có thể nói chính bản thân mình phải chịu trách nhiệm vì đã chưa hề góp chút công sức vấn kế hiệu quả thực sự nào cho lãnh đạo đất nước để làm đất nước tốt hơn. Việc hưng thịnh hay suy vong của tổ quốc thì ngay cả kẻ thất phu còn phải chịu trách nhiệm, huống hồ mang danh người có học thức hàn lâm lẽ nào còn tồi tệ hơn kẻ thất phu khi chỉ biết lăng xăng xách động chống phá nhà nước cộng sản, hoặc ngồi yên hưởng thụ khi miệng mồm vẫn luôn than vãn, dè bỉu, phê phán, miệt thị, chê bai chế độ hay sao.

Việt Nam là quốc gia của tôi và tôi rất đỗi tự hào được làm một công dân Việt Nam chân chính.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Bản tiếng Anh: http://hhphuoc.blog.com/?p=44;

Bản tiếng Việt: http://hhphuoc.blog.com/?p=44

Uy Thế Việt Nam Tại Trung Nam Hải

Hoàng Hữu Phước, MIB

Qua bức ảnh này của Thông Tấn Xã Việt Nam về cuộc hội kiến của Đại Tướng Lê Hồng Anh với Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiêm Chủ Tịch Nước Trung Quốc Xi Jinping [1] ngày 27-8-2014 ở Bắc Kinh

 

chúng ta có thể nhận thấy những chi tiết sau:

1) Về trang phục: Đại tướng Lê Hồng Anh với chức vụ Thường Trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam và dưới vai trò Đặc Phái Viên của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, đã vận bộ com-plê đen (black suit) của bậc thượng khách và chiếc cravat đỏ của ý chí quyền lực quyền uy cùng sự hào nhoáng hào hùng quyết tâm quyết liệt quyết thắng; trong khi Xi Jinping mặc bộ com-plê đen của vị chủ nhà chứng tỏ biết thế nào là cách ăn vận duy nhất đúng khi tiếp đón một thượng khách cực kỳ quan trọng đối với sự tồn vong của đất nước Trung Hoa và chiếc cravat xanh tươi tắn vốn luôn là màu của yêu chuộng hòa bình hòa hoản hòa khí nhun nhủn nhún nhường. Phải chăng vì thất bại trong thôn tính Biển Đông nên Trung Quốc buộc phải chọn màu xanh như thường lệ thường xuyên từ thời thượng cổ tức là hễ thua trận là ngay lập tức nhá nhá màu xanh theo kiểu snake camouflage tức là cách ngụy trang của bất kỳ loài nào trong số 81 loài rắn độc mạnh nhất của 534 giống thuộc 9 giòng họ mãng xà mỗi khi rình mồi và mỗi khi sợ gặp thú săn mồi being a predator and being a prey?

2) Về tư thế của thượng khách: Đại tướng Lê Hồng Anh chứng tỏ bản thân là người am tường nghi lễ ngoại giao của đẳng cấp lãnh đạo quốc gia giữ gìn quốc thể khi ngồi với áo veston đã cởi hết khuy [2] tỏ rõ sự đường bệ của người trên kẻ trước, hoặc chí ít cũng là đấng ngang hàng ngang cơ. Ngoài ra một vị Đại tướng “thân chinh” Bắc tiến ắt không để nhấm nháp Mao Đài mà là dùng thần uy để diệu võ giương oai trấn áp đối phương, triệt tiêu ý chí đối thủ, và hiên ngang thể hiện khí phách Việt Nam. Một vị Đại tướng làm chính trị luôn ở chiếu trên so với một chính khách xuất thân thuần hành chính công quyền chưa từng trận mạc xông pha.

3) Về đặc điểm cá nhân: Đại tướng Lê Hồng Anh

 

có đôi mày … “cấp tướng” rất phù hợp cho mục đích tỏ trí thần uy và sự nghiêm trang nghiêm nghị kiểu “đừng hòng giởn mặt với ta” rất tương phản với gương mặt lồ lộ sự giả lả cầu tài của Xi Jinping vốn là chiêu thức của kẻ vừa mới làm quấy làm càn làm bậy.

4) Về uy thế Việt Nam: Trung Quốc cực kỳ trung thành trung hiếu với bài bản đối ngoại trịch thượng. Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc quang vinh vĩ đại kiêm Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vĩ đại quang vinh không tiếp vị thượng khách nào không cùng đẳng cấp với y. Kỳ này Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam đã không “ngự giá” đến Bắc Kinh, thay vào đó, Ông cử “đặc phái viên” buộc Xi Jinping phải trực tiếp hội đàm, ký kết. Mà vị “đặc phái viên” này không phải là một văn quan như theo thông lệ nhiều ngàn năm của toàn bộ các vương triều nước Việt, mà là một võ tướng, cứ như thể tuy cử đặc phái viên sang kết giao hữu hảo nhưng lại ngầm ý dọa nạt, dọa dẩm, dọa đe. Thần uy này đến nay mới thấy và sẽ là sử liệu độc đáo tuyệt vời của Việt Nam.

Xi Jinping, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc quang vinh vĩ đại kiêm Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc vĩ đại quang vinh, và Lê Hồng Anh, Thường Trực Ban Bí Thư Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam kiêm Đặc Phái Viên của Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam: một tương quan lực lượng mới, đó là sự lép vế của Trung Quốc.

Trung quốc xuống nước với Việt Nam.

Sức mạnh Việt Nam muôn năm [3].

Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm!

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam muôn năm!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 25-7-2014. Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”? http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/25/ai-de-ra-tap-can-binh/

[2] Hoàng Hữu Phước. 22-6-2014. Dương Khiết Trì Run Sợ. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/06/22/duong-khiet-tri-run-so/

[3] Hoàng Hữu Phước. 07-7-2014. Sát Tàu. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/07/sat-tau-5/

Hoàng Hữu Phước nói về Công Tác Nhân Sự

Thế Nào Là Trung Thực

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Rất ít người trong giới CEO sừng sỏ tại các công ty nước ngoài lớn (chỉ có lớn và rất lớn mới có Giám Đốc Nhân Sự quyền uy tột đỉnh) hoạt động tại Việt Nam cũng như các nhân viên chức sắc Việt Nam xuất sắc dưới quyền các CEO ấy và những người quan tâm học hỏi để theo đuổi “nghề nhân sự” không biết tôi đã là chuyên gia thực sự đầy thực tế giàu thực tiển có thực quyền về HR (tức Human Resources, thứ được nâng cấp thành Human Capital mà tiếng Việt bình dân gọi chung là Nhân Sự còn tiếng Việt quyền lực gọi là Tổ Chức Cán Bộ thuộc Tổ Chức Chính Quyền). Hôm nay tôi nói về HR vì LinkedIn vừa gởi thư mời tôi viết bài theo thể loại perspectives. Do  tôi đang quá bận rộn, mà nếu không đáp ứng thì có khi LinkedIn sẽ thất vọng sau thời gian thấy tôi viết comments phê phán bằng tiếng Anh đối với các ý kiến ngắn của các doanh nhân nước ngoài trên LinkedIn, hoặc các câu danh ngôn mà họ tâm đắc và đăng tải cho cộng đồng, tôi đành phải nhanh chóng suy diễn rồi chọn chủ đề HR vốn luôn không thiếu trong danh mục các quan tâm chính của giới kinh doanh. Tôi nhớ khi xưa trong số hàng ngàn bài viết của tôi bằng tiếng Anh đăng từ năm 2005 trên Yahoo!360° có bài về HR nên lục tìm và điều chỉnh lại (để không những thành loại perspectives mà phải là perspective đẳng cấp cao nhất tức đáp úng các chuẩn mực của Formal English) rồi đăng ngay. Do có chỉnh sửa các chủ ngữ nên có bỏ sót vài chỗ, và bài đăng lại dưới đây đã khắc phục hai hay ba chỗ sót đó.

Cũng xin bày tỏ rằng tôi không thích dịch ra tiếng Việt những tác phẩm thơ-văn tiếng Anh của chính mình, và rằng tôi luôn có nhận định tuyệt đối đúng rằng dịch Việt-Anh luôn khó hơn dịch Anh-Việt và chỉ có bậc kiệt xuất mới giỏi dịch Việt-Anh, còn không bất kỳ “nhà dịch thuật” Anh-Việt nào có tên trong danh sách những tay kiệt xuất về tiếng Anh cả.

Kính mời các bạn quan tâm đọc phần nghĩa tiếng Việt bên dưới bài tiếng Anh sau đây.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

To Lie or Not to Lie, It’s an HR Question

Hoang Huu Phuoc

For decades the Western theoreticians and experts of Human Resources have wasted millions of metric tons of wood logs, the materials for paper pulp for the paper manufacturing industry, to write huge books to offer advice from the sages that whenever a person applies for a job elsewhere then is invited for an interview, he/she should not say anything bad about his/her current or previous employers. And actually this advice makes practical people both feel surprised and laugh to a critical suffocation! The intelligentsia of Europe and America are advising people worldwide to tell lie, violating the very basic ethics of business conduct that to tell lies to the management of a company right from the interviewing days will never be an honest approach for getting a job there. To be (a liar) or not to be (a liar): this is a human resources issue which haunts particularly those in Asia having long years of human-resources-related responsible undertaking.

First of all, it need clarify the difference between (a) telling the truth of the bad things of a current or previous employer,  and (b) bad-mouthing, with the latter never being a proper and righteous conduct. If an employer is really good, why that staff leaves the company? Is he/she leading a commonplace money-chasing life then? Or living an irresponsibly adventurous life, hopping from job to job every single day all the time? Or simply being dismissed again and again because of problems of ethics or conflicts of interests or disciplinary reasons? People of proper mind may  feel like dozing off at hearing such rhetorically nice phrases of heartfelt reasons for a festival-like resignation, e.g. wishing to take a more challenging work, or to join a multinational with fabulous opportunities for self-development, or the like, even though the current or previous bosses and their companies are said by candidates as so uniquely excellent.

To prove that he/she is a confident ego, the person need tell the truth in a very calm and self-possessed manner, as if such truth ”were” an as-a-matter-of-factly obvious thing so popularly known by many people in this market. If job seekers follow such advice to falsely tell imaginarily good things on every not-so-good thing, this means (a) basically they are not of an ethical type, (b) they insult the interviewer by assuming that this HR expert prefers set or fixed lies, and (c) they volunteeringly encourage or grant an absolute right to the interviewer or employer to do bad or dirty things against them in future basing on their implied assurance that such humiliating secrets-to-be will never be revealed to the next employer or whomsoever it may be.  They use a negative approach to negatively hand to the potential employer a negative belief that his/her negative conducts are willingly accepted and he/she will be safe to manage a business with negative modus operandi without any fear for even a legal dispute or punishment to such negative conducts.

Whilst sages of the civilization of the West spread their lengthy speeches in hard-cover books or curricula much blindly applied and followed by most of HR generalists, experts in Vietnam should set their own practice for recruitment and selection of staff through interviewing with encouraging candidates to confidently and openly talk about their so-called suffering, if any, with current or previous employers, and the following surprisingly excellent results may become obvious:

1) Psychologically, the candidates can talk about the suppression, if any, hence relieving themselves from negative hindrance to a higher morale and healthier attitude within the new environment in case they are offered jobs herein;

2) From the above, interviewers can learn at least something about each candidate’s personality and weakness or strength against factual tough conditions, facilitating the decision for a selection;

3) From the above, the interviewers understand what conducts of a boss-in-general to be most loathed by employees leading to terrible turnover and serious retention, thus improving their own expertise and profession of an independent consultant;

4) And last but not least, the interviewers can select the right person for the right “boss” to ensure a harmonious and supportive working-togetherness.

Those staff interviewed by such experienced interviewers then selected are of the most qualified, talented, co-operative, committed, resourceful, loyal, and particularly harmoniously strong, simply because from the beginning their problems are listened to with sincere respect, all psychological leftovers relieved, and the employment offer if handed to them making them believe that such negative things they suffered in the past will not be met in the new company under the responsible control of human resources.

The above is against the not-positive concept which has for ages dominated the behavioral aspect of humankind in this regards.

Nghĩa tiếng Việt:

Nói Dối Hay Không Nói Dối: Vấn Đề Hóc Búa Của Nhân Sự

Hoàng Hữu Phước

Bao thập niên nay các nhà biện thuyết và chuyên gia trong lĩnh vực Nhân Sự đã làm tiêu tốn hàng triệu mét khối gỗ súc, thứ nguyên liệu để tạo ra bột giấy cho ngành kỹ nghệ sản xuất giấy, để viết những quyển sách dày cộm ban phát những lời khuyên của những đấng thông tuệ rằng thì là mà bất cứ khi nào ai đó nộp đơn xin việc ở nơi nọ nơi kia chốn đó chốn này và được mời đến phỏng vấn thì chớ có mà dại dột nói bất kỳ điều gì xấu về sếp hiện nay hay trước đây của mình. Thật ra thì kiểu khuyên bảo như thế chỉ tổ làm những ai có kinh nghiệm thực tế đầy mình vừa ngạc nhiên vừa phá ra cười lăn đến chết mất! Giới trí thức Âu Mỹ khuyên thiên hạ toàn thế giới phải nói dối ư? Vi phạm những nguyên tắc đạo đức rất cơ bản liên quan đến cung cách tư thế của người đi làm, đó là: nói dối trước giới lãnh đạo công ty ngay tại thời điểm phỏng vấn không bao giờ là cách lương thiện để dành lấy một việc làm! Do vậy, việc có là kẻ nói dối hay không đã trở thành một vấn nạn về nhân sự bao năm qua đặc biệt ám áng những nhà tuyển dụng Á Châu khi thực thi trách nhiệm có liên quan.

Trước tiên, cần làm rõ ý nghĩa khác biệt giữa (a) kể sự thật về những điều tồi tệ của người sếp hiện nay hoặc trước đây, và (b) độc mồm độc miệng nói xấu vị ấy, mà cái thứ hai này không bao giờ là cách đàng hoàng đúng đắn! Nếu người sếp thật sự tốt, sao tay ứng viên này lại bỏ ra đi? Hóa ra anh ta hay chị ta là kẻ sống cuộc đời tầm thường chạy theo tiếng gọi của kim tiền sao? Hay anh ta/chị ta vô trách nhiệm thích vi vu nên nhảy loi choi từ công ty này qua công ty kia quanh năm suốt tháng? Hay anh ta/chị ta bị đuổi việc hoài đuổi việc hủy vì có vấn đề về đạo đức, xung đột quyền lợi hay những lý do kỹ luật? Những ai có đầu óc nghiêm túc có thể sẽ ngủ gục khi nghe những ngôn từ tốt đẹp hoa mỹ từ miệng người xin việc nêu những lý do đầy xúc cảm cho sự nghĩ việc đầy hân hoan của người ấy, chẳng hạn như nào là tôi nghĩ việc ở đó vì muốn tìm việc mới có tính thử thách cao hơn, nào là tôi muốn phục vụ một công ty đa quốc gia đầy ắp những cơ hội để tôi tự phát triển bản thân, nào là…, nào là…, cho dù sếp hiện nay hoặc trước đây của tôi và công ty của ổng rất tốt, rất ư là tốt, tốt hết xảy luôn.

Để chứng tỏ mình là một chủ thể tự tin, người xin việc nên nói lên sự thật với phong thái điềm tĩnh và tự chủ, cứ như thể thông tin về những sự thật ấy là điều rành rành ra đó mà trong thị trường lao động này chẳng mấy ai mà không biết. Còn nếu đi xin việc mà lại nghe theo mấy lời khuyên bá láp của các học giả Âu Mỹ rồi nói xạo về những điều tốt đẹp hoang đường đối với mọi sự tệ hại có thật thì chỉ tổ cho thấy người nói  (a) không có đạo đức, (b) nhục mạ người phỏng vấn vì trong đầu cho rằng vị chuyên gia HR đó thích nghe những lời dối trá định sẵn, và (c) tình nguyện khuyến khích  hoặc trao cho người phỏng vấn hoặc sếp của công ty mới cái quyền lực tuyệt đối  được phép dỡ trò xấu xa ti tiện trong tương lai với người đang xin việc dựa trên sự bảo đảm mặc định của y rằng những bí mật đó sẽ không bao giờ bị y tiết lộ cho người sếp kế tiếp ở công ty kế tiếp. Những người xin việc kiểu này đã dùng cách tiêu cực, trao cho vị có-thể-thành-sếp-của-mình sự tin tưởng tiêu cực rằng những hành vi tiêu cực của sếp được hân hoan chấp nhận nên sếp sẽ an toàn vận hành công ty với phương cách tiêu cực mà chẳng mảy mai e sợ gì đối với ngay cả kiện tụng chốn pháp đình hoặc sự trừng phạt đối với các hành vi tiêu cực ấy.

Trong khi những nhà hiền triết chốn trời Âu quảng bá những tuyên bố dài thườn thượt trong những quyển sách đóng bìa da cứng hoặc những giáo trình được mù quáng tuân theo và áp dụng bởi hầu hết các chuyên viên nhân sự, thì các chuyên gia HR ở Việt Nam nên thiết kế riêng cho mình những phương pháp tuyển chọn và tuyển dụng nhân sự thông qua việc phỏng vấn có nội hàm khuyến khích ứng viên tự tin thoải mái nói về những cái gọi là sự chịu đựng khổ ải – nếu có – về các sếp tại các công ty hiện nay hay trước đó, qua đó sẽ nhận ra những hiệu quả đáng ngạc nhiên sau:

1) Về mặt tâm lý, ứng viên có thể nêu ra những điều đã phải chịu đựng – nếu quả thực đã trải qua – và nhờ đó thoát được gánh nặng tiêu cực để có tinh thần tốt hơn, lành mạnh hơn trong môi trường làm việc mới trong trường hợp được tuyển dụng vào công ty này;

2) Từ kết quả trên, các chuyên viên phỏng vấn có thể học hỏi được chí ít một điều gì đó nơi mỗi ứng viên về tính cách, điểm mạnh cũng như điểm yếu của người ấy khi đối mặt với những điều kiện gay go thực tế, từ đó sẽ có quyết định tuyển chọn dễ dàng hơn;

3) Cũng từ kết quả trên, các chuyên viên phỏng vấn có thể hiểu biết những hành sử nào nơi một vị sếp nói chung bị nhân viên ghét nhất, khiến dẫn đến sự sa sút thảm hại cả về doanh số và tỷ lệ duy trì nhân lực ở công ty, từ đó các chuyên viên phỏng vấn hoàn thiện tay nghề và nghiệp vụ tư vấn nhân sự độc lập của chính mình;

4) Điều cuối cùng song không kém phần quan trọng ở đây là các chuyên viên phỏng vấn có thể tuyển chọn được đúng nhân sự cho đúng người quản lý hầu bảo đảm sự phối hợp làm việc nhịp nhàng tương tác cùng nhau giữa họ với nhau.

Những nhân viên được chính những chuyên viên phỏng vấn dày dạn kinh nghiệm như thế phỏng vấn và tuyển dụng sẽ là lực lượng nhân sự có năng lực nhất, tài năng nhất, có tinh thần hỗ tương nhất, tận tụy nhất, đa năng nhất, trung tín nhất, và đặc biệt hài hòa mạnh mẽ nhất, đơn giản vì ngay từ đầu tiên đến công ty xin việc, những vấn nạn của họ đã được lắng nghe với sự trân trọng chân tình, khiến các lấn cấn tâm lý được giải tỏa, và nếu quyết định tuyển dụng được trao vào tay họ sẽ khiến họ tin tưởng rằng những tiêu cực họ đã phải trải qua sẽ không bao giờ bị lập lại nơi công ty mới dưới quyền năng đầy trách nhiệm của Phòng Nhân Sự.

Ý trên nhằm chống lại kiểu tư duy không tích cực bao đời nay đã khống chế cách hành sử của nhân loại trong lĩnh vực nhân sự này.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Thư Gởi Thủ Tướng

Về Dự Toán Chi Trong Lĩnh Vực Giáo Dục

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 [1] tôi có liệt kê những thư kiến nghị tôi đã viết gởi các lãnh đạo Nhà Nước (và Thành phố Hồ Chí Minh [2]) và có ghi chú rằng sẽ dần tải đăng cho công chúng tham khảo một số thư có nội dung thuộc những vấn đề đáng được quan tâm hoặc có nhiều quan ngại, nhưng không thuộc loại cần bảo mật. Sau đây là bức thư tôi đã gởi đến Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII, liên quan đến vấn đề giáo dục.

*********

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

 

Kính gởi Thủ Tướng Chính Phủ

 

Bản sao kính gởi:

              Chủ tịch Quốc hội

              Các Phó Chủ tịch Quốc hội

              Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

              Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

              Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

              Bộ trưởng Bộ Giáo Dục

              Bộ Trưởng Bộ Tài Chính

 

Kính thưa Thủ Tướng:

 

V/v :  Góp ý về Dự Toán Chi Lĩnh Vực Giáo Dục – Đào Tạo – Dạy Nghề trong  Báo Cáo Phân Bổ Ngân Sách Trung Ương Năm 2014 của Chính Phủ

 

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Sau khi nghiên cứu Báo cáo Phân bổ Dự toán Ngân sách Trung ương năm 2014 của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thay mặt Chính phủ trình bày tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII; và

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy và đào tạo từ những năm 1980 đến nay;

Kính mạo muội có các ý kiến cá nhân đối với nội dung II.1.d trong Báo cáo Phân bổ Dự toán Ngân sách Trung ương năm 2014 liên quan đến phần dự toán chi lĩnh vực giáo dục – đào tạo – dạy nghề như sau:

 

1) Nội dung dự toán:

Theo Báo cáo, trong số dự toán 30.360 tỷ đồng là tổng chi ngân sách cho lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề, sẽ có 1.004 tỷ đồng dành cho các khoản sau:

- 409 tỷ đồng cho đề án đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nước ngoài

- 210 tỷ đồng cho đề án đào tạo bồi dưỡng ở nước ngoài cho cán bộ lãnh đạo, quản lý

- 425 tỷ đồng cho đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng

 

2) Ý kiến tiền đề:

Tuy các khoản đầu tư cho lĩnh vực giáo dục – đào tạo – dạy nghề không bao giờ là đủ nhưng sự phí phạm dù nhỏ trong lĩnh vực này sẽ hủy phá nghiêm trọng ý nghĩa  của đầu tư; vì vậy, trước khi nêu các kiến nghị, tôi xin được làm rõ một số vấn đề như sau:

a- Ý nghĩa của các học vị: Người Việt Nam thường ít quan tâm đến ý nghĩa thực chất của các học vị nên thường mặc định rằng thạc sĩ cao hơn cử nhân, và tiến sĩ cao hơn thạc sĩ. Thực chất là:

- Tú tài: cho biết một người đã được “dạy” tức “giáo dục” đầy đủ để làm một công dân có hiểu biết về mọi tri thức căn bản cho một cuộc sống có trách nhiệm. Do đó, trung học thuộc phạm vi của “giáo dục” tức “education”.

- Cử nhân: cho biết một người được “đào tạo” xong cho một nghề chuyên môn thuộc một lĩnh vực cơ bản có kèm theo một số những kiến thức phụ trợ có liên quan và không liên quan đến chuyên môn ấy, để có thể làm việc với chuyên môn đó một cách hiệu quả hơn cho cuộc sinh nhai. Do đó, đại học (gồm cả cao đẳng) thuộc phạm vi “đào tạo” tức “training”.

- Thạc sĩ: cho biết một người đã học xong những kiến thức chính và phụ trợ theo diện rộng nhưng tập trung sâu hơn và có liên quan đến một lĩnh vực chuyên môn mà người ấy đã được đào tạo trước đó để đạt bằng cử nhân và sau khi đã làm việc cho chuyên môn đó để có kinh nghiệm thực tế hầu đáp ứng các yêu cầu mà chương trình thạc sĩ đặt ra.

- Tiến sĩ: cho biết một người đã có một luận án đạt yêu cầu về một chủ đề nhỏ trong một chuyên môn sâu của một lĩnh vực thường liên quan đến chuyên môn người ấy theo học ở thạc sĩ. Thí dụ tiến sĩ y khoa với luận án về tâm thất trái, hay tiến sĩ thần học với luận án về Thượng Tọa Bộ, hay tiến sĩ văn học sử ở Liên Xô trước đây với luận án chứng minh ngày sinh chính xác của Pushkin để chấm dứt một tranh cải lịch sử, hoặc Việt kiều yêu nước Trần Thế Độ ở Nhật Bản là tiến sĩ với luận án về một chủng sinh vật  thuộc ngành giáp xác, v.v.

b- Từ các ý nghĩa trên, việc đầu tư cho đề án đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nước ngoài nhất thiết phải cho nhu cầu riêng của nhà nước và cần nhấn mạnh vào nội dung “khoa học kỹ thuật” vì “khoa học xã hội” có thể đào tạo trong nước để tiết kiệm ngân sách.

c- Đối với đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng, vì cần xem nhà nước muốn đặt hàng đào tạo một vị tiến sĩ cho công việc gì, vì thạc sĩ có thể dạy một môn chuyên ở đại học, còn tiến sĩ là nhà nghiên cứu chuyên  sâu chỉ có thể dạy những gì người đó nắm được lúc là thạc sĩ và dạy những gì liên quan đến đề tài luận án tiến sĩ chuyên biệt của người đó, hoặc hướng dẫn sinh viên cách làm luận án, hoặc chấm điểm luận án tiến sĩ của người khác có cùng chủ đề nghiên cứu, v.v., chứ không phải bằng cấp tiến sĩ chứng nhận họ dạy tất cả những gì cao sâu của cả một bộ môn. Do đó, khi tuyển chọn người cho dự án này, cần phải thẩm định đề tài mà người ấy định theo đuổi để trình luận án để xem có cần thiết hay không, có sẽ góp phần vào trình độ của người ấy để phục vụ cho đất nước hay không, vì không thể cử người đi học chỉ để sao cho có học vị tiến sĩ để đại học có đầy đủ số lượng cơ hữu, khiến phí phạm ngân sách, còn trình độ các trường đại học vẫn luôn thấp, và người dân vẫn phải ra nước ngoài du học.

d- Ngoài ra, khi ngân sách đã phải chi cho việc đào tạo giảng viên có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng, phải chăng nhà nước không sử dụng lực lượng thạc sĩ và tiến sĩ sẵn có từ những người dân tự túc, tự đầu tư cho việc học và đạt được những trình độ và học vị ấy. Cần phải tôn vinh và sử dụng những người tự túc này để khuyến khích sự tự đầu tư cho việc học nơi người dân, vì không thể mặc định rằng chỉ khi sự đầu tư đó từ ngân sách nhà nước thì người đi học mới thành tài và mới phục vụ đất nước hiệu quả hơn.

 

3) Kiến nghị:

Để sự đầu tư ngân sách vào lĩnh vực giáo dục – đào tạo – dạy nghề được bảo đảm phát huy hiệu quả, tôi kính đề nghị:

a- Tôi được tiếp cận nội dung chi tiết và đầy đủ của cả ba dự án trên.

Mục đích: yên tâm về chất lượng của đề án; nghiên cứu và góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, và hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

b- Tôi được cấp tài liệu chi tiết về hai nội dung “đào tạo nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật tại các cơ sở đào tạo nước ngoài” và “đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học và cao đẳng”, trong đó có các nội dung như: danh sách người thụ hưởng tức tên họ những ai đã được gởi đi đào tạo, họ đi từ đơn vị nào, đến học tại nước nào, tại trường nào, học ngành gì, thời gian học, văn bằng đã đạt được, công tác hiện nay tại đâu, và trình độ thực chất hiện nay của họ cùng thành tích hiện nay của họ (nếu nơi đào tạo và ngành đào tạo thuộc lĩnh vực quốc phòng và an ninh quốc gia thì không ghi vào tài liệu).

Mục đích: giám sát sự giám sát của cơ quan chủ quản đối với vấn đề mục tiêu, chất lượng, hiệu quả, v.v.; có bằng chứng chứng minh các cơ quan chủ quản đã thực sự có trách nhiệm cao trong sử dụng ngân sách nhà nước thật đúng đắn qua theo dõi và sử dụng cũng như đánh giá thường xuyên nguồn nhân lực đã qua đào tạo này; từ đó góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, và hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

c- Tôi được cấp bảng liệt kê các môn học bồi dưỡng ở nước ngoài mà các cán bộ lãnh đạo và quản lý (chỉ tập trung vào số lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp nhà nước và các viện, trường) đã được cử đi tham dự theo dự toán ngân sách trung ương các năm trước.

Mục đích: giám sát sự giám sát của cơ quan chủ quản đối với vấn đề mục tiêu, chất lượng, hiệu quả, v.v., từ đó góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, và hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

d- Tôi được cấp bảng liệt kê các môn học bồi dưỡng ở nước ngoài mà các cán bộ lãnh đạo và quản lý được cử đi tham dự theo dự toán ngân sách trung ương 2014, và các tiêu chuẩn áp dụng trong lựa chọn người được hưởng suất học bồi dưỡng ở nước ngoài.

Mục đích: tìm hiểu xem ngân sách có gồm  khoản chi phí cho phiên dịch viên và có nội dung môn học bồi dưỡng nào có thể được đào tạo trong nước hay không, v.v.; từ đó góp ý hoàn thiện cũng như tư vấn nhằm đạt sự chặt chẽ, nghiêm tức, hiệu quả trong đầu tư ngân sách vào lĩnh vực này.

 

Kính mong nhận được sự quan tâm của Thủ Tướng đối với các ý kiến trên.

 

Trân trọng biết ơn Thủ Tướng.

 

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

*********

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/

[2] Hoàng Hữu Phước. 09-12-2013. Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh Về Tên Đường. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/18/nghi-si-hoang-huu-phuoc-gop-y-voi-hoi-dong-nhan-dan-tp-hcm-ve-ten-duong/

Quyền Lực Thứ Sáu

Hoàng Hữu Phước. MIB

 

Từ thời trung cổ đã hình thành ba loại tập đoàn quyền lực gồm Lập Pháp, Tư Pháp và Hành Pháp, tất nhiên dưới những tên gọi khác nhau tùy thời kỳ và khu vực, và cả ba nhóm này đều thuộc lĩnh vực trị quốc tức dưới quyền năng của chính quyền cai trị cai quản quốc gia hay lãnh thổ.

Đến khi thế kỷ XX nâng cao vị thế của báo chí và truyền thông trong cả ba vai trò (a) tiếng nói chính quy của tập đoàn quyền lực trị quốc trong đối nội và đối ngoại để là các thông tin được đăng tải lại trên các phương tiện truyền thông của nước khác; (b) công cụ phục vụ chỉ riêng cho quyền lợi hay sách lược của tập đoàn quyền lực trị quốc để dẫn dắt lèo lái dư luận trong nước tiến đến hoặc chủ động đồng thuận hoặc thụ động đồng tình để bị ‘xỏ mũi” hay “che mắt” đối với các vấn đề nội trị hay đối ngoại; và (c) phương tiện phát triển hoặc ru ngủ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống dân sự từ văn hóa đến giải trí, từ giáo dục đến thể thao, v.v. và v.v., như một ngõ rẽ khác để hướng sự quan tâm của người đọc nào không dành thời gian cho các nội dung mà vai trò ở điểm a và điểm b xoay xoáy vào; người ta mới “phong cho” báo chí và truyền thông danh xưng quyền lực thứ tư tức là thứ quyền lực “cộng thêm” cho ba thứ quyền lực trên, dưới hai tấm áo khoác choàng che đậy ngụy trang trên đó có in chữ bằng mực highlight chớp chớp chói lòa của nào là “tự do ngôn luận” và nào là “giám sát phản ảnh các hoạt động công quyền” đối với các cơ quan báo chí – truyền thông nhất là ở khu vực tư nhân cho tăng độ đậm nét của gam màu “độc lập – tự do – dân chủ”[1].

Thế kỷ XXI trong bao điều kỳ vĩ của nó đã bao gồm sự trỗi vươn quá mạnh mẽ của internet, những tưởng tạo thêm cánh, đẩy thêm đà cho báo chí – truyền thông, nhưng không ngờ đã vượt khỏi tầm khống chế của cả báo chí – truyền thông lẫn tập đoàn trị quốc, khiến cả 4 thế lực này vào giai đoạn đầu của Thế Kỷ XXI đã chưa có biện pháp không chế hữu hiệu, và phải thụ động chứng kiến sự xuất hiện của “quyền lực thứ năm” thoát thai từ hoạt động năng nổ của “quyền lực thứ tư” của thế kỷ trước đó (khi truyền thông được biến thành vũ khí “chọt” và “chọc” vào các nước có thể chế chính trị nào hoặc giống mình như các nước Nam Mỹ hoặc không giống mình như Việt Nam mà mình ghét lồng ghét lộn hòng tạo nên được lực lượng chọt chọc tại chỗ tự phá hoại sự ổn định của các nước này).  Các tác giả như Eric Schmidt và Jared Cohen qua tác phẩm The New Digital Age – Transforming Nations, Businesses, and Our Lives tức Tân Kỷ Nguyên Kỹ thuật Số – Chuyển Hóa Các Quốc Gia, Các Doanh Nghiệp và Cuộc Sống Của Chúng Ta, được cho rằng đã nói đến thứ quyền lực hình thành từ nhiều tỷ người kết nối qua không gian mạng xã hội [2] thuộc những cá nhân ẩn danh hoặc không ẩn danh, đơn lẻ hoặc bầy đàn [3], có học hoặc chỉ ở cấp vừa xóa mù chữ, ở cá thể hoặc cá-thể-tự-sản tức một mình tạo hàng trăm hàng ngàn địa chỉ ảo mang tên ảo khác, ở ngay tại địa phương lô-can hay ở rừng rậm hải ngoại ô-vơ-xi giả danh nội địa hay ngược lại, do lực lượng chọt chọc tại chỗ tác động tâm lý người khác để đám đông phá hoại ổn định chính trị tại một quốc gia hoặc tự thân tiến hành chiến tranh từ mạng hay khủng bố từ mạng để tự phá hoại tiềm lực một quốc gia hay gây ra thảm họa hầu gia tăng xung đột vũ trang tại quốc gia khác.

Từ vị trí chủ động khai sinh ra quyền lực thứ tư (y như việc Mỹ đã tạo ra Al-Qaeda binh hùng tướng mạnh vũ khí cực kỳ tối tân tiền của cực kỳ dồi dào để đánh thắng Liên Xô, và sau đó Mỹ xâm lược đánh bại Iraq chỉ vì Iraq là đại thù của Al-Qaeda, để rồi Mỹ bị Al-Qaeda lực lượng khủng bố hùng mạnh toàn cầu gây đại họa cho chính nước Mỹ), các tập đoàn trị quốc bó tay trước sự biến thể thoát thai của quyền lực thứ năm đến độ vẫn còn đang vùng vẩy trong chiếc gông cùm “tự do ngôn luận” và “tự do dân chủ” cũng như “nhân quyền” chính họ đã thêu dệt nên trên chiếc cẩm bào. Sự xuất hiện của những quy định kiểm tra nghiêm ngặt hơn của các chính quyền nước lớn đối với internet và mạng xã hội để khống chế quyền lực thứ năm đã ngay lập tức phải đối mặt với sự bùng nổ giận dữ của những người dân đã thành những giáo dân tuyệt đối tôn sùng đạo tự do ngôn luận. Và trong khối hỗn mang ấy đột nhiên có sự giống nhau đến kỳ lạ trong các quốc gia khác nhau về thể chế chính trị, các quốc gia đồng minh với nhau, các quốc gia đối đầu nhau, trong các phương án siết chặc đối phó với hai đại họa từ không gian mạng: (a) sự đột nhập của khủng bố vào các mạng an ninh quốc phòng nhằm khống chế các kho vũ khí hạt nhân chiến lược để phá hoại cơ sở vật chất tiêu diệt một quốc gia, và (b) sự sử dụng phương tiện truyền thông “chùa” của những kẻ thù của chế độ để kích động bạo loạn nhằm xô ngã một chính quyền. Và cũng trong khối hỗn mang ấy đột nhiên có sự xuất hiện của quyền lực thứ sáu [4] do những cư dân mạng ái quốc mà sự bất bình trước sự bá đạo của quyền lực thứ tư ngày càng hai mang tệ hại cũng như sự bá đạo của quyền lực thứ năm ngày càng nguy hiểm đối với sự tồn vong của đất nước.

Cụ thể hơn, quyền lực thứ sáu nằm trong tay những người đoan chính thuộc nhiều thành phần xuất thân khác nhau, kể cả nhà tu hành, nhà trí thức [5], nhà ái quốc [6] nói chung tức bao gồm bất kỳ những cư dân mạng có nghĩa khí, với nghĩa dũng, chuộng nghĩa lý, sở hữu sự sáng suốt, lòng dạ công minh, sống theo lẽ công bằng, và hành sử thuận công tâm. Những thí dụ về những người đang thực hiện quyền năng của quyền lực thứ sáu ngày càng có rất nhiều và hình thành lực lượng hùng mạnh của chính tâm chính đạo [7]. Gần đây nhất, bài viết Mất Niềm Tin – Bản Án Xứng Đáng Nhất Dành Cho RFA của John Lee [8], đại diện chính tâm cho quyền lực thứ sáu phán phê mạnh mẽ cái mụn nhọt điển hình của quyền lực thứ năm.

Nói một cách khác, khi có những nhóm bị gán cho cái tên “thân Cộng” thì tất nhiên có những bầy đàn tự nhận mình thuộc phe “chống Cộng” (thật ra thì theo như tôi đã nhiều lần viết trên các blog, nếu chính xác hàn lâm danh chính ngôn thuận thì phải gọi là “thân Việt” và “chống Việt” vì “Cộng” là một chủ thuyết mà theo khuynh hướng tự do ngôn luận thì đe dọa ai theo chủ thuyết “Cộng” nghĩa là chà đạp tự do ngôn luận, chà đạp nhân quyền, mà chỉ có bọn mọi rợ mới hành xử như thế trong thời đại văn minh này) và khi bầy đàn “chống Cộng” sa đà quá lố (chẳng hạn trước đây bọn này léo nhéo láo xược gọi Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ duy nhất của toàn bộ nòi giống Việt Nam thời cận đại và hiện đại được cả loài người và tất cả các chính phủ các nước kính trọng kính nể kính yêu, là “cẩu tặc”) khiến  hình thành lực lượng hùng mạnh ghê gớm đầy thịnh nộ của những người “chống chống-Cộng” bao gồm cả những người trước đó không quan tâm đến chính trị, không quan tâm đến “Đảng Cộng Sản Việt Nam”, chẳng quan tâm đến “Cộng Hòa”, chỉ có một điều duy nhất trong tâm khảm của sự công tâm rằng Hồ Chí Minh là vĩ nhân đầy tự hào của dân tộc Việt Nam, đã bắt đầu đăng đàn từ đầu Thế kỷ XXI (năm 2000) đấu khẩu mắng lại bầy đàn “chống Cộng” ban đầu theo kiểu bình dân (chẳng hạn xuất hiện kiểu phản ứng dữ dội rằng các lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hòa không được bất kỳ chính phủ nào của bất kỳ nước ngoài nào kính trọng kính nể kính yêu nên thân phận chỉ là “phân của cẩu”) về sau hoàn toàn trí tuệ, hùng biện, và có cả giá trị sử liệu và nghiên cứu thâm thúy. Chính sự đồi bại, lộng hành, vô chính phủ, dễ bị tổn thương, và dễ bị lợi dụng, dễ bị lạm dụng bởi tập thể kẻ xấu, kẻ gian, kẻ ác, kẻ tội phạm, và kẻ khủng bố của quyền lực thứ năm hình thành từ mạng xã hội của Tân Kỷ Nguyên Kỹ Thuật Số, đã dẫn đến sự vươn lên của quyền lực thứ sáu sử dụng cùng những thành tựu của cái gọi là Tân Kỷ Nguyên Kỹ Thuật Số để khẳng định tính chất hiệp sĩ vệ quốc chính đạo của mình, cái tính chất thuần Việt đã luôn khiến người Việt đoan chính giúp được các vương triều nước Việt đánh bại bất kỳ đoàn quân xâm lược nào và đến từ bất kỳ đâu.

Quyền lực thứ sáu do đó là tên gọi của Cộng đồng những bloggers ái quốc chân chính bắt đầu từ Việt Nam và ắt sẽ thành khuôn mẫu quyền lực mới ở các nước khác trong một thời gian rất không xa.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 14-8-2013. Mạng Xã Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=210

[2] Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn. http://hhphuoc.blog.com/?p=222 hoặc http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/08/20/hoi-chung-bay-dan/

[3] Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/24/the-nao-la-tu-do-dan-chu/

[4] Tên gọi do Hoàng Hữu Phước khai sinh.

[5] Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/14/the-nao-la-nha-tri-thuc/

[6] Lại Thu Trúc. 23-9-2012. Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc. (Đăng lại từ emotino.com) http://hhphuoc.blog.com/?p=93

[7] Hoàng Hữu Phước. 27-7-2014. Nguồn Sáng Cho Tinh Thần. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/07/27/nguon-sang-cho-tinh-than/

[8] John Lee. 6-2014. Mất Niềm Tin – Bản Án Xứng Đáng Nhất Dành Cho RFA. http://www.viethaingoai.net/mat-niem-tin-ban-an-xung-dang-nhat-danh-cho-rfa.1.html

Tứ Đại Ngu

Hoang Huu Phuoc, MIB

Vào Tết Quý Tỵ tôi có đăng bài “Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)” trên Emotino.com (sau đó là đăng song hành trên blog hhphuoc.blog.com) là trang web của giới doanh nhân Việt Nam, nơi tôi đã đăng cả ngàn bài viết bằng tiếng Việt từ năm 2008, sau khi cả ngàn bài viết bằng tiếng Anh của tôi phải ngưng lại do Yahoo! 3600 đã ngu xuẩn đóng cửa. Do đa số các bài viết của tôi là ca ngợi đất nước Việt Nam và mắng mỏ toàn bộ bất kỳ kẻ nào xúc xiểm Việt Nam (tức xúc phạm chính phủ Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam, chế độ chính trị Việt Nam, v.v.), bọn chống Cộng và bè lũ hai mang tất bực tức bực bội bực dọc nên ngay khi thấy xuất hiện bài viết trên, chúng (thật ra tôi đã biết ngay rất rõ đích thị là ai) lập tức chui lỗ thú nuôi vào Emotino xóa ngay bài…Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt [1] rồi mới gắn hình bỡn cợt vào bài Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu). Với cung cách bậc trưởng thượng, không màng đến bọn bất tài vô dụng chỉ giỏi chui lỗ thú nuôi chứ bó tay run rẩy tiểu són không thể tấn công các trang web của giặc Tàu, tôi không hề yêu cầu chủ nhân của Emotino.com phải làm gì; trái lại, bình tĩnh xây dựng nhiều blog cá nhân khác cho riêng mình. Ngay sau đó, thế giới của bọn chống Cộng và bọn hai mang hèn hạ ẩn danh dấu biệt tên cha sinh mẹ đẻ thi nhau làm cái việc mà từ ngữ tiếng lóng bần hàn bần tiện bần cùng của chúng gọi là “ném đá”, và tất nhiên bọn hai mang của giới báo chí cũng rình rập cơ hội từ dạo tôi phát biểu về Luật Biểu Tình thắng lợi quá lớn ở nghị trường để thơ ngây ra sức đẩy tôi ra khỏi Quốc hội. Tôi đã xuất chiêu làm tiu nghỉu và làm thất bại hoàn toàn ý đồ ý chí ý định  của bọn hai mang đã bu đến văn phòng tôi để “phỏng vấn” mà thực chất là mong moi móc được thêm thông tin nào đó hoặc sự lỡ lời nào đó của tôi. Chiêu của tôi là tuyên bố sẽ viết thư xin lỗi Ông Dương Trung Quốc, và cho đến tận hôm nay nội dung khẳng định sẽ xin lỗi ấy vẫn còn ngạo nghễ tồn tại trên blog của tôi [2]. Thời gian rất dài đã trôi qua, và nay tôi tiết lộ lý do vì sao tôi cố tình để có sự tồn tại vĩnh viễn của bài “xin lỗi”: đã có bài xin lỗi, vậy sẽ thật là kỳ dị, sẽ thật là phản quy trình sử học hàn lâm, sẽ thật là vô duyên vô lý vô đạo, nếu như không có sự tồn tại của bài viết vốn là lý do nguyên do có bài “xin lỗi” ấy. Do đó, hôm nay tôi đường đường chính chính đăng lại toàn văn bài viết đã được mọi người gọi là bài “Tứ Đại Ngu” và bài này sẽ không bao giờ được tôi gỡ bỏ, do – như đã nói – bài này không thể thiếu khi có sự tồn tại của bài “xin lỗi” đã nói ở trên. Việc đăng tải lập lại này vừa để phục vụ yêu cầu cung cấp sử liệu đủ đầy cho hậu thế, vừa để khẳng định hai điều rằng (a) tôi hoàn toàn đúng, hoàn toàn hợp pháp, và hoàn toàn phù hợp văn hóa cao nhất của Việt Nam; và (b) tất cả những gì bọn hai mang của báo chí viết về tôi, cho rằng là nội dung tôi đã trả lời phỏng vấn, đều là ngụy tạo và giả dối.

****

Dương Trung Quốc

Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Phàm ở đời, cứ luận cổ suy kim thì các nhận định của Thầy Khổng cùng môn đồ ắt không phải không có phần đúng và có thể trên nền đúng cổ đó mà phát triển xum xuê kim thêm rằng (a) người nào khi mẹ cha sinh ra đời đã tự mình biết tất tần tật lẽ phải điều hay ấy là đấng thánh nhân; (b) người nào sinh ra đời biết tự mình tìm đến bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo chí thú học hành tới nơi tới chốn để biết lẽ phải điều hay là đấng đạt nhân; (c) người nào sinh ra đời nhờ mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy mà trở nên biết lẽ phải điều hay là đấng hiền nhân; (d) người nào vừa không được – hoặc không có – mẹ cha biết chọn bậc thầy thiên hạ, vừa bản thân cũng chẳng biết ai là bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo học tập để biết lẽ phải điều hay là người không có phúc phận; (e) người nào đã được mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy nhưng dù cố gắng học hành kết quả học tập cũng không khá hơn được, khiến chẳng thể phân biệt lẽ phải điều hay, là người ngu; (f) còn người nào dù có điều kiện hơn thiên hạ vẫn vừa không biết ai là bậc thầy trong thiên hạ để tìm đến quỳ lạy người ấy xin theo học, vừa bê tha bê bối bê trễ việc học tập học hỏi học hành nên không thể biết lẽ phải điều hay, lại hay to mồm phát ngôn toàn điều càn quấy là kẻ đại ngu. Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp, Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng.

Giới Thiệu Đôi Nét Về Dương Trung Quốc:

Dương Trung Quốc quê quán tỉnh Bến Tre, sống ở Hà Nội, trình độ học vấn: tốt nghiệp đại học môn Sử, tự dưng có danh xưng “Nhà Sử Học” trên trời rơi xuống, không rõ do tự xưng hay do thuộc hạ tung hê, ắt do ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” mới được gắn học vị vào tên, chứ “tốt nghiệp đại học” (tức “Cử nhân”) hay “tốt nghiệp phổ thông” (tức “Tú tài”) thì theo quy định bất thành văn của thời hiện đại không được nêu ra kèm theo tên họ, nên tức mình đau mẩy phải áp cụm từ “nhà sử học” vào tên để cho có với người ta chăng. Tuy nhiên, việc Dương Trung Quốc không chọn danh xưng “Sử Gia” cũng là một điều khá khen là khôn ngoan, vì đã là “sử gia” thì phải là giáo sư tiến sĩ Sử, dù trong tiếng Hán Việt thì “gia” cũng là “nhà”, nhưng “gia” thì … to lắm, thế nên mới có chuyện các nhà tài phiệt chỉ được gọi là “đại gia” chứ đố ai dám vặn vẹo kiểu “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà nói đó là…“nhà lớn

Nhất Đại Ngu của Dương Trung Quốc:  Đĩ

Cái đại ngu thứ nhất của Dương Trung Quốc là lập lại lời thiên hạ thế gian này hay nói khi  tuyên bố danh chính ngôn thuận giữa nghị trường quốc hội rằng mại dâm là nghề cổ xưa nhất của nhân loại, rằng các nước luật hóa mại dâm nên Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa đối với nghề mại dâm mà phải công nhận nghề này, và rằng nhất thiết phải đưa mại dâm lên bàn nghị sự của quốc hội. Ba điểm Dương Trung Quốc nêu lên cho thấy những bảy điều xằng bậy như sau:

1) Mại dâm không là nghề cổ xưa nhất của nhân loại mà là nghề…đạo chích, tức trộm cắp. Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có cho biết thủa hồng hoang mới có một nam tên Adam và một nữ tên Eva, tất nhiên chưa thể phát sinh nhu cầu giải quyết sinh lý với người nữ khác nên chưa thể có mại dâm. Song, Eva và Adam đã đồng lõa ăn trộm trái táo xơi để khai sinh ra ngành công nghiệp thời trang cho nhân loại. Việc to mồm nói mại dâm là nghề cổ xưa nhất chỉ có thể là lời khẳng định sự bó tay của nhân loại trước thân phận bọt bèo của nữ giới và tệ nạn của ma cô đàng điếm, của “nô lệ tình dục”, và của “sex trade” chứ sao lại vin vào đó để đòi “công nhận” là một “nghề” chính danh chính thức?

2) Cũng trong chương Sáng Thế Ký Genesis của Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có ghi việc Chúa Trời sai các thiên sứ bay đến hai thành phố Sodom và Gomorrah vung gươm tàn sát giết sạch nam (đàn ông), phụ (phụ nữ), lão (bô lão), ấu (trẻ em, hài nhi) để trị tội dâm ô đồi trụy. Tuy Genesis không có nêu đặc biệt vấn đề đĩ điếm mại dâm nữ, song trong các chương khác của Thánh Kinh Cựu Ước và Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa Giáo như Châm Ngôn (Proverbs 23:27-28), Lu-ca (Luke 7:36-50), Ma-thi-ơ (Matthew 21:31-32) và II Cô-rinh-tô (II Corinthians 5:17), v.v. đều ghi rõ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus sẵn sàng xóa sạch “tội lỗi” cho đĩ điếm nào tin vào Chúa. Đã là “tội lỗi” ắt đó không bao giờ là “nghề nghiệp” cả.

3) Dương Trung Quốc là đại biểu quốc hội ứng cử tại địa bàn tỉnh Đồng Nai là nơi có rất nhiều giáo xứ. Tôi đã là giáo viên chủ nhiệm một lớp do tỉnh Đồng Nai gởi đến nhờ trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh giúp đào tạo nên một đội ngũ giáo viên tiếng Anh thật giỏi để phục vụ ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai. Đa số các sinh viên này của tôi đều thuộc gia đình công giáo, và những chuyến đi thăm phụ huynh tại Đồng Nai, dù đó là thành phố Biên Hòa, hay thị trấn Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành, v.v., cho tôi cảm nhận được mức độ đạo hạnh cao, mẫu mực gia phong tốt lành nơi các gia đình và nơi bản thân các sinh viên này. Việc Dương Trung Quốc phát biểu linh tinh về mại dâm là việc làm không chút khôn ngoan do động đến vấn đề liên quan đến đạo đức mà Kinh Thánh đã nêu và các cử tri là giáo dân các giáo xứ tỉnh Đồng Nai khó thể chấp nhận được sự xúc phạm, nhất là kiểu ăn nói quàng xiên rằng “không công nhận mại dâm tức là đạo đức giả”.

4) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa của cụm từ “đạo đức giả” cũng như các minh họa làm rõ nghĩa cụm từ này trong thực tế đời sống, trong thực tế hùng biện hàn lâm, và trong thực tế tôn giáo, mà tôi sẽ biện luận làm rõ trong một bài viết sau này.

5) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết rằng ngay tại Mỹ chỉ có vài tiểu bang và tại các tiểu bang này chỉ có một hay hai thị trấn đưa mại dâm vào danh sách “nghề” để quản lý. Mà ngay cả khi thế giới đảo điên này có công nhận “nghề” mại dâm, cũng không phải là lý do để đặt đĩ nằm chình ình trên bàn nghị sự của quốc hội Việt Nam!

6) Dương Trung Quốc đã không có tầm nhìn bao quát, sâu rộng, về vấn đề mại dâm. Dương Trung Quốc chỉ nghĩ đến mại dâm như việc đơn giản người phụ nữ có quyền bán thân để kiếm tiền và để đáp ứng nhu cầu xã hội. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng mại dâm bao gồm đĩ cái, đĩ đực, đĩ đồng tính nữ, đĩ đồng tính nam, và đĩ ấu nhi. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng khi “công nhận” cái “nghề đĩ” để “quản lý” và “thu thuế”, thì phát sinh … nhu cầu phải có trường đào tạo nghề đĩ thuộc các hệ phổ thông đĩ, cao đẳng đĩ, đại học đĩ; có các giáo viên và giáo sư phân khoa đĩ; có tuyển sinh hàng năm trên toàn quốc cho phân khoa đĩ; có chương trình thực tập cho các “môn sinh” khoa đĩ; có trình luận văn tốt nghiệp đĩ trước hội đồng giảng dạy đĩ; có danh sách những người mua dâm để tuyên dương vì có công tăng thu nhập thuế trị giá gia tăng cho ngành công nghiệp đĩ; có chính sách giảm trừ chi phí công ty hay cơ quan nếu có các hóa đơn tài chính được cấp bởi các cơ sở đĩ, đặc biệt khi cơ quan dùng vé “chơi đĩ cái” tặng nam nhân viên và vé “chơi đĩ đực” cho nữ nhân viên nào ưu tú trong năm tài chính vừa qua; ban hành quy định mở doanh nghiệp cung cấp đĩ, trường dạy nghề đĩ, giá trị chứng chỉ văn bằng đĩ trên cơ sở so sánh giá trị nội địa, khu vực, hay quốc tế; và có các hướng dẫn về nội dung tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo bên hông xe buýt và trên thân máy bay, cũng như quảng cáo online về đĩ, tập đoàn đĩ lên sàn (chứng khoán), v.v. và v.v.

7) Dương Trung Quốc đã không thể phân biệt giữa nội dung “nhân quyền” tức “quyền con người” trong việc “tự do bán thân”, với “quyền công dân” mà một đạo luật đĩ  có thể điều chỉnh hành vi.  Việt Nam đã chấm dứt việc bố ráp đưa mại dâm nữ vào cơ sở chữa bệnh-phục hồi nhân phẩm, và đây là do Việt Nam tôn trọng “quyền con người”. Còn việc ra sức giáo dục, tuyên truyền để hạn chế sự hoành hành tác tệ của mại dâm đối với trật tự xã hội, nhân cách công dân, đạo đức xã hội, v.v., là việc mà nhà nước nào, dù thần quyền hay thế tục, đều cố gắng làm tốt. Dương Trung Quốc dường như rất vô tư đối với nội hàm làm băng hoại xã hội Việt Nam, cứ như xuất phát từ lòng căm thù bịnh hoạn nào đó đối với chế độ hiện tại của nước này vậy.

Nhị Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đa Đảng

Trong một video clip trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV, Dương Trung Quốc đã vừa nháy mắt vừa nói với nhà báo rằng các anh ấy ở Việt Nam Cộng Hòa nên biết rõ thế nào là “đa đảng”. Có cái mác “Nhà Sử Học” nhưng Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Như tôi đã nói rõ trong nhiều bài viết trên các trang mạng, Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả! Chỉ đến năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu mới thành lập cái gọi là Đảng Dân Chủ, với đảng kỳ là cờ vàng sao đỏ, có cùng kích cỡ như cờ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (trước 1975) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ sau 1975 đến nay), và với Nguyễn Văn Thiệu làm Đảng Trưởng. Buổi lễ thành lập Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu được tổ chức tại nơi mà nay là Trung Tâm Thể Thao Quận Bình Thạnh, gần Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chi tiết mà không bất kỳ một người Mỹ gốc Việt nào biết trước khi đọc thông tin của tôi đăng trên các blog. Ăn nói hồ đồ và xằng bậy về Việt Nam Cộng Hòa là điều đại ngu thứ hai của Dương Trung Quốc.

Tam Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Biểu Tình

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tháng 10 năm 2011, sau khi phát biểu xong về sự cần thiết có cái gọi là “Luật Biểu Tình”, Dương Trung Quốc nổi nóng khi nghe đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu phân tích về ngữ nghĩa, ngữ nguyên, và lịch sử xuất hiện của cụm từ “protest demonstration” trong tiếng Anh mà tiếng Việt đã dịch sai thành “biểu tình” để từ đó kiến nghị chưa thể đưa lên bàn nghị sự cái gọi là “luật biểu tình” do ý tứ chưa thông, chắc chắn sẽ gây cảnh rối loạn an ninh trật tự. Vì nổi nóng trước hiện tượng chưa từng có tiền lệ tại quốc hội Việt Nam khi đại biểu Hoàng Hữu Phước được nghị trường vỗ tay đồng tình, Dương Trung Quốc đã có cái đại ngu thứ ba, gồm 5 điều xằng bậy sau:

1) Nhấn nút phát biểu tiếp lần thứ hai để chống lại đại biểu Hoàng Hữu Phước, biến nghị trường quốc hội thành nơi đấu khẩu, chà đạp “tự do ngôn luận”, trong khi nhiều trăm đại biểu khác đang chờ đến lượt họ phát biểu, như vậy đã giành giật thời gian chính đáng chính danh chính thức chính đạo của – và gây thiệt thòi cho – 499 đại biểu quốc hội thuộc các tỉnh khác của Việt Nam.

2) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng “biểu tình” xuất hiện đầu tiên tại Chicago thế kỷ XIX, vì nếu không có kiến thức về ngữ nguyên học, không ai dám tự xưng là “nhà sử học” cả, vì sẽ đến ngày Dương Trung Quốc tuyên bố “biểu tình” đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam đời Nhà Trần với cuộc “biểu tình Diên Hồng”.

3) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu quốc hội không đại diện cho dân mà chỉ cho cá nhân, và như vậy chính Dương Trung Quốc khẳng định Dương Trung Quốc không đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, tức là từ chối đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, càng không đại diện cho bất kỳ người dân Việt nào. Đó là chưa kể Dương Trung Quốc không những xúc phạm 499 đại biểu quốc hội Việt Nam, mà lại còn nhổ toẹt vào các đạo luật về tổ chức quốc hội Việt Nam.

4) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu Hoàng Hữu Phước hãy nghiên cứu trước khi phát biểu, mà không thể hiểu rằng đại biểu thạc sĩ Hoàng Hữu Phước luôn có trách nhiệm trong từng lời phát biểu tại nghị trường và nghiên cứu sâu về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và lịch sử các từ ngữ tiếng Anh trong tương quan tiếng Việt.

5) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã tự làm lộ cho toàn quốc biết rằng Dương Trung Quốc không biết ngoại ngữ trong khi bản thân là “nhà sử học”.

Tứ Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Văn Hóa Từ Chức

Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII tháng 11 năm 2012, Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinaline. Đến khi nghe Thủ tướng trả lời hùng biện, chân thiết, khúc chiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của 496 đại biểu quốc hội (trừ 1 đại biểu bị miễn nhiệm, 1 đại biểu qua đời khi tại nhiệm, bản thân thủ tướng, và bản thân Dương Trung Quốc), Dương Trung Quốc đã vội vàng nói thêm rằng Dương Trung Quốc sở dĩ đặt câu hỏi là để xem Thủ tướng trả lời thế nào, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là đã “an dân”. Dương Trung Quốc trong cái đại ngu thứ tư này đã phạm 3 điều xằng bậy như sau:

1) Thủ tướng – trên nguyên tắc và lý thuyết tổ chức – đứng đầu tất cả các Bộ. Như vậy, Bộ Quốc Phòng giữ yên bờ cõi, ấy là đại công. Bộ Công An đập nát phản động, tiêu diệt bạo loạn, trừng trị tội phạm, ấy là đại công. Bộ Ngoại Giao đem lá cờ đỏ sao vàng tung bay thắng lợi đối ngoại trên toàn thế giới, ấy là đại công. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Bộ Công Thương lập kỳ tích xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, ấy là đại công. Bộ nào cũng lập công, vấn đề là công nhiều hay ít, nhiều hơn hay ít hơn những khó khăn đang tồn tại. Như vậy, cái đạo lý nào cho phép Dương Trung Quốc hỗn xược thách đố Thủ tướng có dám từ chức hay không, khi quản lý yếu kém để Vinashin và Vinaline gây thất thoát tiền của quốc gia? Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là đánh giá rất cao việc đoái công chuộc tội. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là công bằng, công minh, công chính. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan. Dương Trung Quốc loạn ngôn, dám đem việc Vinashin và Vinaline ra để hỗn láo với Thủ tướng, làm lơ các đại công của các Bộ khác, mà – như đã nói ở trên – đều thuộc dưới quyền Thủ tướng. Thử hỏi, nếu Vinashin không làm thất thoát một xu con nào, nhưng Bộ Quốc Phòng làm mất nhiều tỉnh vào tay quân giặc, Bộ Nông Nghiệp gây ra nạn đói, Bộ Y Tế để dịch bệnh tràn lan, và Bộ Công An bó tay trước bạo loạn đốt phá, v.v., thì đất nước này sẽ ra sao. Dương Trung Quốc đã mị dân khi hùng hổ phát biểu như thể chỉ có Dương Trung Quốc mới “dám” chất vấn như thế. Cái cực đoan, phủ nhận công, phi lý, và bất công là những thứ ngoại lai mà Dương Trung Quốc đã hấp thụ từ bọn giặc nào để tự tung tự tác nơi nghị trường quốc hội Việt Nam như thế? Vinashin là rắn có đầu, và luật pháp nghiêm minh phải xử lý nặng những cái đầu ấy, tức những chức sắc hưởng lương của Vinashin để làm lãnh đạo Vinashin và làm Vinashin phá sản. Đặt vấn đề “văn hóa từ chức” phải chăng hàm ý rằng cứ từ chức là sẽ được “hạ cánh an toàn”, xem như đã giải quyết xong vụ việc?

2)  Dương Trung Quốc và một bộ phận nhỏ người Việt thường đem những thứ ngoại lai làm chuẩn mực cho các so sánh với nội tại của Việt Nam mà thiếu sự hiểu biết thấu đáo, mà cái gọi là “văn hóa từ chức” là một ví dụ. Chính họ nhìn hiện tượng ở nước ngoài rồi tự đặt ra cụm từ “văn hóa từ chức” với sự thán phục, trong khi thực ra chẳng có gì để mà gọi đó là “văn hóa”. Khi một tai nạn thảm khốc xảy ra tại một nước tư bản, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải nước ấy lập tức từ chức. Đó là quy định bất thành văn để giúp “Đảng” có được 3 điều như (a) thoát được cơn thịnh nộ của người dân, (b) Đảng không bị tổn hại trong kỳ bầu cử tiếp theo, và (c) giữ toàn vẹn danh tiếng và nguồn thu cho các nhà tư bản chủ nhân các công ty chế tạo xe hỏa hoặc tàu bè hoặc máy bay lâm nạn vì các nhà tư bản này cung cấp tài chính cho “Đảng”. “Nhận trách nhiệm quản lý yêu kém” và từ chức, biến tai nạn không phải do lỗi kỹ thuật thiết bị công nghiệp, và người từ chức sẽ được đền ơn bằng cách có một chức vụ cao cấp tại một trong những công ty tư bản ấy. Đây là việc mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng dễ dàng từ các nguồn thông tin mở. Làm gì có cái “văn hóa” và cái “tinh thần trách nhiệm” trong cái gọi là “từ chức” trong thế giới tư bản mà cứ tôn vinh, ca ngợi, và thán phục đến độ hỗn láo đem ra lập thành tích “chất vấn như Dương Trung Quốc đã làm.

3) Khi nhanh nhảu tự cứu mình trước cảnh thất bại vì không thể làm Thủ tướng bối rối hoặc mang nhục trước quốc dân, Dương Trung Quốc đã cho rằng câu chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để test (thử nghiệm) xem Thủ tướng có tài hùng biện không. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để ban ân cho Thủ tướng có cơ hội trổ tài hùng biện để “an dân” hầu ghi điểm son với toàn dân. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để đánh bóng tên tuổi của Dương Trung Quốc như nhân vật đại diện toàn dân tộc để nói lên tấm lòng của toàn dân tộc rằng toàn dân tộc đã an lòng, yên tâm trước câu trả lời chất vấn hùng biện của Thủ tướng, từ đó toàn tâm toàn ý ngưỡng mộ Thủ tướng và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo anh minh tài ba của Thủ tướng. Từ ngữ “an dân” của Dương Trung Quốc mang nội hàm bao gồm tất cả những ý tứ như thế. Và thật khó hiểu, không rõ Dương Trung Quốc đã “lập đại công” với Thủ tướng, hay Dương Trung Quốc đã phạm đại ngu thứ tư này.

Thay Lời Kết:

Dựa theo lời Thầy Khổng từng phán, cố thể nói rằng ai muốn có điều Nhân mà không muốn học thì bị cái Ngu che mờ, muốn ta đây đầy Trí mà không muốn học đến nơi đến chốn thì bị cái Thấp Kiến  bịt trí, muốn mình có chữ Tín mà không muốn học cho nên người thì bị cái Hại Nghĩa kéo lôi, muốn khoe ta có Trực mà không muốn học cho nên người thì bị cái Ngang Ngạnh làm cho u mê, muốn Dũng mà không muốn học cho thành bậc đạt nhân thì bị cái Loạn làm cho u tối, còn muốn Cương mà không chịu học hành thì bị cái Lồng Lộn làm cho ám áng.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “biểu tình” là chứng tỏ ta đây có lòng “Nhân” thương dân bị chính phủ làm cho khốn khổ, không ngờ đó lại là “Ngu” vì tự hét lên cho toàn nhân loại biết chính mình không hiểu ý nghĩa tiếng Việt cao siêu và không rành ngoại ngữ khi Đại biểu Hoàng Hữu Phước luận giải về “từ nguyên Anh ngữ” của  cụm từ “protest demonstration”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” là chứng tỏ ta đây có trình độ “Trí” muốn nữ công dân – trong đó có các nữ nhân thuộc gia tộc Dương Trung Quốc –  có quyền tự do sử dụng vốn tự có để kinh doanh phát triển ngành công nghiệp bán dâm, không ngờ đó lại là cái “Thấp Kiến” của phường vô hạnh vô đạo đức vô lại vô duyên, dễ đem lại danh xưng “Nhà Đĩ Học” bên cạnh “Nhà Sử Học”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có uy “Tín” với dân nên được dân gởi gắm tâm tư nguyện vọng về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”, không ngờ đó lại là điều hỗn với dân và do đó “Hại Nghĩa.”

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có lòng trung “Trực” nói thẳng ra những điều tối thượng mà toàn dân ao ước, cả nước chờ mong, dân tộc đón chào, không ngờ đó lại là do “Ngang Ngạnh” nói càn, luận bừa, sai be sai bét, phản hàn lâm, bất tri, vô trí.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có cái  “Dũng” dám kêu Thủ Tướng Dũng đương đầu với câu hỏi “khó”, mà không ngờ đó lại chứng tỏ chính Dương Trung Quốc là “Loạn” vì không phân biệt chính-phụ, không rõ ngay-gian, nên phạm ba “loạn” gồm (a) “loạn ngôn” khi đổi trắng thay đen muốn đem một việc hỏng ra phủ định ngàn việc đạt cứ như đây là thời phong kiến hay tay sai đế quốc-thực dân, (b) “loạn hành” khi cho nghị trường là nơi để Dương Trung Quốc sử dụng “kiểm tra’ tài đối đáp của Thủ tướng, và (c) “loạn trí” khi đối đáp phản pháo trên cơ sở không nghiên cứu, chẳng nền tảng cơ sở dẫn chứng nghiêm túc, và nào có kiến thức ngoại ngữ trong thời buổi hiện đại này.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”  là chứng tỏ ta đây có cái  “Cương”, biết khi thời cơ đến thì phải tỏ ra cứng rắn mới chống được cường quyền, mới phục vụ được nhân dân, mà không ngờ đó chỉ là sự “Lồng Lộn” của kẻ thất phu, bất tài, vô hạnh. Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở Biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “ đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái, dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc.

Thầy Khổng có phán rằng: “Tranh luận nhỏ nhặt thì hại nghĩa, nói nhảm thì phá đạo lý.” Lăng Tần tôi xuất thân nghề giáo, đến nay vẫn được môn sinh gọi là Thầy Phước, nhận thấy cái chuỗi “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chuyện lớn đến độ Dương Trung Quốc đòi để “đĩ” nằm lên bàn nghị sự quốc hội quốc gia, đồng thời với việc Dương Trung Quốc nói nhảm nói nhí, nên trước việc hại nghĩa và phá đạo lý ấy, Thầy Phước tôi không thể không phụ lời giáo huấn của Thầy Khổng, đành chắc lưỡi lập lại nguyên văn lời của Thầy Khổng rằng: “Ôi! Người ta chẳng nói thì thôi, nói ra có đúng lẽ mới nói! 

Người ta” ắt không phải nói chung bàng dân thiên hạ, mà là “ta đây” vậy.

Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học

****

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt. Đăng lần đầu trên Emotino.com. Đăng lại ngày 15-02-2013 tại http://hhphuoc.blog.com/?p=145 

[2] ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc.19-02-2013. http://hhphuoc.blog.com/?p=147

Hoàng Sa

Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước nói về “Hội Chứng Hải Chiến Hoàng Sa”

Hoàng Hữu Phước, MIB

Phàm khi nói về bất kỳ chứng bịnh nào mang đầy đủ 4 đặc tính của (a) thoát thai từ sai lầm chủ động hay thụ động, (b) lệch lạc tâm lý trực tiếp hay gián tiếp, (c) có những triệu chứng bịnh lý rối loạn sinh lý và tâm thần, và (d) chưa có thuốc chữa đông y hoặc tây y, thì người ta hay dùng từ syndrome tức “hội chứng”, và trong nhiều cách đặt tên cho cả ngàn syndrome mà con người đang gánh chịu thì có cả cách theo công thức “địa danh + syndrome” chẳng hạn như Hội Chứng Chiến Tranh Vùng Vịnh, Hội Chứng Stockholm, Hội Chứng Jerusalem, Hội Chứng Paris, Hội Chứng Lima, v.v. Ngoài ra, từ syndrome còn được dùng ngay cả cho cách ví von như Hội Chứng Việt Nam chẳng có triệu chứng bịnh lý nào ngoài niềm tin Việt Nam đang và sẽ đe dọa sự tồn tại của quyền lực Hoa Kỳ cũng như của đất nước Thái Lan, và do đó có thể nói từ syndrome được dùng cho một thời sự nóng hổi hoặc sục sôi hoặc hâm hấp mà người bị hội chứng này là phía bại trận đầy sợ hãi, mang dấu ấn tác động bầy đàn hoặc dính chùm. Hiện nay Việt Nam vừa đóng góp thêm cho bề dày giải nghĩa của từ “hội chứng” khi hội chứng còn mang đặc điểm tinh khôn, tinh ranh, tỉnh táo, tỉnh bơ, và biết kiếm chác, qua cái gọi là Hội Chứng Hải Chiến Hoàng Sa.

Khởi đầu cho sự xuất hiện của Hội Chứng Hải Chiến Hoàng Sa là các tờ báo có thu nhận bọn hai mang bắt đầu dựa hơi sự càn quấy của Tàu ở Biển Đông để trây trét lên mặt báo những bài viết về Hải Chiến Hoàng Sa, trong đó những người thuộc lực lượng hải quân Việt Nam Cộng Hòa có tham gia trận “hải chiến”, có bị thương, có bị Tàu bắt làm tù binh, hoặc có tử trận, đều được ngợi ca như những anh hùng chống giặc ngoại xâm, giữ gìn biển đảo. Dần dần, sự lở lói lan dần thành sự công khai nơi công chúng bị kích động với niềm tin thơ  ngây rằng báo là báo của Đảng, và báo nói tức Đảng nói, nên hàng hàng lớp lớp từ thường dân đến quan chức ít học lịch sử thi nhau đăng đàn nói về Hải Chiến Hoàng Sa và đòi công nhận những binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa tử trận trong “hải chiến” là anh hùng liệt sĩ. Và cực điểm của sự suy dồi là một bầy đàn của những kẻ có tì vết hư hỏng hư đốn huy động tiền để lo ngôi nhà mới cho gia đình một vị nguyên sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Hòa, rồi kêu gọi kiều bào hải ngoại gởi tiền về cho nhóm để nhóm thực hiện việc “đền ơn đáp nghĩa” những “anh hùng liệt sĩ” ấy. Đúng là bài bản dở hơi của bọn man di chống Cộng.

Mọi người dân có học thức và có cái đầu vững vàng mà giặc Tàu khiếp đảm kinh hồn làm giặc Tàu sẽ chiến bại hoàn toàn, đều rõ rằng binh sĩ luôn “bảo vệ đất nước” và “chống giặc”. Chính vì vậy, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong các lực lượng Hải-Lục-Không quân theo lịnh của Tổng Thống chống “giặc” đến từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hoặc đến từ bất kỳ đâu. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trấn giữ Biển Đông đã đánh diệt các ghe thuyền chở vũ khí đạn dược của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cung ứng cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Bao người đã thành liệt sĩ cùng với những ghe thuyền bị trúng đạn pháo tiêu diệt của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Còn khi Tàu tấn công Hoàng Sa, nên nhớ đây không là Châu Âu thời xửa thời xưa với các chiến trận như Allia, Philippi, Milvian, Alesia, Pharsalus, Munda, Teutoburg, Adrianople, hay Chalons, khi hai đoàn quân đối đầu nhau dàn hàng ngang, với các chiến binh hiên ngang đứng thẳng lưng bắn vào đối phương theo hiệu lệnh mà chiến thắng luôn thuộc về phía nào có số quân lính còn đứng nhiều hơn. Do đó khi bất thình lình tấn công Hoàng Sa hay các hải đội của Việt Nam Cộng Hòa, Tàu đã gây sát thương cho nhiều binh lính Việt Nam Cộng Hòa trong những loạt đạn đầu tiên, và đó không phải là “Hải Chiến” do không có sự chiến đấu. Còn khi đã hoàn hồn để triển khai hỏa pháo chống trả, cuộc “hải chiến” mới bắt đầu. Việt Nam Cộng Hòa ắt đã tôn vinh những binh sĩ của họ, những người đã hy sinh trong khi thi hành nhiệm vụ ngăn chặn “giặc” xâm nhập từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và “giặc” được Mỹ bật đèn xanh cho phép tấn công phủ đầu đánh tan tác các chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa để chiếm đóng Hoàng Sa. Thật là vô duyên, vô đạo đức, vô nhân đạo, và vô lý khi vác loa kêu gào kiến nghị phong anh hùng liệt sĩ cho những người lính của Việt Nam Cộng Hòa.

Binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa bắn vài phát súng vào chiến hạm Tàu, sau đó bị thảm bại phải bỏ chạy, dâng luôn Hoàng Sa vào tay “giặc”. Thế mà bọn lếu láo nào nay dám kêu gào đòi công nhận “anh hùng” cho những kẻ chiến bại?

Thế còn khi Giặc Miên Mọi Rợ mà người ta hay gọi khéo là “phe Pol Pot” hoặc “Khmer Đỏ” (trong khi vẫn nói “Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc”, chứ đâu có gọi là “phe Đặng Tiểu Binh” hay “Trung Nam Hải”) tấn công chiếm giữ Đảo Phú Quốc tháng 5-1975, những chiến sĩ Việt Nam hy sinh giữ đảo thành công, có được cái nhóm hiện đang vác loa cung kính vái lạy như những “anh hùng” và đóng góp tiền xây sửa nhà cho con cháu của các chiến sĩ ấy?  Hay chúng cho rằng đó là việc của Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, còn họ là chăm lo cho những người ít ỏi thuộc nhóm Hải Chiến Hoàng Sa mà trước hết họ phải dán cho bằng được cái nhãn mác “anh hùng” để từ đó suy ra những “đồng đội” của các anh hùng này trong binh chủng không quân (đã bao lần oanh tạc tan nát nhiều tỉnh Miền Bắc) và các binh chủng bộ binh khác của Việt Nam Cộng Hòa cũng là anh hùng tương tự, những người đã luôn xử tội tù binh cộng sản bằng cách man rợ nhất[1],và dần dần đẩy tất cả quân đội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xuống hàng “giặc xâm lược”?

Thế còn khi Giặc Miên Mọi Rợ mà người ta hay gọi khéo là “phe Pol Pot” hoặc “Khmer Đỏ” tấn công các tỉnh ở vùng biên giới Tây Nam năm 1977, tàn sát dân lành vô tội, hãm hiếp hàng ngàn phụ nữ Việt trước khi chặt đầu, đến nay chỉ mới Nhà Mồ Ba Chúc gần Thị trấn Tri Tôn thôi đã lưu núi đầu lâu 1.159 bộ hài cốt của 3.157 người dân bị thảm sát, thì những chiến sĩ đã hy sinh khi chống lại giặc xâm lược, giữ toàn vẹn lãnh thổ phía Nam và ngăn chặn quy mô lớn hơn của cuộc tắm máu, có được cái nhóm hiện đang vác loa cung kính vái lạy như những “anh hùng” và đóng góp tiền xây sửa nhà cho con cháu của các chiến sĩ ấy?  Hay chúng cho rằng đó là việc của Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, còn họ là chăm lo cho những người ít ỏi thuộc nhóm Hải Chiến Hoàng Sa mà trước hết họ phải dán cho bằng được cái nhãn mác “anh hùng” để từ đó suy ra những “đồng đội” của các anh hùng này trong binh chủng không quân (đã bao lần oanh tạc tan nát nhiều tỉnh Miền Bắc) và các binh chủng bộ binh khác của Việt Nam Cộng Hòa cũng là anh hùng tương tự, những người đã luôn xử tội tù binh cộng sản bằng cách man rợ nhất[1], và dần dần đẩy tất cả quân đội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xuống hàng “giặc xâm lược”?

Và thế khi Giặc Tàu Mọi Rợ mà người ta hay gọi khéo là “Trung Quốc” bất ngờ xua hơn 600.000 quân tràn ngập tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc năm 1979 tàn sát hơn 10.000 dân lành vô tội, hãm hiếp bao phụ nữ Việt trước khi sát hại, và trong trận chiến không cân sức này, rất nhiều chiến sĩ trong số 70.000 quân của Việt Nam đã anh dũng hy sinh, cuối cùng giữ được lãnh thổ phía Bắc và ngăn chặn quy mô lớn hơn của cuộc tắm máu, có được cái nhóm hiện đang vác loa cung kính vái lạy như những “anh hùng” và đóng góp tiền xây sửa nhà cho con cháu của các chiến sĩ ấy? Hay chúng cho rằng đó là việc của Chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, còn họ là chăm lo cho những người ít ỏi thuộc nhóm Hải Chiến Hoàng Sa mà trước hết họ phải dán cho bằng được cái nhãn mác “anh hùng” để từ đó suy ra những “đồng đội” của các anh hùng này trong binh chủng không quân (đã bao lần oanh tạc tan nát nhiều tỉnh Miền Bắc) và các binh chủng bộ binh khác của Việt Nam Cộng Hòa cũng là anh hùng tương tự, những người đã luôn xử tội tù binh cộng sản bằng cách man rợ nhất[1]. và dần dần đẩy tất cả quân đội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam xuống hàng “giặc xâm lược”?

Trong buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp 7, Quốc hội Khóa XIII, có một cử tri tự xưng là “cựu chiến binh” đã ngây thơ phát biểu yêu cầu phong “anh hùng” cho những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong cái gọi là Hải Chiến Hoàng Sa ấy. Khi buổi tiếp xúc kết thúc, tôi có trả lời phỏng vấn của Phố Bolsa TV (Hoa Kỳ) và đối với câu hỏi về sự việc kiến nghị bất ngờ của vị cử tri ấy, do không thể nào nói rằng vị cử tri cựu chiến binh ấy đã sai, tôi có nói nhẹ nhàng hai ý rằng (a) sẽ là một sự bất công nếu hiện có hàng vạn gia đình vẫn còn khắc khoải  chưa biết và sẽ chẳng thể biết được về tông tích của người thân của họ, những chiến sĩ đã hy sinh mà không còn để lại đến một lóng xương làm vết tích, mà lại bàn đến việc phong anh hùng cho những người lính của Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa, và cứ xem như sự quan tâm nghĩ rằng họ là những anh hùng cũng là điều an ủi lớn lao rồi; và (b) những quy định quy trình không những ở Việt Nam mà tại tất cả các quốc gia trên thế giới đều rất phức tạp, đòi hỏi những hồ sơ chi tiết xác minh cụ thể và chính xác, cũng như những nhân chứng, và theo những thang bậc đánh giá, phải đến đâu mới được phong gì và hưởng chế độ ra sao.

Đã là “cựu chiến binh” mà không rõ quy trình quy định quy chuẩn của quân đội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ư? Thật là một điều tệ hơn cả sự sỉ nhục trước anh linh các anh hùng liệt sĩ của cách mạng Việt Nam.

Vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, tôi có nói với vài em sinh viên học trò của tôi khi các em trở thành những người đầu tiên được cho phép ra đi đoàn tụ gia đình tại Mỹ, rằng nếu không thành công trong việc học ở Mỹ, các em nên lập các tổ chức từ thiện để các em vừa sống nhàn hạ đế vương suốt đời, vừa có cơ hội giúp người nghèo các nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam mà tôi mong các em đừng bao giờ quên lãng. Nay thấy bọn người ngợm vác loa kia đang kêu gọi kiều bào đóng góp vào tài khoản của chúng, tôi chợt nhớ đến lời khuyên năm xửa năm xưa của tôi dành cho học trò.

Hỡi đồng bào Việt Nam, đừng bao giờ quên hàng ngàn hàng vạn người đã hy sinh anh dũng tại biên giới phía Bắc, phía Tây, vì đó là đạo lý cao trọng cao thượng cao đẹp duy nhất của người Việt.

Có giữ được cái đạo lý cao trọng cao thượng cao đẹp duy nhất của người Việt ấy, chúng ta mới có thể nung nấu, duy trì, tăng cường được tinh thần chống giặc ngoại xâm dũng mãnh, hiệu quả, và thắng lợi vẻ vang đầy vinh dự tự hào từ phía Đông nơi những chiến sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang ngày đêm dõi mắt trực chiến để tiêu diệt quân thù trong những trận “hải chiến” cho một kỳ tích “Điện Biên Phủ trên biển” siêu tuyệt.

Chân lý do chính chúng ta quyết định. Và tất nhiên, chân lý luôn phải ở trong tay chúng ta, những người Việt đoan chính, tinh khôn, và cả quyết.

Chân lý luôn do những người chân chính bảo vệ, những người có sức mạnh dẫm đạp dìm đầu bọn ngụy quân tử xuống đáy bùn nhơ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 27-4-2012. Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=29

Nguồn Sáng Cho Tinh Thần

Hoàng Hữu Phước, MIB

Học trò tôi có hỏi rằng tôi làm việc kinh doanh (có phí và miễn phí), làm việc nhà (hoàn toàn miễn phí), làm việc nước (không hưởng lương), làm việc viết lách (viết blogs miễn phí và sửa bài luận án miễn phí cho học trò và con cái của học trò), làm việc nấu sử sôi kinh (tức đọc cái núi sách mua từ lúc còn đi học nay vẫn chưa đọc hết mười tám phần ngàn, chứ không phải học để đi thi, vì như tôi đã nói trong một bài viết là tôi sẽ học lấy bằng tiến sĩ khi 70 tuổi lúc có thể có tí thời gian làm luận án do con hoặc cháu của học trò tôi làm giáo sư bảo trợ hay phản biện và chấm điểm, trao văn bằng), thì chắc chẳng còn thời gian nào để theo dõi báo chí giấy hoặc báo chí online.

Thật ra, tôi thường đọc bài viết trên các blogs của các vị sau vì họ có trí hóa cao, và tôi cảm nhận được nơi họ tấm lòng theo chính đạo, và có tài hùng biện để tải đạo, truyền đạo, và bảo vệ cái chính đạo ấy với chính tâm, vì chính nghĩa, với chữ chính đạo ở đây mang nội hàm vì đất nước và dân tộc Việt Nam:

Ông Nguyễn Thanh Tùng (tại blog “Đôi Mắt”: http://www.doi-mat.vn)

Ông Đông La (tại blog “Đông La” http://donglasg.blogspot.com)

Ông Amari Tx (tại blog “Tổ Quốc Trên Hếthttp://amaritx.wordpress.com)

Ông John Lee (tại blog “Việt Hải Ngoại” http://www.viethaingoai.net)

Tất nhiên, còn có blog của Thầy Trần Chung Ngọc[1], vị tiến sĩ tài hoa mà tôi nhiều năm nay đã tìm đọc tất cả các bài viết của Thầy tại http://sachhiem.net cho đến khi Thầy mất đầu năm 2014 này tại Illinois, USA.

Thế giới đảo điên.

Nước Việt điên đảo. Bọn đội lốt nhân sĩ, trí thức[2] [3], dân chủ[4], tụ tập bầy đàn[5] gây rối loạn dân tâm, chà đạp kỷ cương phép nước, hùa nhau viết blogs điên đảo đảo điên diễn tuồng vì nước vì dân, khiến tôi chỉ có được niềm vui an ủi khi bắt gặp những bài viết thật hay như bài Việt Nam: Cấm, Không Cấm của một vị tên Karel Phung (tại blog “Một Nửa Sự Thật Là Sự Giả Dối” http://karelphung.blogspot.com).

Tôi chỉ đọc những blog trên và những blog cùng chí hướng như những blog này, vì đó là những nguồn nước trong lành, những nguồn sáng cho sức khỏe tinh thần trong thời Mạt Pháp.

Với tôi, đất nước kính yêu này [6] [7đang được bảo vệ và tôn vinh bởi những con người viết nên chân lý nơi những trang blog ấy.

Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 15-9-2012. Mở Rộng Tầm Mắt Với Bậc Tài Hoa: Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc. http://hhphuoc.blog.com/?p=89

[2] Hoàng Hữu Phước. 07-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức. http://hhphuoc.blog.com/?p=290

[3] Hoàng Hữu Phước.10-6-2014  Lại Trí Thức. http://hhphuoc.blog.com/?p=384

[4] Hoàng Hữu Phước. 18-5-2010. Thế Nào Là Tự Do – Dân Chủ. http://hhphuoc.blog.com/?p=326

[5] Hoàng Hữu Phước. 20-8-2013. Hội Chứng Bầy Đàn. http://hhphuoc.blog.com/?p=222

[6] Hoàng Hữu Phước. 09-4-2009. Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa. http://hhphuoc.blog.com/?p=43

[7] Hoàng Hữu Phước. 09-4-2009. Việt Nam: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30-4-1975 Rực Lửa – Bản Tiếng Anh.  http://hhphuoc.blog.com/?p=44

Ai Đẻ Ra “Tập Cận Bình”

Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước phiếm luận về “Hội Chứng Vàng” ở Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi là người cẩn trọng – nói theo kiểu nhún nhường. Còn nói theo kiểu nhún nhảy nhún nhót thì tôi chưa hề thấy có bất kỳ người Việt Nam nào cẩn trọng như tôi hoặc hơn tôi. Vì cẩn trọng nên tôi chưa hề thua bất kỳ ai về hùng biện, kể cả cái chuyện cho rằng bọn quà quạ kền kền đã làm tôi phải viết cái gọi là “thư xin lỗi” [1] trong vụ “Tứ Đại Ngu” cũng chỉ là “myth” tức “chuyện hoang đường” tức đòn chơi khăm của tôi mà thôi. Đó là lý do tôi ngạo nghễ ngạo mạn duy trì cái tác phẩm bức thư xin lỗi ấy trong blog của tôi. Và chính vì cẩn trọng nên mới có 3 đoạn giải thích sau cho bài viết này:

a) Nhóm từ “Tập Cận Bình” bỏ trong ngoặc kép, do đó đây không phải về một thẳng người ngợm Tàu nào mang tên Tập Cận Bình vì ai mà không biết nó được đẻ ra từ đâu. Suy ra, nó không bao giờ có thể cự nự sao vô cớ mà mẹ nó bị tôi lôi ra hành hạ; và nếu nó có kiện tôi ra tòa án quốc tế về tội thóa mạ nhục mạ lăng mạ thì tôi sẽ hân hoan đi hầu cho thiên hạ thế giới mở rộng tầm mắt biết thế nào là lễ độ với tay biện thuyết Việt Nam.

b) Chính vì là “nhóm từ” nên bài này chỉ phê phán kẻ đẻ ra “Tập Cận Bình” chứ không phải kẻ đẻ ra thằng Tàu nào có tên Tập Cận Binh.

c) Đã là bịnh mà là bịnh hiếm, mang đậm chất tâm thần thời hiện đại thì hay được gán ghép với chữ syndrome của tiếng Anh nên mới có tiếng Việt là “hội chứng”. Còn “vàng” thì chẳng dính dáng đến SJC hay PNJ vì ở đây chỉ muốn ám chỉ “sự trân trọng thái quá mang tính bịnh lý chư hầu”.

Phàm trong thế giới hàn lâm có 7 quy chuẩn mặc định bất thành văn như sau về việc sử dụng tên riêng ngoại quốc trong tiếng nước mình:

1- Lập lại nguyên văn khởi thủy, và nếu thuộc loại mẫu tự đặc thù (Nga, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, v.v., và các chữ tượng hình như Nhật, Hàn, Ả, Tàu, v.v.) không hợp với bàn phím mẫu tự gọi là an-pha-bê chung nhất của nhân loại để cùng chung sống hòa bình trong cùng một bài viết trong một tác phẩm hay tờ báo thì cứ xem tiếng Anh viết sao thì sử dụng y như vậy. Thí dụ anh hùng tình báo kiệt xuất của Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến là Николай Иванович Кузнецов người mà nhân loại đã, đang, và sẽ phải mõi mòn chờ đợi đến năm 2025 mới được tiếp cận tài liệu tối mật và đầy đủ về Ông, thì Việt Nam ta cứ dùng cách viết tiếng Anh là Nikolai Ivanovich Kuznetsov hoặc gọi tắt là Kuznetsov trong tiếng của ta.

2- Lập lại nguyên văn khởi thủy, và nếu thuộc loại mẫu tự như Tiếng Việt rất hợp với bàn phím mẫu tự gọi là an-pha-bê chung nhất của nhân loại để cùng chung sống hòa bình trong cùng một bài viết trong một tác phẩm hay tờ báo thì cứ việc loại bỏ hết các dấu sắc-huyền-hỏi-ngã-nặng vì các dấu này không có trong cái chung nhất ấy. Thí dụ Hồ Chí Minh thì nước ngoài cứ viết Ho Chi Minh trong tiếng của họ.

3- Cách bình dân nhất tại quốc gia nào chưa cho là mình đã xóa nạn mù chữ, có các chương trình cải cách giáo dục liên tục gần nửa thế kỷ mà người học tiếng Anh vẫn không thể nói và viết (thiên hạ ở Việt Nam than thở hoàn toàn sai rằng sinh viên tốt nghiệp ban Anh Văn không nói được tiếng Anh, thật ra họ không nói được và không viết được, mà viết là quan trọng nhất) được dù có hàng triệu cơ sở dạy tiếng Anh, có bao phương tiện học tiếng Anh, v.v. và v.v., thì cách thứ phẩm là Việt hóa phiên âm tên nước ngoài. Thí dụ anh hùng tình báo Liên Xô trong Đệ Nhị Thế Chiến là Николай Иванович Кузнецов người mà nhân loại đã, đang, và sẽ phải mõi mòn chờ đợi đến năm 2025 mới được tiếp cận tài liệu tối mật và đầy đủ về Ông, thì Việt Nam cứ vô tư đổi thành Cu Dơ Nhét Xốp [2].

4- Trường hợp hồi xửa hồi xưa người Việt ít người theo đuổi Tây học đến nơi đến chốn nên khinh khi gọi cách của điều 3 là nhà quê, và e thẹn né dùng cách của điều 1 vì sẽ bị dân chúng nhạo là mất gốc, cái gì cũng xổ tiếng Tây, nên dĩ hòa di quý, nghía xem mấy thằng bên Tàu gọi là gì thì mình cứ thế mà Hán-Việt đề huề cho xong. Thí dụ Montesquieu thì sợ bị quê nếu gọi là Mông Tét Kỳ Ơ,  nên nghe Chệt bảo 孟德斯鳩 thì hí hửng nhại theo thành Mạnh Đức Tư Cưu.

5- Khi cực chẳng đã buộc phải bó tay không áp dụng được 4 chuẩn trên thì vẫn phải biến hóa làm sao cho tên mới trong tiếng nước mình phải có âm trùng với âm khởi thủy. Thí dụ Beijing -  Peking  – Bắc Kinh.

6- Khi cực chẳng đã buộc phải bó tay không áp dụng được 5 chuẩn trên, chẳng hạn do tên hoặc ngắn ngủn quá hoặc dài thườn thượt quá như The United States of America rất dễ đánh máy nhầm khi theo điều 1, tự ái dân tộc nếu theo điều 4, còn theo điều 3 thì quê khủng khiếp (thí dụ: đã đảo đế quốc Dờ Du Nai Tít Sờ Tết Ốp A Mê Ri Ka), trong khi điều 5 cũng bất khả thi (thí dụ: tổng thống nước Du Nam Tích Sơn Tất Ô Ái Mễ Trí Ca), thì có thể tùy ý đặt tên dựa theo một vật thể (lá cờ có nhiều sao = lá cờ như nở hoa = nước Hoa Kỳ) hay một sự thán phục dành riêng (nước này đẹp quá xá = nước Mỹ) [3].

7- Nhưng gì thì gì, tuyệt đối cấm dịch tên tiếng nước ngoài ra tiếng nước mình. Với tên lãnh tụ Hồ Chí Minh, thế giới không được phép gọi thành Mr Bright hay Mr Morning hay Mr Dawn hay Mr Smart trong tiếng Anh. Với tên quốc gia Ivory Coast, Việt Nam không được phép gọi là Bờ Biển Ngà trong tiếng Việt. Nếu Ivory Coast (tức Côte D’Ivoire) biết Việt Nam vi phạm điều này, bạn nghĩ sao nếu họ cũng vi phạm và gọi Việt Nam là Viet South hay South Viet?

Từ những điều rất hàn lâm, rất đơn giản, rất dễ hiểu, rất dễ nhớ nêu trên, ta thấy những hợp lý sau đối với tên riêng của mấy anh Tàu, trên nền mặc định rằng người Anh lắng nghe âm phát của tiếng Tàu rồi ghi lại bằng tiếng Anh, nên ta lấy tiếng Anh làm đối tượng để so ra Tiếng Việt:

1) Nhóm hơi hợp lý vì có ít nhất 2 âm trong tổng 3 âm nghe giống trong 2 thứ tiếng Anh và Việt (lẽ ra là 3 vì đã mặc định tiếng Anh ghi lại đúng âm phát ra từ tiếng Tàu):

Zhou Enlai   -   Chu Ân Lai

Deng Xiaoping  -  Đặng Tiểu Bình

Deng Yingchao  -  Đặng Dĩnh Siêu

Hua Guofeng  -  Hoa Quốc Phong

Hu Yaobang  -   Hồ Diệu Bang

Liu Shaoqi   -   Lưu Thiếu Kỳ

Mao Zedong  -  Mao Trạch Đông

Tên gọi bằng tiếng Việt như liệt kê ở trên cho thấy sự manh nha của “hội chứng vàng” nghĩa là tên tiếng Việt của các lãnh đạo “anh em” Tàu vĩ đại phải được thể hiện sao cho thật đẹp thật quý như “vàng”,  và trên cơ sở quy chuẩn hàn lâm quốc tế cũng như nhóm hợp lý cho thấy đã tuân thủ tuyệt đối điểm 7 tức là không được dịch thuật ra tiếng nước mình, ta thấy có ai đó đã đẻ ra các tên trên bằng cách gán cho chúng những từ tuyệt đẹp của tiếng Việt, thay thế cho “nguyên tác” Du Ển Lai nghe ỏn ẻn cà ển cà ển quá, Đen Xạo Bình nghe đen đủi xạo xự quá, Được Dính Chấu nghe xui xẻo quá, Hứa Gô Phéng nghe giống như hứa lèo rồi chuồn (go = đi) vì quên (phéng) trả nợ quá, Hù Dáo Bang nghe cứ như dân ăn xin nhìn dáo dác khi bị hù quá, Líu Xạo Kỳ thì đúng là nói xạo kỳ quá đến líu lưỡi, và Mao Dê Đồng nghe cứ như là lông mao cứng của loài dê thua xa dê núi vậy.

2) Nhóm bất hợp lý vì chỉ có 1 âm trong tổng 3 âm nghe giống trong 2 thứ tiếng Anh và Việt :

Li Xiannian   -   Lý Tiên Niệm    ( Li # Lý)

Jia Quinlin    -   Giả Khánh Lâm  (Jia # Giả)

Yu Zhengsheng  -  Du Chính Thanh  (Yu # Du)

Jiang Zemin   -  Giang Trạch Dân  (Jiang # Giang)

Hu Zintao  -   Hồ Cẩm Đào     (Hu # Ho) 

Chen Duxin  -   Trần Độc Tú  (Chen # Tran)

Ye Jianying  -   Diệp Kiếm Anh  (Ye # Diệp)

Zhao Ziyang  -   Triệu Tử Dương  (yang # Dương)

Khi Hội Chứng Vàng ở mức trầm trong, người ta bỏ luôn sự hóa trang cần thiết, khiến sáng tạo tên gọi chỉ cần có 1 âm giống cho mỗi tổ hợp tên có tổng 3 âm, thí dụ ở trên như Yu Zhengsheng thành Du Chính Thanh chỉ cần giống tương tự (#) mỗi chữ Yu với chữ Du.

Cũng vì vậy mà phát sinh vấn nạn lịch sử ngôn ngữ học Việt Nam: ai đẻ ra “Tập Cận Bình”?

Trong tiếng Anh, thằng Tàu đang khua môi múa mép muốn thôn tính Việt Nam có tên Xi Jinping. Nếu gọi hắn bằng tên tiếng Anh thì Xi Jinping chẳng có gì đáng bàn, vì theo đúng chuẩn 1. Nhưng nếu tự nhận Việt Nam là quốc gia dạy tiếng Anh trật lất và người Việt không ai muốn học tiếng Anh còn nước Việt tất cả các trung tâm ngoại ngữ đều vắng hơn Chùa Bà Đanh thì có thể Việt Hóa Phiên Âm thành Xí Dính Bùn hay Xì Dô Bình (tức Xịt Vô Bình). Đó mới là Tiếng Việt của tên mẹ đẻ của vị lãnh đạo Trung Quốc hiện nay. Còn “Tập Cận Bình” là tên của đứa vớ vẩn nào?

Tàu gởi cho mười sáu chữ. Và Hội Chứng Vàng đã khiến xảy ra việc gắn vô thêm chữ “vàng” cho báu, thành “mười sáu chữ vàng”.

Máu Dê Đồng biến thành Mao Trạch Đông cho thêm “quý”.

Xì Dính Bùn biến thành Tập Cận Bình cho thêm “báu”.

Hỡi các vị uyên thâm tháp ngà, tiếng Việt ta rất quý và rất báu. Đừng tự tung tự tác tự tiện tự ý đem gắn lên mình loài cẩu trệ.

Nếu còn có tự ái dân tộc, hãy dùng tiếng Anh của tên gọi bọn Tàu, để tự an ủi rằng người Việt ta đây đâu thèm bận tâm phí thì giờ viết tên chúng ra bằng tiếng Việt. Mà nếu dùng tiếng Việt thì phải cư xử công bằng, lẽ nào anh hùng Liên Xô Kyznetsov thì vô tư Cu Dơ Nhét Xốp thay vì nên là … Quốc Nhã Xuân, còn tên giặc Tàu Xi Jinping thì biến hóa thành Tập Cận Bình thay vì nên là Xì Dính Bùn? Đạo lý thuần Việt đâu có cho phép như thế.   

Các thắc mắc và cần tư vấn về tên gọi trong đối ngoại bảo đảm tính hàn lâm quốc tế, ngữ nghĩa tu từ và đạo lý nhân luân Đại Việt Nam, xin liên lạc với

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 19-02-2013. ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

[2] Hoàng Hữu Phước. 31-8-2011. Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài

[3] Hoàng Hữu Phước. 18-6-2010. Tham luận: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

Thông Báo Về Blogs của Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Do trang web Emotino.com nơi tôi gần chục năm qua từ 2011 trở về trước đăng hàng ngàn bài viết của tôi trên đó bị kẻ đạo tặc tay sai bọn chống Việt Nam cay cú trước bài tôi ấn đầu cái đài BBC bá láp xuống bùn nhơ, giả vờ vì chống bài “Tứ Đại Ngu” của tôi nên lẻn vào web ấy xóa bài này rồi nhân tiện xóa luôn bài về BBC, tôi đã phản ứng bằng cách chấm dứt đăng bài ở Emotino.com và chủ động lập ra hhphuoc.blog.com và nhiều blogs khác cũng tại web nền blog.com vừa để đăng bài mới, vừa để dần dần đăng lại các bài trước đó đã xuất hiện ở Emotino.com. Sau đó, để vô hiệu hóa bọn đạo tặc, tôi lập ra một blog đi kèm, gọi là blog đồng hành, tại wordpress.com để bảo đảm các bài mới của tôi xuất hiện ở hhphuoc.blog.com sẽ đồng thời hiện diện tại đấy.

Do trang Blog.com dù từng được đánh giá rất cao đã luôn gặp sự cố trong hơn nửa năm qua khiến rất đông người bất mãn và tỏ ý bỏ sang trang web khác (như có thể kiểm chứng tại www.isitdownrigntnow.com), và trong đa số các trường hợp “down” thì mọi người vẫn có thể vào blog.com để đọc bài nhưng chủ nhân của blog không thể vào để đăng bài mới hoặc tiến hành những thay đổi trong thẩm quyền.

Vì lý do trên, tôi sẽ chuyển đăng bài lên http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/

trước rồi mới tải lên http://hhphuoc.blog.com thay vì ngược lại như từ trước đến nay. Mong các bạn quan tâm đến blog này của tôi từ nay xin vào wordpress.com trước để tìm đọc các bài viết mới của tôi.

Ngoài ra, để tiện cho sự chủ động theo dõi của các bạn, tôi xin cung cấp danh mục sau tại tất cả các blog hiện hành của tôi, để các bạn nếu quan tâm đến tựa đề nào, chỉ cần click “chuột” vào tựa đề ấy sẽ được liên kết đưa thẳng đến bài ấy ở blog chứa chính, hoặc có thể copy lưu bài viết này vào một bản Word Document để lưu và khi cần tham khảo bài nào, có thể vào internet rồi nhấp “chuột” vào tựa đề của bài viết ấy trong bản Word lưu để vào blog chính.

Danh mục này sẽ tuần tự cho các blog và số bài hiện có tính đến ngày 11-7-2014 như sau:

1)  WordPress (Blog đồng hành với hhphuoc.blog): 53 bài

2)  Antichina (Hoàng Hữu Phước và tình cảm dành cho Trung Quốc): 21 bài

3)  Hhphuoc (Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước):  113 bài

4)  Hoanghuuphuocteachers (Hoàng Hữu Phước và các Thầy Cô kính yêu): 13 bài

5)  Hoanghuuphuocvietnam (Hoàng Hữu Phước vì Việt Nam): 17 bài

6)  Hoanghuuphuocthamluan (Các tham luận hội nghị của Hoàng Hữu Phước): 10 bài

 

 

1)   Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường

2)   Vững Tâm Kiến Quốc July 16, 2014

3)   Trình Độ Trương Trọng Nghĩa July 8, 2014

4)   Sát Tàu July 7, 2014

5)   Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm” July 1, 2014

6)   Dương Khiết Trì Run Sợ June 22, 2014

7)   Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì June 18, 2014

8)   Lại Trí Thức! June 9, 2014

9)   Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội May 31, 2014

10)   Luật Biểu Tình May 26, 2014

11)   Biểu Tình và Ô Danh May 20, 2014

12) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011 May 18, 2014

13) Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc May 11, 2014

14) Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 April 29, 2014

15) Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! April 20, 2014

16) Nước Mỹ Vỡ Vụn March 29, 2014

17) Mít-xtơ Xương Xẩu March 27, 2014

18) Thế nào là Tự Do – Dân Chủ March 24, 2014

19) Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên March 17, 2014

20) Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân March 7, 2014

21) Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn, Bảo Tàng March 2, 2014

22) Tức Ảnh Đề Thơ February 22, 2014

23) Nước Mỹ Bất Hạnh February 15, 2014

24) Thế Nào Là Nhà Trí Thức February 14, 2014

25) Thế Nào Là Sử Gia February 5, 2014

26) Tết Mậu Thân 1968 January 28, 2014

27) Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học January 26, 2014

28) NHỮNG LẬP LUẬN KỲ QUÁI CỦA NGƯỜI TỰ XƯNG LÀ TS TRẦN MINH HOÀNG

29) Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba January 25, 2014

30) Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

31) Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992 November 26, 2013

32) Về thực quyền, thực uy November 26, 2013

33) Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi) November 26, 2013

34) Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn 35) Bài phỏng vấn: Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

36) Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ November 22, 2013

37) Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện

38) Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng November 9, 2013

39) Đại tướng Võ Nguyên Giáp October 26, 2013

40) Tôi Và Philipp Rösler September 30, 2013

41) Tôi và Bùi Giáng September 17, 2013

42) Amari TX – Anh là ai? August 31, 2013

43) Tôi và Lê Hiếu Đằng August 29, 2013

44) Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ August 23, 2013

45) Hội Chứng Bầy Đàn August 20, 2013

46) Mạng Xã Hội August 14, 2013

47) Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Tình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân August 4, 2013

48) Chất Lượng Giáo Dục ở Việt Nam August 2, 2013

49) Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp July 25, 2013

50) Báo Sài Gòn Giải Phóng July 21, 2013

51) Thùng Nước Đá và Blog July 14, 2013

52) Tuyệt Thực July 2, 2013

53) Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình  June 5,2013

54) Bài phát biểu của Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội về Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992  55) Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?  May 18, 2013

 

 

 

1)  Văn Tế Tướng Tàu La Viện

2)  Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn

3)  Ngày Tận Thế 21-12-2012 – Biện Luận Của Lăng Tần Hoàng Hữu Phước

4)  Thực Phẩm Trung Quốc: Tại Sao?

5)  Hoa Tàu

6)  Giặc Tàu Mọi Rợ

7)  Tấm Bản Đồ Mới Của Việt Nam: Hé Màn Một Sự Thật Lịch Sử

8)  Siêu Nhân và Tồi Nhân

9)  Ngộ Số

10) Luật Biển Việt Nam

11) Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu

12) Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN

13) Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn

14) Tết 2012: 33 Năm, Một Lời Thề

15) Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino

16) Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê

17) Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt

18) Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình

19) Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại  June 27, 2011

20) 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075 – 30/4/1975   June 27, 2011

21) Trăm Trứng – l‎ý giải mới cho một tích cũ   June 27, 2011

 

 

 

 

1)    Trình Độ Trương Trọng Nghĩa

2)    Sát Tàu

3)    Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm”

4)    Dương Khiết Trì Run Sợ

5)    Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì

6)    Lại Trí Thức!

7)    Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội

8)    Luật Biểu Tình

9)    Biểu Tình và Ô Danh

10)  Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

11)  Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc

12)   Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016

13)  Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!

14)  Nước Mỹ Vỡ Vụn

15)  Mít-xtơ Xương Xẩu

16)  Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

17)  Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên

18)  Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân

19)  Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng

20)  Tức Ảnh Đề Thơ

21)  Nước Mỹ Bất Hạnh

22)   Thế Nào Là Nhà Trí Thức

23)   Thế Nào Là Sử Gia

24)   Nhân Quyền Việt Nam

25)   Tết Mậu Thân 1968

26)   Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

27)   Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng

28)   Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba

29)   ĐỀ XUẤT MỘT THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA CHO VIỆT NAM

30)   Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

31)   Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992

32)   Về thực quyền, thực uy

33)   Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi)

34)   Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

35)   Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

36)   Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ

37)   Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện

38)   Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng

39)   Đại tướng Võ Nguyên Giáp

40)   Amari TX – Anh là ai?

41)   Tôi và Lê Hiếu Đằng

42)   Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

43)   Hội Chứng Bầy Đàn

44)   Mạng Xã Hội

45)   Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

46)   Chất Lượng Giáo Dục ở Việt Nam

47)   Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp

48)   Báo Sài Gòn Giải Phóng

49)   Thùng Nước Đá và Blog

50)   Tuyệt Thực

51)   Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình

52)   Bài Phát Biểu của Hoàng Hữu Phước về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992

53)   Giới Thiệu Blog Mới

54)   Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

55)   Lễ Chiến Thắng

56)   Luận Về “Đa Đảng”

57)   Giới thiệu Blog Mới (3): Hoàng Hữu Phước và Tình Cảm Dành Cho Trung Quốc

58)   Giới Thiệu Blog Mới (2): “Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô”

59)   Giới Thiệu Blog Mới (1): Hoàng Hữu Phước Và Các Tham Luận

60)   “Gia Tộc Họ Lại Hòa Cùng Niềm Tự Hào Dân Tộc”

61)   TRÚC BỊ UNG THƯ PHÓNG VIÊN QUỐC THANH Ạ

62)   ĐAU LÒNG CHO PV QUỐC THANH -TUỔI TRẺ

63)   ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

64)   Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt

65)   Món Quà Mùa Tết 2013 Của Độc Giả Emotino

66)   Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức –

67)   Chú Cháu Gặp Nhau Tại Nghị Trường Quốc Hội: Tôi Và Hành Trình 55 Năm Tìm Thấy Cội Nguồn

68)   Hiến Pháp Và Bất Ổn Xã Hội

69)   Tôi Và Một Công Dân Cộng Hòa Hồi Giáo Iran

70)   Khi Bạn Cần Khiếu Tố, Khiếu Nại

71)   Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

72)   Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

73)   Là công dân, phải tuân thủ luật pháp quốc gia

74)   Cách Chính Xác Để Biết Việt Nam Giàu Đẹp Đến Dường Nào

75)   Mở Rộng Tầm Mắt Với Bậc Tài Hoa: Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc

76)   Tham Nhũng

77)   Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại và Tương Lai

78)   Giới Thiệu Những Bài Viết Mới

79)   Thư Của Cháu Nguyễn Thanh Hải

80)   Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII

81)   Bài Viết Đặc Sắc Về Dân Trí, Biểu Tình, và Chống Ngoại Xâm

82)   Cử Tri Và Luật Biển

83)   Luật Biển Việt Nam

84)   Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn

85)   Malaysia Thông Qua Luật Cấm Phản Đối Trên Đường Phố

86)   Chụp Mũ

87)   PHÁT BIỂU VỀ LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

88)   PHÁT BIỂU VỀ LUẬT GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

89)   PHÁT BIỂU TẠI QUỐC HỘI VỀ LUẬT BIỂU TÌNH & LUẬT LẬP HỘI

90)   Trả Lời Phỏng Vấn

91)   Chính Trị: Trả Lời Câu Hỏi Của Độc Giả Emotino

92)   Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Và Công Tác Giám Sát     

93)  Ông Trương Tấn Sang

94)  Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Trước Đây Về Đất Nước – Bản Tiếng Anh

95)  Nhân Quốc Khánh Nước Nhà, Tải Đăng Bài Viết Trước Đây Về Đất Nước  

96)   Vài Thông Tin Về Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp Hồ Chí Minh

97)   Luận Về Sửa Đổi Hiến Pháp Việt Nam  

98)    “Quốc hội không phải nơi vui chơi!”

99)   Đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước: Gắng làm những điều đã hứa

100) Giữ lời hứa với cử tri

101) Cải cách hành chính

102) Quốc hội không có chỗ cho lợi ích cục bộ

103) Doanh nhân tự ứng cử Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội khóa XIII: Nói phải đi đôi với làm

104) Chung Một Tấm Lòng

105) Tôi muốn đem sức, lực của mình cho dân và vì dân

106) Chống Tham Nhũng

107) ThS. Hoàng Hữu Phước ứng cử viên ĐBQH Khóa XIII: Đủ “lực” đứng trên diễn đàn…

108) Tự ứng cử để phục vụ đất nước

109) Bài Phát Biểu Vận Động Bầu Cử Trên Đài Truyền Hình HTV9 của Ứng cử viên Đại Biểu Quốc Hội khóa XIII Hoàng Hữu Phước

110) Chương Trình Hành Động

111) LÝ LỊCH CHI TIẾT

112) TÓM TẮT TIỂU SỬ

113) Đại biểu quốc hội phải biết lo trước cái lo của người dân

 

 

 

1)   Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

2)   Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

3)   Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

4)   Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại và Tương Lai

5)   Phong Cách Người Thầy

6)   Lời Ngỏ Cùng Học Sinh

7)   Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy

8)   Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

9)   Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Lịch Sử

10) Khiêm Tốn

11) Bí Quyết Thành Công

12) Cảm Ơn Học Trò

13) Lời Động Viên Luôn Cần Thiết Cho Đời

 

 

 

1)   Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức

2)   Ngày Tận Thế 21-12-2012 – Biện Luận Của Lăng Tần Hoàng Hữu Phước –

3)   Kết Quả Bầu Cử Tổng Thống Mỹ 2012

4)   Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không?

5)   Trách Nhiệm Đối Với Sinh Mạng Người Dân – Tầm Nhìn Và Sự Chính Trực Của Một Nhà Ái Quốc

6)   Là công dân, phải tuân thủ luật pháp quốc gia

7)   Mở Rộng Tầm Mắt Với Bậc Tài Hoa: Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc

8)   Thùng Nước Đá và Blog

9)   Nhân đọc bài “Hãy hành xử cho đúng đạo làm người!”

10) Hoàng Hữu Phước Thử Vẽ Lại Bản Đồ Việt Nam

11) Phố Bolsa TV(California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII

12) Danh Mục 337 Bài Đã Đăng Trên Emotino Từ Năm 2008

13) Tôi Và Các Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa

14) Hỡi Quân Đội Mỹ, Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất Dạy Về Nhân Quyền

15) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Phố Bolsa TV (California, USA)

16) Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

17) Thơ Ca Và Tâm Thế Nhà Lãnh Đạo Doanh Nghiệp

 

 

1)   THAM LUẬN: Cụm Ngành Nông-Lâm Trong Chiến Lược Phát Triển Tam Nông

2)   THAM LUẬN: Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

3)   THAM LUẬN: Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

4)   Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Ít Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

5)   Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài

6)   Silo – Vấn Đề Lõi Của Phát Triển Tam Nông

7)   Tư Vấn Miễn Phí: PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGÀNH THỰC PHẨM “KHÔ” & “SẤY KHÔ”

8)   Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc” Rượu Tỏi

9)   Luận Về Trái Cây Việt Nam

10) Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam

 

Xin cảm ơn sự quan tâm của các bạn.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Góp Ý Với Hội Đồng Nhân Dân Tp HCM Về Tên Đường

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong bài nói về Trương Trọng Nghĩa [1] tôi có viết rằng khi có thông tin quan trọng cấp thiết thì Đại biểu Quốc hội có thể viết ngay văn bản kiến nghị gởi trực tiếp hoặc bằng email nội bộ từ địa chỉ email cá nhân của mỗi Đại biểu Quốc hội (ở dạng ….@qh.gov.vn) đến lãnh đạo Quốc hội (cũng ở dạng ….@qh.gov.vn) thay vì chờ đợi đến Kỳ họp (trừ phi Kỳ họp rất cận kề) rồi khi đến Kỳ họp lại phải chờ đến lúc tới phiên họp toàn thể ở hội trường và thấy có sự tham dự của phóng viên các báo đài mới nhanh tay nhấn nút chiếm một trong 20 suất phát biểu để nói lên cái gọi là quan trọng cấp thiết ấy.

Còn trong bài Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 [2] tôi có liệt kê rất nhiều kiến nghị và góp ý tôi thể hiện bằng văn bản gởi Lãnh đạo Quốc hội, Lãnh đạo Nhà nước & Chính phủ, Lãnh đạo các Bộ, Lãnh đạo Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, thậm chí liệt kê cả những kiên nghị và góp ý gởi Lãnh đạo Đảng và Nhà nước do nhân viên của tôi thể hiện bằng văn bản dưới sự động viên khuyến khích của tôi, mà đa số các kiến nghị này thuộc loại nhạy cảm khó thể tiết lộ ra ngoài.

Mới đây tình cờ thây TV có nói loáng thoáng gì đó hoặc điểm báo gì đó phê phán việc tên tiếng nước ngoài được sử dụng tại Việt Nam, tôi lấy làm tiếc trước sự quái gở lạc hậu của những kẻ phê phán, ắt họ chưa đọc bài Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không [3] của tôi, nên nhân đây tôi đăng nguyên văn và toàn văn bức thư tôi đã gởi “khẩn” cho Hội Đồng Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh mà tôi có nêu trong bài Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016 nói trên. “Khẩn” vì nguyên khi tôi dự lễ khai mạc Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh  Khóa VIII sáng Thứ Hai 09-12-2013, tôi có nhận được tài liệu hội nghị, và tôi ngạc nhiên khi đọc bản dự thảo nghị quyết về đặt tên đường mới ở Thành phố Hồ Chí Minh vì thấy tuy đã qua nhiều buổi thảo luận góp ý của Thành phố để có kết quả là bản dự thảo nghị quyết, nó vẫn còn quá nhiều sai sót, nhiều điểm gây tranh cãi, và nhiều điều nên xem xét thêm. Tôi đã khẩn cấp viết bản sau để gởi khẩn cho Hội Đồng Nhân Dân, thay vì đòi… phát biểu tại hội trường đang trực tiếp truyền hình, có sự tham dự của phóng viên báo chí, phá hỏng tính uy nghiêm của đại sự uy tín Hội đồng Nhân dân trước cử tri toàn thành, chỉ vì muốn vừa đánh bóng vá nhân vừa cho báo chí cùng phe một cơ hội “câu view”.

****

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 12 năm 2013

Kính gởi : Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Đồng kính gởi: Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp Hồ Chí Minh

Bản sao kính gởi:

-          Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh

-          Lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh

-          Tổ Đại biểu Quốc hội Tp Hồ Chí Minh, Đơn vị 1

-          Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội

V/v.: Thư góp ý khẩn cấp về Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Báo cáo số 790/BC-VHXH ngày 05-12-2013 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm tra tờ trình nói trên.

Kính thưa Quý lãnh đạo:

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh,

Qua tham dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ 12 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh  Khóa VIII sáng Thứ Hai 09-12-2013, và tham khảo Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xin kính gởi đến Quý Lãnh đạo các ý kiến đóng góp khẩn cấp theo thứ tự nội dung sau:

A- Về 8 Tên Nhân Vật Người Nước Ngoài:

1- Những điểm không đúng và các kiến nghị (về xem xét lại sự lựa chọn, và phương pháp viết tên):

a) Marie Cuirie: Tên viết đúng phải là Marie Curie (tên đầy đủ là Marie Sklodowska-Curie) và thích hợp theo cách dùng của tên tiếng Anh.

b) Nêru. J – Jawaharlãl Nehru: Tên viết đúng nên là Jawaharal Nehru vì kiểu Việt hóa phiên âm thành Nêru không nên tiếp tục tồn tại ở Việt Nam trong thế kỷ XXI này, nhất là khi các tên khác trong danh mục của tờ trình lại không ở dạng Việt hóa phiên âm tương tự. Đồng thời loại bỏ dấu ngã trên chữ cái “a” như thể hiện trong báo cáo, để cho đúng theo cách dùng của tên tiếng Anh.

c) Hô-xê Mác-ti: Việc Việt hóa phiên âm này là điều không nên tiếp tục tồn tại như trường hợp ở trên của “Nêru”. Dù tên viết bằng tiếng bản xứ của nhân vật này là José Martí với hai từ và mỗi từ có một dấu sắc (tên đầy đủ là José Julián Martí Pérez tức là có bốn từ và mỗi từ đều có một dấu sắc) thì chúng ta cũng nên sử dụng cách viết trong tiếng Anh là Jose Marti. Đặc biệt nên chấm dứt kiểu phiên âm cho đúng với bản ngữ đặc thù thí dụ Mê-hi-cô, vua Hoan Các-lốt, Hô-xê, v.v., thay vì sử dụng tiếng Anh chung với toàn nhân loại là Mexico, vua Juan Carlos, Jose, v.v. Lập luận một cách khác: từ “Hồ Chí Minh” ở tiếng Việt không bao giờ được phát âm đúng ở tiếng Nga (phiên âm thành “khô-si-min”) vậy thì Việt Nam không có lý do gì lại phải tự trói buộc rằng mình phải phát âm (thậm chí viết ra cho giống y như cách phát âm) cho đúng ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đối với chữ cái “J” trong Jose và Juan, thành Hô-xê và Hoan, v.v…

d) Kovalevskaya: Trong khi tên của những nhân vật khác được viết quá đầy đủ thì tên của nữ nhân vật này lại bị bỏ hết phần tên và chữ lót. Tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya theo kiểu dùng tiếng Anh viết lại y cách phát âm tiếng Nga Со́фья Васи́льевна Ковале́вская. Đây là trường hợp củng cố lập luận đối với Hô-xê Mác-ti ở trên, nghĩa là khi chữ cái một ngôn ngữ – ở đây là tiếng Nga – không thể được thể hiện bằng bàn phím của đa số nhân loại, người ta chấp nhận sử dụng cách ghi tên theo tiếng Anh. Ngoài ra, đối với trường hợp của Sofia Kovalevskaya cần phải để ý thêm đến chi tiết Bà thích dùng tên Sophie Kowalevski (hay Sophie Kowalevsky) trên tất cả các tác phẩm nghiên cứu của Bà và đó cũng là cách giới khoa học quen viết về tên Bà, nên cần cân nhắc lựa chọn giữa việc “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga thành tên tiếng Anh Kovalevskaya” hay “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga để cho ra Kowalevski/Kowalevsky thuần Anh.” Diễn giải theo cách khác, nếu chúng ta “dùng tiếng Anh phiên âm tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga thành tên tiếng Anh Moskva” thì e là đa số nhân loại không hiểu ta đang nói về ai hay về cái gì, nhưng nếu ta “dùng cách viết thuần tiếng Anh đối với tên tiếng Nga của thủ đô nước Nga để cho ra Moscow” thì đa số nhân loại sẽ hiểu ngay. Vì vậy, trong trường hợp này, tôi đề nghị nên xem xét sử dụng Sophie Kowalevsky (hoặc Sophie Kowalevski) là tên danh chính ngôn thuận của Bà khi dời sang sống và làm việc ở Đức và Thụy Điển.

e) Albert Bruce SabinRobert Koch tuy là hai nhà y học có công lớn đối với nhân loại (Sabin chế tạo ra vắc xin ngừa bại liệt, còn Koch tìm ra vi khuẩn bịnh than, bịnh tả, và bịnh lao), nhưng vẫn dễ gây tranh cải về vai trò của nhiều người cũng có tầm quan trọng tương tự như Alexander Fleming đã chế ra Penicillin hay các vị chế ra các thứ thuốc khác cho những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, dẫn đến yêu cầu có thể có nơi cử tri đối với việc đưa thêm nhiều tên tuổi y học khác cũng đoạt giải Nobel Y học như Koch vào danh sách này.

f) Jean Baptiste Louis Pierre: Xin xem lại trường hợp này vì nếu vị này có “công” xây dựng Thảo Cầm Viên Sài Gòn thì sẽ không tránh khỏi chất vấn rằng sau này sẽ có những đường phố mang tên các vị đã có “công” xây Nhà thờ Đức Bà, Nhà Hát Lớn, Vườn Tao Đàn, và tòa nhà Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.v.v..

2) Tôi xin giới thiệu thêm tên 7 nhân vật người nước ngoài thật sự có giá trị giáo dục cao, mang ý nghĩa chính trị lịch sử cách mạng Việt Nam sâu sắc

a) Francis Henry Loseby (Luật sư Anh đã làm thất bại âm mưu của chính quyền Hong Kong muốn giao nộp Nguyễn Ái Quốc cho thực dân Pháp)

b) Norman Morrison (Công dân Mỹ tự thiêu ngày 02-11-1965 trước Ngũ Giác Đài, nơi làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, để phản đối Mỹ gây chiến ở Việt Nam. Norman là nhân vật trong bài thơ “Emily” của Tố Hữu)

c) Olof Palme (Thủ tướng Thụy Điển, ủng hộ Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ, bị ám sát ngày 28-02-1986). Tên đầy đủ là Sven Olof Joachim Palme

d) Jeffrey Glenn Miller (Nam sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

e) Allison B. Kraus  (Nữ sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

f) William Knox Schroeder (Nam sinh viên 19 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

g) Sandra Lee Scheuer  (Nữ sinh viên 20 tuổi của Đại học Kent, Hoa Kỳ, bị cảnh sát hạ sát ngày 04-5-1970 khi biểu tình chống sự xâm lược của Mỹ ở Việt Nam)

B- Về 19 Tên Nhân Vật Lịch Sử Trước Thế Kỷ XX:

- Vũ Phạm Hàm: Xin xem lại trường hợp này vì theo chú thích của Tờ trình thì vị danh sĩ này nhờ “quán” tờ báo “Đông Văn” nên được đánh giá là “tuy chưa bộc lộ rõ nét nhưng qua đó cũng đã thể hiện lòng yêu nước kín đáo của ông”. Tôi cho rằng nếu dựa vào chi tiết đây là vị thi đỗ thủ khoa Thi Hương và tiến sĩ Thi Hội và Thi Đình rồi làm quan thì nhất thiết phải đưa vào danh sách rất nhiều vị khoa bảng khác. Riêng ghi chú rằng ông có “nhiều tác phẩm được nhiều người tìm đọc và đánh giá cao” thì rất vô nghĩa do các nhà nho đều có các tác phẩm xướng họa thi văn, và vấn đề ở đây là chỉ có kiệt tác mới được đưa vào chương trình văn học ở các cấp lớp trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu thêm về danh sĩ này và viết lại nội dung về ông trong tờ trình để việc đề nghị dùng tên ông đặt tên đường mới không gây những phản ứng không có lợi từ cử tri.

C- Về 45 Tên Nhân Vật Lịch Sử Sau Thế Kỷ XX

Trần Sĩ Hùng: Kính đề nghị điều tra thêm về năm mất của vị anh hùng cách mạng này, vì ghi chú rằng ông “về nhận công tác ở Cục Bảo Vệ Chính Trị 1 – Bộ Công An cho đến khi nghỉ hưu” có thể sẽ gây ra thắc mắc vì sao Bộ Công An không biết cán bộ của mình mất lúc nào, và vì sao “nghỉ hưu” vốn liên quan đến nhiều cơ quan giải quyết chế độ chính sách mà không nơi nào biết vị này ở đâu, mất lúc nào, để lo việc hậu sự long trọng cho người anh hùng cách mạng này.

 

D- Về 27 Tên Nhà Nghiên Cứu, Nhà Hoạt Động Văn Hóa Nghệ Thuật, Khoa Học Kỹ Thuật:

1- Đề xuất cách lựa chọn:

a) Đối với các “nhà nghiên cứu, hoạt động văn hóa-nghệ thuật, khoa học-kỹ thuật” nên đặt ra các thang bậc để đánh giá những đóng góp (ưu tiên lựa chọn nhân vật thuộc bậc thang “cao”):

- Trung bình: làm tốt công việc chuyên môn, phẩm hạnh tốt

- Khá: phát triển được chuyên môn của bản thân có lợi cho nước cho dân và cho sự nghiệp giáo dục, văn hóa, kinh tế, v.v.

- Cao: rạng danh nước Việt Nam với thế giới (ở nước ngoài ngay cả một cá nhân ca sĩ hay một ban nhạc cũng có thể gây ảnh hưởng đến cả thế giới)

b) Đối với tác phẩm văn hóa phải theo cách nhìn nhận giá trị thông lệ là qua thử thách của thời gian bao nhiêu chục năm

2- Đề nghị xem lại các trường hợp sau:

a) Phạm Trọng Cầu: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

b) Thanh Nga: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

c) Út Trà Ôn: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng sự cống hiến của bản thân vị này đối với việc trực tiếp tác động hiệu quả cao vào sự phát triển âm nhạc nước nhà – đặc biệt làm vang danh âm nhạc Việt Nam ra thế giới – không rõ nét

d) Xuân Quỳnh: Vị này có những nổi bật về tài năng cá nhân, nhưng các tác phẩm  chưa qua thẩm định của đủ thời gian thông lệ để được nhìn nhận giá trị văn hoạc cũng như vị trí cao trọng trong văn học sử nước nhà để từ đó làm vẻ vang cho tên tuổi của tác giả.

E- Về 2 Tên Địa Danh:

Xin giới thiệu thêm tên địa danh:

- Phong Nha : đây là nơi được Hiệp Hội Hang Động Hoàng Gia Anh Quốc đánh giá là đẹp nhất thế giới và được tạp chí National Geographic phát hành số chuyên khảo giới thiệu với nhân loại. “Làm rạng danh Việt Nam trên thế giới” cũng nên là tiêu chuẩn xét đưa vào danh sách tên đặt cho đường phố ở Thành phố Hồ Chí Minh.

F- Kiến Nghị:

Kính đề nghị Quý Lãnh Đạo Thành phố Hồ Chí Minh cho phép tôi được tham gia tham khảo đóng góp ý kiến đối với những chương trình, dự tính, dự án, của địa phương về kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, học thuật, an ninh-trật tự, v.v., nếu không thuộc loại tối mật của Thành phố, để giúp được nhiều hơn cho Thành phố.

Kính mong nhận được sự quan tâm của quý lãnh đạo.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh

****

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 08-7-2014. Trình độ Trương Trọng Nghĩa. http://hhphuoc.blog.com/?p=440

[2] Hoàng Hữu Phước. 29-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. http://hhphuoc.blog.com/?p=342 (hoặc tại http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/29/dai-bieu-quoc-hoi-hoang-huu-phuoc-bao-cao-voi-nhan-dan-cong-tac-nua-dau-nhiem-ky-2011-2016/ )

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Người Việt Tên Tiếng Anh: Tại Sao Không? http://hhphuoc.blog.com/?p=94

Vững Tâm Kiến Quốc

Từ Quan Lạc Đến Lạc Quan

Hoàng Hữu Phước, MIB

Kỳ họp 7 của Quốc hội Khóa XIII khai mạc ngày 20-5-2014 và bế mạc ngày 24-6-2014. Kỳ họp đã hoàn thành tốt đẹp đúng như chương trình nghị sự vốn trước đó đã được toàn thể Quốc hội điều chỉnh và thông qua ngày 30-5-2014.

Dù có sự ám áng của cuộc gây hấn côn đồ của Tàu ở Biển Đông và nhiệt độ khắc nghiệt của tiết trời lửa Hạ chốn Hà Thành, từng Đại biểu Quốc hội chân chính đã làm việc với trái tim sục sôi động nóng và cái đầu thái thư tĩnh lạnh. Mọi thứ đều đã được những người mà với vận mệnh quốc gia từ sự tín thác của nhân dân và yêu cầu của dân tộc, đã chuẩn bị chỉnh chu từ kế sách mang tính vĩ mô đã, đang, và đương nhiên sẽ lèo lái kinh tế trụ được qua các cơn bão táp tài chính toàn cầu dựa vào những hoạch định bởi những Đại biểu Quốc hội là chuyên gia kinh-tế-thực-địa có đầu óc chỉ quen với việc xử lý hiệu quả các vấn nạn chứ không có chiếc loa thiên phú của chuyên gia kinh-tế-tháp-ngà-thuộc-bài chỉ giỏi nhận diện khó khăn và lập danh mục liệt kê duy chỉ các khó khăn ấy, cho đến việc tung những quả đấm thép liên hoàn tuyệt diệu của chiêu thức ngoại giao cấp tập tấn công Tàu để làm ngời rạng uy danh uy tín cũng như chính nghĩa chính danh chính đạo quốc gia trên trường quốc tế; và từ những chiến lược chiến thuật chiến tranh mà Đảng và các tướng lĩnh trung kiên tức những con người giản dị giản đơn sinh ra chỉ để làm nhuần nhuyễn phần việc quen thuộc duy nhất và cực kỳ đơn giản là chiến thắng đã chuẩn bị giăng chất ngất thiên la bày đặc dày địa võng để chôn vùi giặc ngoại xâm xuống bùn nhơ vạn đại, đến việc thông qua hàng chục đạo luật để có các chế định làm tiền đề, làm sự thúc đẩy hoặc làm sự bổ sung cho động lực phát triển kinh tế, định hướng mới cho kinh tế trong thực tế nẽo cũ đã đến vũng cát lún lầy, uốn nắn các quy trình vì kinh tế để duy trì sản xuất, duy trì kinh doanh, duy trì đà hồi phục, duy trì sức rướn nội sinh – tất cả để đạt được điều vĩ đại nhất về nhân quyền, đẹp đẽ nhất về nhân quyền, lý tưởng nhất về nhân quyền, thực chất nhất về nhân quyền, được loài-người-trí-hóa-trí-tuệ-văn-minh-thời-hiện-đại công nhận: đó là quyền được sống trong hạnh phúc và mưu cầu hạnh phúc, mà nhờ thành quả này mà dân nghèo Việt Nam được xóa đói, hộ nghèo Việt Nam được giảm nghèo, còn đất nước Việt Nam được nhìn nhận và đón chào bởi cộng đồng quốc tế để có vị trí đầy vinh dự  trong Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc; và chuẩn bị sẵn nhiều những công việc khác để thực hiện trong Kỳ họp Thứ 8 vào tháng 10 năm 2014 này.

Tinh thần lạc quan cách mạng đã từ thực tế thực tiễn của đại cuộc dựng nước, vệ quốc và kiến quốc, cũng như từ kinh nghiệm chiến thắng trong quân sự, chiến thắng trong ngoại giao, chiến thắng trong kinh tế, chiến thắng trong trị quốc, chiến thắng trong an dân, đã biến thành phong cách chiến thắng , uy thế chiến thắng , sự vững tin vào chiến thắng , sự tự tin với chiến thắng , và khí thế chiến thắng như thể hùng khí non sông và sức mạnh lở đất long trời hấp thụ từ tổ tiên của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện tại cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Khí thế ấy, khí phách ấy, và sự hừng hực ấy, đã được ghi lại trong những bức ảnh sau về sinh hoạt Nghị trường Việt Nam trong chính tháng 5 và 6 rất nóng này của năm 2014, để bọn Tàu khiếp đảm khi thấy Đại biểu Quốc hội Việt Nam xem chúng như rác rưởi không đáng bận tâm, chẳng chút cau mày, cứ như thể con đường duy nhất để Tàu khỏi bị diệt vong là tháo chạy ngay khi còn sức chạy để khỏi chứng kiến con cháu Mẹ Âu Cơ noi gương Bà xuất diễn thần uy thi thố với sự quyết chiến quyết thắng của mưu lược từ tình yêu thương vô hạn dành cho Bố Lạc Long Quân và đàn con thời quốc gia khởi nghiệp [1].

 

Mỗi người chỉ cần làm thật tốt công-việc-mà-bản-thân-thiện-nghệ-kinh-qua-thực-tế-đã-chứng-minh, với tinh-thần-của-bậc-hiền-tài, trong khí-thế-của-người-chuyên-nghiệp, và trên nền-tảng-của-giá-trị-và-danh-dự-tổ tiên-gia-đình-đất-nước-đạo-lý-nhân-luân.

Làm thật tốt công-việc-mà-bản-thân-thiện-nghệ-kinh-qua-thực-tế-đã-chứng-minh nghĩa là bác sĩ lắng nghe mong muốn khẩn khoản của thân nhân bệnh nhân rồi sử dụng kiến thức tay nghề y khoa thích hợp nhất để cứu chữa bệnh nhân, còn thân nhân bệnh nhân không bao giờ dạy bảo bác sĩ phải thao tác ra sao, phải sử dụng thuốc gì, v.v., cho người bệnh. Hãy làm tốt công việc của bạn vì gia đình bạn và để đóng góp cho xã hội, trong đó có phần gián tiếp hỗ trợ cho việc dựng xây binh lực hùng mạnh để vệ quốc, trừng trị quân thù xâm lược. Hãy nêu mong muốn vệ quốc cho những lãnh đạo đất nước, và hãy để những tướng lĩnh làm công việc mà họ tinh thông cùng với các binh đoàn tinh nhuệ của họ, chứ đừng bao giờ tụ tập bầy đàn chuyền tay nhau ký kiến nghị dạy bảo Đảng và Lãnh đạo Nhà nước phải làm gì, thí dụ như phải ra Nghị quyết chống Tàu ra sao, phải nộp đơn kiện Tàu ở đâu, tức là những việc  vốn không bao giờ dành cho những thanh bảo kiếm khi rút ra chỉ để nhuốm máu quân thù, chém bay đầu giặc từ cỡ Toa Đô trở lên.

Làm việc với tinh-thần-của-bậc-hiền-tài, nghĩa là phục vụ Đảng, phục vụ Chính phủ, qua đó phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Đã là hiền tài, tức là phục vụ triều đình, làm cho dân hưởng được hồng ân của triều đình. Người Nhật du học ở Mỹ để về giúp hoàng gia xây dựng đất nước Nhật hùng mạnh, kinh tế Nhật hùng mạnh về kỹ nghệ. Và Nhật có vô số hiền tài. Người Việt nói nhiều về Phong trào Đông Du, ngợi ca những ai tổ chức ra phong trào ấy. Song vấn nạn sử học nan giải của Việt Nam dù mang tính thống kê đơn thuần là đã có bao nhiêu người được đưa sang Nhật theo phòng trào Đông Du, bao nhiêu người học được tức là có tiếp thu được và được tốt nghiệp, bao nhiêu người tốt nghiệp được đã trở về, và bao nhiêu người trong số tốt nghiệp trở về đã có cống hiến về xây dựng kỹ nghệ, công nghiệp quốc gia, sử liệu cá nhân của họ hiện được lưu trữ hay thể hiện ở pho sách nào và được dạy ở trường nào, v.v. Vì sao nhiều người Việt sang Mỹ học chỉ để về nước bắt đầu chống Cộng? Hay vì tính chất phổ biến của người Việt là không muốn thành bậc hiền tài [2] nên ngay khi học xong, lầm tưởng rằng mình đã vụt trở thành “trí thức”[3vĩ đại của một dân tộc u mê ít học chăng, bèn chỉ muốn chính mình lãnh đạo đất nước, mình phải ngồi trên đầu thiên hạ, mình phải không thuộc giới “cổ cồn xanh” của ngành công nghiệp kỹ thuật thấp kém lúc nào cũng gần dầu nhớt bẩn dơ, quyết làm “thầy” chứ không thèm làm “thợ”, và đặc biệt là không muốn làm việc dưới quyền người khác? Các bậc hiền tài Việt Nam xưa kia đã luôn phò vua giúp nước. Đó là chân lý muôn đời của bậc hiền tài. Những người Việt Nam lấy bằng thạc sĩ hay tiến sĩ luôn mồm mép vì dân để lấy dân làm bình phong đậy che cho sự phản loạn. Không “phò” ai thì tất nhiên là vì muốn làm loạn, muốn lật đổ. Cái đặc tính thuần Việt của một bộ phận khổng lồ người Việt đã khiến lượng du học gia tăng theo năm tháng nhưng thay vì gia tăng theo cấp số cộng số lượng bậc hiền tài lại gia tăng theo cấp số nhân số lượng giống bò nhai lại các luận điệu nhân quyền, dân chủ, tự do ngôn luận, và tích cực tham gia các phong trào đòi xã hội dân sự, đòi có luật biểu tình, chà đạp luật pháp quốc gia khi nheo nhéo đòi thả “tù nhân lương tâm” này, nhà “hoạt động dân chủ dân quyền” nọ, không “phò” Đảng thực hiện các chính sách kiến quốc an dân không phải vì thực tâm cho rằng Đảng không đúng mà chỉ đơn giản vì bản thân vừa bất tài học chẳng thành tài không đáng đánh giày cho nhưng du học sinh Nhật Bản xưa kia du học tại Mỹ, vừa vô hạnh vì đức hoặc mỏng hoặc không có mà chỉ muốn bản thân phải làm tổng thống, phải làm bộ trưởng, phải làm chủ tịch đảng chính trị của một cơ chế “đa đảng” [4] mà bản thân thì không hiểu, chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì không biết, và Mỹ thì không có [5].

Làm việc trong khí-thế-của-người-chuyên-nghiệp vì rằng xã hội hiện đại không dành cho những người khỏe mạnh nhưng không hề có “nhất nghệ tinh”; vì rằng nhu cầu lao động của xã hội luôn cần những người chuyên nghiệp; vì rằng đạo đức cao nhất của người chuyên nghiệp là tinh thần trách nhiệm, ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức tuân thủ quy định quy trình, sự hiểu biết về luật pháp có liên quan đến bản thân, nghề nghiệp, và lĩnh vực hoạt động; vì rằng người chuyên nghiệp tập trung phát triển nghề nghiệp chuyên môn nghiệp vụ chứ không lấn sân vào những lĩnh vực bản thân chưa qua đào tạo, chưa có kinh nghiệm; và vì rằng đã mang tính chuyên nghiệp thì luôn biết đối tượng mình phải phục vụ là ai và sử dụng cái “nhất nghệ tinh” của mình trong phục vụ ra sao để có hiệu quả nhất. Không trong tư thế của người chuyên nghiệp, sẽ mãi với gánh nặng dè bỉu của “bất khả tư nghị” mà sự ủng hộ – nếu có – chỉ đến từ những bầy đàn tương tự hay tương cận mà thôi.

Còn làm việc trên nền-tảng-của-giá-trị-và-danh-dự-tổ tiên-gia-đình-đất-nước-đạo-lý-nhân-luân vì đây không những luôn hiển hiện nơi người thuộc dòng họ trâm anh, có đấng sinh thành đạo hạnh đức độ, có gia đình tuân thủ luật pháp quốc gia, có bản thân thực sự tài giỏi tài ba với trí hóa trí tuệ cao cộng với lòng yêu nước và xem trọng quốc thể, cũng như có tinh thần trách nhiệm cao vốn không những là yêu cầu cao tuyệt đối của một công dân, một thành viên trong gia đình, mà còn là của con-người-của-công-việc-đoan-chính đã hòa quyện vào cái đạo đức và tính liêm khiết vốn là hai yêu cầu nơi nhân sự của lĩnh vực kinh doanh.

Một đất nước mà ai cũng sống và làm thật tốt công-việc-mà-bản-thân-thiện-nghệ-kinh-qua-thực-tế-đã-chứng-minh, với tinh-thần-của-bậc-hiền-tài, trong khí-thế-của-người-chuyên-nghiệp, và trên nền-tảng-của-giá-trị-và-danh-dự-tổ tiên-gia-đình-đất-nước-đạo-lý-nhân-luân thì chỉ có sự va chạm của thiên thạch làm tuyệt diệt loài người mới có thể làm đất nước ấy diệt vong. Đất nước ấy sẽ mãi trường tồn, ngay cả khi giặc ngoại xâm mang theo vũ khí nguyên tử, bom nhiệt hạch, hay vũ khí vi trùng, thì chúng cũng phải tháo chạy trong ống đồng vốn là điều đã ghi rõ trong thiên thư – tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Hãy trở thành những bậc hiền tài, bạn hỡi. Không bao giờ có chuyện trực tiếp “phục vụ nhân dân”. Bạn chỉ giúp dân qua việc phò vua vì bạn chỉ giỏi một hay một vài lĩnh vực. Tiền nhân Việt không phò vua mà tuyên bố muốn “giúp dân” thì vị đó bị xếp ngay vào tội phản loạn mà tội tru di luôn được áp dụng ở các vương triều phong kiến, nghĩa là: giúp nước mà không phò vua thì chỉ là phản nghịch. ViệtNamnay là một quốc gia dân chủ. Bạn có các quyền tự do hiến định. Nhưng bạn chống chế độ, chống chính phủ, thì đó là con đường bạn chọn và hãy can đảm chấp nhận các hệ lụy của nó với tư cách một người trưởng thành, đừng lôi “nhân dân” ra làm bình phong cho cái gọi là “vì dân” của bạn, cái gọi là “lương tâm” của bạn, cái gọi là “nhân quyền” của bạn. Đất nước này lao đao lận đận vì những người như bạn, tức là bọn-tham-nhũng-quyền-lực và bọn-tay-sai-ngoại-bang.

Tham nhũng quyền lực thì hèn hơn tham nhũng tiền bạctham nhũng tiền bạc chấp nhận bị lột trần, bị xỉ vả, bị trừng phạt, còn tham nhũng quyền lực thì có các tấm áo bào lấp lánh kim tuyến đầy màu sắc của tự do, dân chủ, dân quyền, nhân quyền, để luôn khoe bản thân là “tù nhân lương tâm” đớn hèn nhục nhã.

Tay sai ngoại bang thì dù là tay sai tự nguyện, tay sai ép buộc hoặc tay sai chủ động cũng tồi tệ như nhau. Tay sai tự nguyện như anh chàng Ngô Di Lân [6] tự thần phục ngoại bang ngay khi tiếp cận thay vì phải kinh qua ít nhất 10 năm làm việc tại chỗ sau tốt nghiệp. Tay sai ép buộc như các tiểu thuyết hay phim truyện tình báo khi một người bị cho vào tròng một vụ bê bối tình dục hay bị đe dọa đối với gia đình nên buộc phải gia nhập bầy phản loạn. Và tay sai chủ động ắt như Lê Công Định [7] đã tiếp cận Đại Sứ Mỹ, Tổng Lãnh Sự Mỹ, v.v., phải chăng như một sự tự giới thiện cho ngoại bang biết một gương mặt mới xứng đáng nhận sự tài trợ và nâng đỡ cho vị trí một Nguyễn Văn Thiệu tổng thống Việt Nam của tương lai?

Bạn hãy nhìn những nụ cười của các Đại biểu Quốc hội Việt Nam dù đó là lãnh đạo, nhà tu hành, chức sắc giữ trọng trách ở địa phương, hay chỉ là một doanh nhân ngoài Đảng. Chúng tôi cười, bởi vì nụ cười ấy đã truyền lưu từ các Lạc Hầu, Lạc Tướng, tức các vị Lạc Quan phò tá Lạc Vương tức Hùng Vương lập quốc, và con cháu hậu duệ các Quan Lạc luôn lạc quan. Lạc quan chủ động. Lạc quan tích cực. Lạc quan xông pha dấn thân quyết liệt. Lạc quan tiên hạ thủ vi cường. Lạc quan thông minh. Lạc quan ở thế thượng phong. Và cả lạc quan vùi dập quân thù xâm lược xâm lấn xuống ba thước đất tính từ đáy bùn nhơ.  Vệ quốc luôn có kết quả chiến thắng. Đó là chân lý muôn đời vạn kiếp không bao giờ và không thể nào thay đổi. Đem tài năng đức độ ra “phò tá” Đảng và Nhà Nước, đó mới chính là cung cách và tư cách cũng như tư thế đúng duy nhất của bậc hiền tài vì nước vì dân. Tổ tiên ta đã đánh thắng tất cả các vương triều vĩ đại của Trung Quốc chính vì trên nền tảng “phò vua, giúp nước”. Và do đó, hãy yên tâm tập trung làm việc theo tinh thần nêu trên để không ngừng kiến quốc.

Càng kiến quốc nhiều hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn thì đại cuộc vệ quốc càng hoành tráng hơn, dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, vĩ đại hơn.

Kiến quốc thủa ngàn xưa là để đất nước tồn tại, dân tộc sống còn bằng mọi giá, kể cả ra tay đánh cho quân thù tan tác rồi rượt theo quỳ gối xưng thần trước quân thù tan tác ấy, hiến tặng đất đai, bảo ngọc, trân châu, mỹ nữ, tiêu diệt tàn diệt tận diệt các chủng loài voi hổ tê giác, nhân sâm, kỳ nam, trầm hương, thợ thủ công, nhà khoa học, v.v.

Kiến quốc thời cận đại là để đất nước và dân tộc giương cao ngọn cờ chính nghĩa của “chung sống hòa bình” bằng mọi giá, kể cả ra tay đánh cho quân thù tan tác rồi dùng loa phóng thanh ngợi ca hòa bình trong khuôn khổ “phe” nọ “phe” kia, kiên nhẫn theo kế sách “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”.

Kiến quốc ngày nay là để chuẩn bị chiến tranh tổng lực tiêu diệt tàn diệt tận diệt tất cả những mầm mống xâm hại xâm lấn xâm lăng, và phải chiến thắng để mở rộng biên giới của ViệtNam, xóa sổ vĩnh viễn những mầm họa đó.

Tất cả để trong tương lai không xa, kiến quốc là để thi thố “bình thiên hạ”, lãnh đạo thiên hạ, đưa thiên hạ vào khuôn phép khuôn khổ của Việt Nam ngay cả khi Việt Nam không theo hình mẫu “thiên triều” của Trung Quốc; vì, biết làm thế nào được khi Trung Quốc đã bị tiêu diệt tàn diệt tận diệt trong nửa đầu thế kỷ XXI ấy khi xâm hại xâm lấn xâm lăng Việt Nam từ Biển Đông.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 27-6-2011. Trăm Trứng: Lý Giải Mới Cho Một Tích Cũ. http://antichina.blog.com/?p=5

[2] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi! http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/04/20/nhan-tai-u-that-hoi-oi/

[3] Hoàng Hữu Phước. 07-02-2014. Thế Nào Là Trí Thức. http://hhphuoc.blog.com/?p=290 (hoặc http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/14/the-nao-la-nha-tri-thuc/ )

[4] Hoàng Hữu Phước. Luận Về Đa Đảng. http://hhphuoc.blog.com/?p=167

[5] Hoàng Hữu Phước. 18-5-2013. Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có Đa Đảng Không? http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/05/18/viet-nam-cong-hoa-co-da-dang-khong-my-co-da-dang-khong/

[6] Hoàng Hữu Phước. 07-3-2014. Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân. http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/03/07/ve-cai-su-tran-tro-cua-sinh-vien-ngo-di-lan/

[7] Hoàng Hữu Phước. 05-10-2010. Tôi Và Lê Công Định. Đăng lần đầu có kèm hình ảnh tại www.emotino.com. Đăng rút ngắn trên Báo Nhân Dân dưới tiêu đề của tòa soạn “Là Công Dân Phải Tuân Thủ Luật Pháp Quốc Gia”, số ra ngày 07-9-2012, trang 8. Sẽ đăng lại nguyên văn trên blog wordpress.com này và blog hhphuoc.blog trong tháng 7 này.

Cung Đàn Lỗi Nhịp Của Ông Trương Trọng Nghĩa

Hoàng Hữu Phước, MIB

Điều 100 của Quy Chế Thượng Viện Nhật Bản ghi rằng “khi phát biểu, nghị sĩ không được đi chệch chủ đề đang được xem xét hoặc đi quá phạm vi của vấn đề.”­ [1]

Ông Trương Trọng Nghĩa là Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh đương nhiệm của Quốc hội Khóa XIII, Thạc sĩ Luật, Ủy viên Đảng đoàn Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Tư Pháp của Quốc hội.

Luật Biểu Tình

Ngay từ Kỳ họp Thứ 2 Quốc hội Khóa XIII năm 2011, Ông Trương Trọng Nghĩa đã phát biểu đề nghị đưa Luật Biểu Tình vào chương trình làm luật. Khi tôi phát biểu về Luật Biểu Tình­ [2] được cả hội trường vỗ tay ủng hộ (tức đại đa số trong toàn dân ủng hộ), Ông Trương Trọng Nghĩa đã nói gì đó với phóng viên lúc giải lao[3] để rồi cả sự kiện lịch sử “hội trường vỗ tay” và nội dung phát biểu hùng biện của tôi đều không bao giờ được báo chí nói đến mà thay vào đó cụm từ “dân trí thấp” do Ông Trương Trọng Nghĩa thốt ra được báo chí tận tình khai thác để tiến hành cuộc đàn áp tổng lực tấn công tôi vì cái tội nói dân trí thấp, dẫn đến việc nhiều kẻ hèn hạ ẩn danh thi nhau gởi tin nhắn thóa mạ, de dọa, đòi giết, đòi ném bom, đòi đốt nhà tôi (dám giở trò đê tiện với tôi chứ không dám “đụng” đến người khác, chỉ vì tôi là Đại biểu Quốc hội không có thẻ Đảng viên, không giữ chức vụ gì trong chính quyền từ trung ương đến địa phương, không do bất kỳ tổ chức nào “đỡ đầu” ra ứng cử mà một mình tự đến lấy hồ sơ đăng ký ứng cử duy chỉ quốc hội trong khi người khác được giới thiệu ra ứng cử cả hai nơi là Quốc hội và Hội đồng Nhân dân cho…“chắc ăn” kiểu lọt sàng xuống nia). Sau đó, Ông Trương Trọng Nghĩa tuyên bố trước Quốc hội rằng ông ta sẽ xung phong viết dự thảo Luật Biểu Tình, để rồi tại các kỳ họp tiếp theo, khi đã nhận ra rằng bản thân ông không thể biên soạn gì được nên đổi kế hoạch, tuyên bố rằng Quốc hội có thể “nhờ” Liên đoàn Luật sư do ông lãnh đạo soạn giúp, điều mà ai cũng hiểu là bao hàm ý Quốc hội sẽ phải chi trả nhiều trăm triệu hay nhiều tỷ cho sự yêu cầu giúp đỡ đó (tất nhiên, Quốc hội không bao giờ sử dụng dịch vụ mà ông Trương Trọng Nghĩa gợi ý). Với trách nhiệm cá nhân trước tổ quốc và nhân dân, tôi đã chống lại sự tập trung đòi hỏi đáng ngờ của vài Đại biểu Quốc hội trong đó có ông Trương Trọng Nghĩa đối với việc đòi có Luật Biểu Tình, vì tôi biết rằng Quốc hội đang tập trung cho đại cuộc của Hiến Pháp 2013, của Luật Đất Đai, của Luật Biển, v.v., mà Hiến Pháp chưa thông qua thì đương nhiên Luật Biểu Tình càng không thể được ra đời trước khi có các quy định cập nhật của Hiến Pháp mới. Sau khi Hiến Pháp được thông qua năm 2013, tôi có bài báo cáo công tác trước quốc dân đồng bào [4], trong đó có ghi rõ rằng tôi sẽ trình dự án Luật Biểu Tình với tư cách một nghị sĩ chuyên nghiệp thực hiện sự đáp ứng những điều hiến định mới nhất về quyền con người và quyền công dân. Tuyệt đại đa số Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, những vị đã ủng hộ tôi, đều là những nghị sĩ chuyên nghiệp nghĩa là những người hiểu rằng luôn có rất nhiều việc tối quan trọng như nhau nhưng giải quyết công việc đều trên cơ sở mà mọi người văn minh học thức tại các cường quốc văn minh đều áp dụng: đó là prioritization tức mức độ ưu tiên trước-sau. Luật Biểu Tình không thuộc loại tối quan trọng, và đương nhiên không thể ở hạng ưu tiên số 1 để có quyền đẩy lùi Luật Biển vốn làm Tàu tức giận, gạt qua một bên Luật Đất Đai vốn là sự quan tâm hàng đầu của nhân dân, và nghiêm trọng hơn là kéo dài thêm thời hạn thông qua bản Hiến Pháp 2013 vốn đã trải qua quá nhiều năm biên soạn dự thảo, tổ chức hàng trăm hội nghị, hội thảo, và lấy ý kiến toàn dân.

Nghị Quyết Về Biển Đông

Trước khi đi Hà Nội dự Kỳ họp Thứ 7, ngày 11-5-2014 tôi đăng blog bài Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc­ [5] , tuyên bố tôi sẽ yêu cầu Quốc hội phải có Nghị Quyết thật mạnh mẽ về Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông. Với trách nhiệm cá nhân trước tổ quốc và nhân dân, tôi nghiên cứu kỹ các quy định, và nhận thức 5 điều rằng

1) Chương trình dày đặc xây dựng luật và pháp lệnh Khóa XIII và năm 2014 của Quốc hội đã được quyết tại Kỳ 6 tháng 11 năm 2013 nên các thay đổi nếu cần sẽ chủ yếu tùy tình hình thực tế của quốc gia; 

2) Các đề xuất điều chỉnh thay đổi chương trình trên nếu có chỉ được thực hiện theo quy trình chuyên nghiệp cẩn trọng pháp định (như thực tế chứng minh đã phải qua thảo luận tại Tổ chiều 21-5-2014 và sau đó là thảo luận tại Hội trường chiều 26-5-2014 rồi tiến hành biểu quyết thông qua chiều 30-5-2014); 

3) Việc ra Nghị Quyết luôn theo quy trình: dự thảo Nghị quyết, in phát dự thảo cho Đại biểu Quốc hội nghiên cứu, họp Tổ thảo luận đề đạt ý kiến, Thường vụ Quốc hội tiếp thu để giải trình, họp toàn thể tại hội trường để thảo luận, Thường vụ Quốc hội tiếp tục tiếp thu, họp toàn thể để nghe Thường vụ Quốc hội giải trình rồi tiến hành biểu quyết thông qua – và quy trình như vậy có thể kéo dài đến hai tuần trong khi chương trình nghị sự đã rất chặt chẽ, sát sao, (và nhất là phải theo Chương trình chung đã được toàn thể biểu quyết thông qua, thí dụ như diễn tiến buổi biểu quyết ngày 30-5-2014 đã không hề có nội dung nào liên quan đến vấn đề “Nghị Quyết”);

4) Nghị quyết là một trong những gì gọi là “pháp luật” (bao gồm: luật, nghị định, thông tư, nghị quyết, quyết định, v.v.) nên có giá trị buộc toàn dân tuân thủ, thi hành, với cơ chế chế tài, trừng phạt; trong khi cái gọi là “nghị quyết về Biển Đông” nếu có lại không mang tính buộc Trung Quốc phải thi hành và càng không có cơ chế “chế tài”, “trừng phạt”; và

5) Bất kỳ điều nghiêm túc và đặc biệt là mang tính “khẩn cấp” đều có thể được nghị sĩ viết ra thành văn bản và gởi hoặc trực tiếp hoặc bằng email đến Lãnh đạo Quốc hội, chứ không phải đợi chờ đến Kỳ họp và đến buổi họp toàn thể nào có sự tham dự của báo chí mới nhấn nút phát biểu.

Thực tế sau đó còn cho thấy:

1) Ngay hôm khai mạc Kỳ họp 7 ngày 20-5-2014, Quốc hội đã nghe chính phủ (Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh) báo cáo về tình hình Biển Đông với việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, chủ trương, và giải pháp của Việt Nam – chứng tỏ Quốc hội cực kỳ quan tâm đến tình hình nghiêm trọng này; sau đó các tổ Đại biểu Quốc hội họp thảo luận về nội dung này vào sáng hôm sau tức 21-5-2014, trên cơ sở đó Quốc hội nhanh chóng phát hành thông cáo công bố mạnh mẽ lên án việc sai quấy của Trung Quốc – cần ghi nhớ rằng “thông cáo” là công cụ thích hợp nhất đáp ứng nhanh nhất và hiệu quả nhất đối với yêu cầu phải nêu chính kiến của Quốc hội, đồng thời bảo vệ được uy danh và uy thế của đất nước nếu “nghị quyết” bị Trung Quốc phớt lờ, không “thực hiện” và chà đạp; và rằng  

2) Cơ quan của Quốc hội là Ủy ban Đối ngoại đã cực kỳ nhanh chóng, cực kỳ tích cực, cực kỳ hiệu quả khi gởi công hàm đến Liên Nghị Viện Thế Giới, tất cả quốc hội các nước, tất cả các tổ chức quốc tế, v.v., và ngay lập tức nhận được phản hồi ủng hộ của các nơi này, tạo nên thế trận ngoại giao có lợi cho Việt Nam, nhất là khi Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị Liên Nghị Viện Thế Giới của hằng trăm quốc gia vào năm 2015.

Đó là lý do tôi đã quyết định không phát biểu đề nghị Quốc hội ra Nghị quyết về Biển Đông.

Tôi rất ngạc nhiên khi tại buổi thảo luận ở Hội trường ngày 19-6-2014 về dự án Luật Căn Cước Công Dân, ông Trương Trọng Nghĩa “xin lỗi” Quốc hội cho ông phát biểu yêu cầu Quốc hội ra Nghị quyết về Biển Đông. Tôi ngạc nhiên vì nếu tôi biết nghị viện các nước tiên tiến không cho phép nghị sĩ nói chệch chương trình nghị sự thì hơn ai hết ông Trương Trọng Nghĩa phải biết nhiều hơn và không thể làm điều mà nếu nghị sĩ nước ngoài đọc báo Việt sẽ coi thường nghị viện Việt Nam dù Quốc hội Việt Nam không có quy định nào tương tự Điều 100 của Quy Chế Thượng Viện Nhật Bản. Quy định có thể khác nhau, văn hóa có thể khác nhau, nhưng cái cơ bản là tại nghị viện trên toàn thế giới không ai nói “chệch” chủ đề đang được tập thể tập trung cao độ để thảo luận trong khoản thời gian không bao giừo là vô hạn.

Ông Trương Trọng Nghĩa có văn bằng về luật nên ắt biết rõ là quy trình ban hành một nghị quyết ở Quốc hội rất nghiêm nhặt và “lê thê”. Chưa kể hai ngày 21 và 26-5-2014 được Quốc Hội dành ra để điều chỉnh Chương trình nghị sự của Kỳ họp 7, và khi toàn thể Quốc hội thông qua chương trình ngày 30-5-2014 trong đó không có khoản nào ghi rằng Kỳ họp 7 sẽ có nghị quyết về Biển Đông thì có nghĩa rằng bất kỳ đề xuất nào sau đó dù liên quan đến Biển Đông hay không thì hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Trong khi tôi nêu vấn đề nghị quyết từ ngày 11-5-2014 thì ông Trương Trọng Nghĩa lại nêu ra sau đó hơn một tháng vào ngày Thứ Sáu 19-6-2014. Điểm cần lưu ý là: sáng Thứ Ba 24-6-2014 là Lễ Bế Mạc kỳ họp 7, trong khi Thứ Bảy 20-6 và Chủ Nhật 21-6 không phải là ngày làm việc, như vậy thời gian chỉ còn mỗi một ngày Thứ Hai 23-6-2014 dành cho việc thảo luận hai dự án luật quan trọng về đầu tư và thi hành án dân sự cũng như biểu quyết thông qua Luật Hải Quan và Luật Bảo Vệ Môi Trường, không bao giờ có dù chỉ một giây cho cái gọi là Nghị quyết về Biển Đông. Biết không thể mà vẫn nêu, rất dễ tạo cớ cho thiên hạ hồ nghi rằng ông ấy có mục đích giúp báo chí có một cơ hội “câu view”.

Kiến nghị muộn màng (đã qua thời điểm đề xuất thay đổi, bổ sung chương trình nghị sự từ đầu kỳ họp), không đúng chỗ (Quốc hội đang thảo luận luật khác), và không đúng tình thế (Quốc hội đã ra thông cáo và Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội đã ra tay mạnh mẽ hiệu quả với hàng trăm bức công hàm gởi toàn thế giới), ông Trương Trọng Nghĩa đã như một cung đàn lỗi nhịp.

Báo chí Thành phố Hồ Chí Minh đã không cẩn trọng đối với việc “chệch chủ đề” của ông Trương Trọng Nghĩa. Cần phải hiểu ý nghĩa của nghị quyết, yêu cầu của việc ban hành nghị quyết, và tính phải chấp hành của nghị quyết. Nếu Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Việt Nam, ban hành Nghị quyết về Biển Đông nhưng Tàu không “chấp hành” thì đó là cái nhục quốc thể.

Sự việc ở Biển Đông là nguy biến của quốc gia chứ không là cơ hội để ai đó gảy lên một dạo khúc cung đàn lỗi nhịp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Quy Chế Thượng Viện Nhật Bản. Thư Viện Quốc Hội, Văn Phòng Quốc Hội Việt Nam. http://thuvien.vpqh.gov.vn

[2] Hoàng Hữu Phước. 07-11-2011. Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình Và Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[3] Hoàng Hữu Phước. 20-11-2011. Chụp Mũ.  http://hhphuoc.blog.com/?p=56

[4] Hoàng Hữu Phước. 20-4-2014. Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016. http://hhphuoc.blog.com/?p=342

[5] Hoàng Hữu Phước. 11-5-2014. Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc.  http://hhphuoc.blog.com/?p=359

 

Sát Tàu

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Trong chiến tranh vệ quốc chống giặc Nguyên-Mông ở thế kỷ XIII, các chiến binh Việt đã xâm bằng mực đen lên cánh tay dòng chữ Sát Thát, nghĩa là giết sạch bọn giặc Thát (Thát là cách gọi khinh miệt dành cho tộc Thát Đát cai trị Mông Cổ). Điều quan trọng cần quan tâm đối với cuộc chiến tranh này là quân xâm lược phương Bắc sử dụng “hải quân” như lực lượng chủ công tiến đánh từ biển để thu tóm nước Việt và sau đó sẽ giong buồm tiến ngược lên Hoa Đông xóa sổ Nhật Bản. Đất đai Bắc Bộ thêm màu mỡ không chỉ vì phù sa Hồng Hà, mà còn vì 450.000 xác bọn Thát bị quân dân Việt ra tay Sát khiến tàn quân rút về chỉ còn vỏn vẹn 50.000 người [1], trong đó có Thái Tử Thoát Hoan (hân hoan chạy thoát) của Hoàng Đế Hốt Tất Liệt (bốc hốt Việt tất sẽ bại liệt dương), làm sụp đổ hoàn toàn binh lực hải quân Nguyên-Mông, gián tiếp “phòng vệ tập thể” cứu Nhật Bản khỏi họa nhân tai, nhờ vậy Nhật có thời gian xây dựng hải quân hùng mạnh để sau này gây kinh hoàng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Dân Trung Quốc luôn bị khinh ghét, khinh rẻ, khinh khi, khinh bỉ trên toàn thế giới. Và cách gọi khinh miệt khinh thường một giống dân (tức ethnophaulism) trong tiếng Anh dành cho dân Trung Quốc là Chinaman hoặc Chink hay nhiều từ khác. Tổ tiên Việt cũng có ethnophaulism dành cho dân Trung Quốc là “Chệt”, “Chiệc”, hay “Tàu”. Thế nên, bọn Tàu là để gọi bọn dơ dáy bẩn thỉu hèn hạ lưu manh đàng điếm mọi rợ côn đồ trong số dân Trung Quốc. Bọn Tàu là bọn chủ trương xâm lược Việt Nam, tiến hành xâm lược Việt Nam, thực hiện mưu đồ lấn chiếm và chiếm đóng Việt Nam, cũng như gây sự gây rối vu vạ vu khống Việt Nam, giết hại người dân Việt Nam, và do đó Bọn Tàu bao gồm toàn bộ tập đoàn Trung Nam Hải (mà thiên hạ hay gọi tắt là Bắc Kinh), toàn bộ bọn tướng lãnh Trung Quốc, toàn bộ quân đội Trung Quốc, và toàn bộ người dân Trung Quốc nào không mở miệng nói lên được (hoặc nếu khuyết tật thanh quản thì viết đeo trước ngực tấm bảng có) câu “Tôi ủng hộ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!

Đã là bọn dơ dáy bẩn thỉu hèn hạ lưu manh đàng điếm mọi rợ côn đồ mà lại xâm lược nước Việt thì dứt khoát phải bị tiêu diệt tàn diệt tận diệt. Khi xưa quân đội có quân trang quân dụng cổ điển khoe cơ bắp nên xâm chữ vào tay chiến binh cho thêm sức mạnh lúc vung đại đao vớt bay đầu Toa Đô (tại một tọa độ nào đó gần Tây Kết, Khoái Châu) rồi truy sát bại binh đến tận Tư Minh vung chùy đập làm móp ống đồng khiến Thoát Hoan khi được đưa về Tàu không tự mình chui ra được phải nhịn ăn bảy lần bảy bốn mươi chín ngày cho ốm bớt mới có thể được lôi lọt khỏi ống đồng với chiến bào đầy mùi xú uế. Nay quân Việt ta được trang bị tận răng với quân phục đa dạng chỉnh chu chuyên nghiệp. Mà đâu chỉ có chiến binh! Toàn dân ai cũng muốn ăn tươi nuốt sống giặc Tàu (đến độ có người bất chấp luật pháp quốc gia tụ họp gây ra hỗn độn hỗn loạn trong sự cố sự việc ở Bình Dương và vài nơi khác). Như vậy, nếu bọn Tàu thực hiện chiến tranh để xâm chiếm Việt Nam thì đương nhiên tinh thần “Sát Thát” thế kỷ XIII sẽ bùng lên khủng khiếp. Do vậy, tôi, nghị sĩ Quốc hội Việt Nam khóa XIII, đề xuất các chiến binh, các công dân ái quốc, các nhà-trí-thức-nhân-sĩ-thường-vầy-đoàn-gởi-kiến-nghị-cứu-nước hãy xâm chữ “Sát Tàu” lên trán khi giặc Tàu khởi đánh nước ta.

Sát Tàu” là chữ xâm bằng tiếng Việt. Không xâm bằng chữ Tàu vì chữ Tàu làm bẩn  trán người Việt. Không nhất thiết phải bằng tiếng nước ngoài như Uccidera Cina hay Sterminare Pechino hay Kill Chinks, đơn giản vì Sát Tàu ngắn hơn, xâm sẽ nhanh hơn, ít tốn mực hơn, chữ lớn hơn nên dễ thấy từ xa hơn.

Tất nhiên, không cần phải phân bua thanh minh rằng Sát Tàu sẽ không gây ra kỳ thị chủng tộc ở nước Việt, vì rằng người Việt gốc Hoa là người Việt[2], và rằng khi có trong tay quốc tịch Việt Nam, người đó đích thị là người Việt 100%, được pháp luật bảo vệ 100%, được chính phủ bảo vệ 100%, được quân đội bảo vệ 100%, và được toàn dân cùng nhau bảo vệ 100%.

Bọn giặc Tàu 500.000 người thời Nguyên Mông xâm lược nước Việt đã bị đòn Sát Thát chỉ còn 50.000 thương binh lết về đến quê nhà phương Bắc.

Bọn giặc Tàu thời nay nếu xâm lược nước Việt chắc chắn sẽ bị đòn Sát Tàu giết sạch sành sanh do rút kinh nghiệm từ quá khứ để ngăn ngừa hậu hoạn cho con cháu nước Việt sau này. Đây là nhiệm vụ của quân đội Việt Nam từ yêu cầu của đại cuộc vệ quốc nhằm một lần và vĩnh viễn once-and-for-all chấm dứt hiểm họa bất kỳ từ Trung Quốc.

Với cái nhìn tiên tri thấu thị, tôi đã có ý kiến như sau trong bài phát biểu gởi lãnh đạo Quốc hội ngày 03 tháng 6 năm 2013 tại Kỳ họp Thứ 5 lúc góp ý đối với bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992:

“… Tại Điều 11, tôi đề nghị thêm khoản số 3 rằng mọi hành động xâm lược của nước ngoài chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều bị trừng trị. Lý do: khoản số 2 của Điều này dùng từ “Tổ Quốc” nên mang nội dung dành cho người Việt Nam. Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh. Hiến pháp nên có thêm nội dung rằng khi có chiến tranh nước khác xâm lược Việt Nam, Việt Nam sẽ đánh trả và truy đuổi, và tất cả những phần lãnh thổ của tàn quân tháo chạy sẽ trở thành cương thổ vĩnh viễn của Việt Nam. Chúng ta không bắt chước tiền nhân Lý Thường Kiệt ở ba điều là (1) không đánh phủ đầu kiểu Phạt Tống Lộ Bố Văn, (2) không đưa quân vào nước khác gây chiến, và (3) không rút quân trả đất sau khi truy đuổi thành công. Việc nêu rõ ràng này là để giúp kẻ thù của Việt Nam cân nhắc việc có nên gây hấn với Việt Nam hay không.

“…Điều 18.2 về nội dung Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác. Tôi cho rằng: Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh. Hiến pháp nên có nội dung rằng khi có chiến tranh nước khác xâm lược Việt Nam, Việt Nam sẽ đánh trả và truy đuổi, và không bất kỳ quân nhân nào của Việt Nam bị giao nộp cho bất kỳ tòa án diệt chủng hay tòa án tội ác chiến tranh nào đối với những việc họ thực hiện khi truy đuổi quân thù ra ngoài biên giới Việt Nam.” [3]

Có nghĩa là giặc Tàu ở phương Bắc hay giặc man di mọi rợ gì đó ở phương khác nếu tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Việt Nam sẽ phải đánh trả, đánh thắng, và đánh đuổi chúng đến tận thủ đô và sào huyệt cuối cùng của chúng, giết sạch bất kỳ ai đang cầm vũ khí; bất kỳ vùng đất nào các chiến binh Việt Nam đặt chân đến trên đường đánh đuổi và đánh thắng sẽ đương nhiên được sáp nhập thành lãnh thổ mới,  chung, vĩnh viễn của Việt Nam; và Việt Nam bảo đảm không bất kỳ một tướng lĩnh nào hay chiến binh nào của Việt Nam bị chuyển giao cho bất kỳ tòa án nào của quốc tế do bất kỳ hành động nào họ đã gây ra cho quân và dân của nước giặc ngay bên trong nước giặc, vì họ được xem như thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng tiêu diệt hậu họa cho hậu duệ của dân tộc Việt Nam.

Bọn giặc Tàu nhất thiết cần biết được điều này: Sát Tàu kỳ này sẽ kinh hoàng kinh khủng hơn Sát Thát thời Trần Hưng Đạo của Thế kỷ XIII lúc toàn bộ hải quân Tàu đã bị vùi chôn theo tàu của Tàu.

Bọn Chó Tàu nếu khôn hồn sẽ phải tháo chạy ra khỏi Biển Đông để tàu của chúng vẫn còn có thể nổi trên hoặc nổi lại lên mặt nước!

Môn Sử quan trọng thât! [4]  Chỉ vì dốt Sử mà Trung Hoa Trung Quốc trở thành Tàu.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

[2] Hoàng Hữu Phước. 05-11-2012. Hoa Tàu. http://antichina.blog.com/?p=60

[3] Hoàng Hữu Phước. 05-6-2013. Bài Phát Biểu Của Hoàng Hữu Phước Tại Quốc Hội Về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992. http://hhphuoc.blog.com/?p=177hoặc tại http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/06/05/bai-phat-bieu-cua-hoang-huu-phuoc-tai-quoc-hoi-ve-du-thao-sua-doi-hien-phap-1992/

[4]  a- Hoàng Hữu Phước. Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Lịch Sử. Đăng trên blog Emotino ngày 20-12-2011. Đăng lại ngày 12-3-2013 trên blog http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/.

    b- Hoàng Hữu Phước. 05-02-2014. Thế Nào Là Sử Gia. http://hhphuoc.blog.com/?p=289 hoặc  http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2014/02/05/the-nao-la-su-gia/

Vấn đề “Lấy Phiếu Tín Nhiệm”

Ý kiến của Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước

Hoàng Hữu Phước, MIB

Nghị Quyết 35 năm 2012 của Quốc Hội Khóa XIII về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc Hội hay Hội Đồng Nhân Dân tỉnh/thành phố bầu hoặc phê chuẩn, đã như luồng sinh khí mới ngập tràn nội dung mang tính thời sự nóng từ các phương tiện truyền thông đại chúng. Song, dư luận lại dậy sóng đối với tên gọi – tôi xin lập lại: “tên gọi” chứ không phải “bản chất hàn lâm” của sự việc – của ba mức bỏ phiếu là tín nhiệm cao, tín nhiệm, và tín nhiệm thấp, khiến hình thành sự hăng hái quá mức cần thiết và mang tính sa đà vào tranh luận ngữ nghĩa cấp độ phổ thông. Sự sa đà quá trớn này thậm chí dẫn đến những ngộ nhận mang tính bầy đàn (ngay cả nơi các chức sắc chính quyền và Mặt Trận của Thành phố Hồ Chí Minh), khiến dẫn đến 5 thảm họa gồm (1) cảnh lửa bỏng dầu sôi của thực tế hoàn cảnh bọn chó Tàu sủa bậy cắn càn đất nước cũng không đủ sức giúp một bộ phận không nhỏ nghị sĩ quốc hội tập trung cho các kế sách an bang định quốc thay vì phấn khởi tranh luận về tín-nhiêm-cao-tín-nhiệm-tín-nhiệm-thấp, (2) thư giải thích thêm bằng tiếng Việt của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng biến thành không thể hiểu được, (3) đão lộn chương trình nghị sự Kỳ Họp Thứ 7 này của Quốc Hội khóa XIII, làm hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm” theo pháp định bị dời qua Kỳ Họp Thứ 8 nghĩa là trở thành vi phạm pháp luật, (4) nghị quyết quan trọng nhằm điều chỉnh nâng tầm Nghị Quyết 35 bị vô hiệu hóa để đưa về Kỳ Họp Thứ 8 với tương lai không khẳng định, và (5) cuối cùng – song lại cực kỳ nghiêm trọng – là một số nghị sĩ vỗ ngực tự nhận bất tài bất lực khi tuyên bố không biết phải ăn nói báo cáo ra sao với cử tri và có vị đăng đàn phát biểu tại nghị trường rằng có một cử tri của vị này – tôi xin nhấn mạnh lần nữa “một” nghĩa là số ít, nếu không muốn nói là cực ít trong một thể chế chính trị không bao giờ dựa vào số ít , chưa kể có thể đây chính do vị này chế tác ra rồi vu vạ đổ cho cử tri – nhục mạ toàn thể quốc hội là “ngu” khi chẳng hiểu ý nghĩa của cái sự thấp hay cao của tín nhiệm, biến nghị trường thành hí trường hổ thẹn.

Tôi thấy nhất thiết phải lên tiếng như sau để tuyệt đối ủng hộ 3 nội dung của lấy phiếu tín nhiệm gồm tín nhiệm cao, tín nhiệm, và tín nhiệm thấp:

1) Tất cả những ai được thực sự hấp thụ một nền giáo dục – nhất là giáo dục bậc cao – của và tại một xứ sở văn minh thực sự, tiến bộ thực sự, của Phương Tây thực sự, sẽ phải công nhận rằng một học sinh/sinh viên có đến dự thi, có làm bài thi, và bài thi làm sai bét, cũng được cho một số điểm nhất định, mà không bao giờ là điểm zero; chưa kể trong thực tế hoạt động thương mại thì “thuế suất bằng không” hoàn toàn khác biệt với “miễn thuế” hay “không đánh thuế”.

2) Những vị nằm trong danh sách phải được “lấy phiếu tín nhiệm” là do ai bầu chọn và phê chuẩn trước đó? Khi đã nhấn nút bầu chọn hoặc phê chuẩn, người nghị sĩ được mặc định đã xem xét hồ sơ ứng viên với sự công tâm, trách nhiệm với nhân dân, vinh dự thay mặt nhân dân chọn người tài ra giúp nước; từ đó những chức sắc trong danh sách phải được “lấy phiếu tín nhiệm” đương nhiên là những người đã được tín nhiệm rất cao, nếu không muốn nói là tín nhiệm tuyệt đối. Vậy thì cái đạo lý nhân luân ở trên đời phải là: các nghị sĩ có đã giám sát hiệu quả, hỗ trợ hiệu quả, góp ý hiệu quả, cho từng vị có tên trong danh sách phải được “lấy phiếu tín nhiệm” ngay từ lúc các vị ấy trở thành nhân vật quan trọng của quốc gia? Việc lôi tuột một quan chức từ cấp độ tín nhiệm tuyệt đối xuống “bất tín nhiệm” là sự khôi hài dễ khiến nghị sĩ quốc hội trở thành kẻ phủi tay trách nhiệm, hay đổ lỗi, thích tàn sát. Lẽ nào sau một năm nhậm chức (hoặc 2 năm hay sau nửa tổng thời gian nhiệm kỳ  – tùy nội dung điều chỉnh của “Nghị Quyết”), quan chức ấy bị xóa bỏ mọi thành tích chỉ bằng một cái-tội-nào-đó-không-liên-quan-đến-tội-phản-quốc-hay-dính-án-hình-sự-có-phán-quyết-của-tòa-án và mọi người nằng nặc đòi giòng chữ in trên phiếu phải là “bất tín nhiệm”? Anh ta hay chị ta phải được đối xử công bằng và theo phương cách văn minh lịch sự hàn lâm mà tất cả các nghị sĩ đều có học vấn cao nên đều biết: anh ta hay chị ta phải được cho điểm dù là một điểm số tối thiểu. Điểm 0,5 là một điểm thấp. Điểm 0 nghĩa là anh ta hay chị ta từ khi nhậm chức đã không làm gì, hoặc từ khi nhậm chức đã làm sai liên tục, ngày càng trầm trọng hơn, ngày càng tồi tệ hơn, ngày càng vô phương cứu chữa hơn – nghĩa là sau khi có nhiều nghị sĩ qua giám sát chặt chẽ đã phát hiện và có giúp sửa sai hoặc ra sức cứu chữa mà không thành. Như vậy, nếu lấy phiếu tín nhiệm với chỉ có hai mức “tín nhiệm” và “bất tín nhiệm” tức “không tín nhiệm” thì sẽ là sự cực đoan, vô lý, bất nhân, phi hàn lâm, không thực tế.

 Nguồn ảnh: Internet

Một học sinh/sinh viên có một điểm 0,5, nghĩa là có một điểm thấp, khiến tổng điểm sẽ bị ảnh hưởng, khó thể đạt danh hiệu giỏi của học kỳ.

Một học sinh/sinh viên có nhiều điểm 0,5, nghĩa là có nhiều điểm thấp, khiến tổng điểm sẽ bị ảnh hưởng, khó thể được lên lớp, không thể tiếp tục tồn tại do không thể đỗ đạt, tốt nghiệp.

Một quan chức có một số phiếu tín nhiệm thấp, khiến tổng số phiếu tín nhiệm cao sẽ bị ảnh hưởng, khó thể là vị quan tài đức vẹn toàn, nhân tài đất Việt, ngay trong thời gian đầu của nhiệm kỳ.

Một quan chức có quá nhiều số phiếu tín nhiệm thấp, khiến tổng số phiếu tín nhiệm cao trở thành cực tiểu, khó thể được xem là có tài thích hợp, có trí thích hợp, có năng lực thích hợp, có khả năng thích hợp, để tiếp tục tại vị, quán xuyến công việc cho phần thời gian còn lại của nhiệm kỳ, do đó phải đưa ra Quốc Hội quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của quan chức này qua sự bỏ phiếu tín nhiệm, phạm vi duy nhất mà nội dung “bất tín nhiệm” mới hợp lý, hợp tình, đúng lẽ, và đúng lễ.

“Điểm thấp” là một trong những thang bậc chấm điểm cho một bài làm, một công việc, bao gồm “điểm cao”, “điểm trung bình”, “điểm thấp”, v.v. “Điểm không” là một trong những loại “điểm thấp”. “Không điểm” không thuộc thang bậc chấm điểm, do đó không là “điểm thấp”. “Không điểm” là một khẳng định khác, mang tính quyết định cao, thậm chí dành cho bài làm xuất sắc của học sinh xuất sắc nhưng được viết bằng mực đỏ vi phạm trường quy.

“Tín nhiệm thấp” là một trong những thang bậc đánh giá một con người. “Không tín nhiệm” hay “bất tín nhiệm” là một khẳng định khác, mang tính quyết định cao của sự loại trừ, kết quả hay hậu quả của quá trình sai phạm, vi phạm, và phạm tội.

Tôi ủng hộ ba mức của phiếu tín nhiệm đối với lấy phiếu tín nhiệm, như nội dung của Nghị Quyết 35. Thậm chí với việc bỏ phiếu tín nhiệm, ba mức của Nghị Quyết 35 cũng có thể chấp nhận được vì quá trình Tây học và giảng dạy đại học bộ môn Anh Văn cho tôi một kinh nghiệm rằng đã là “tên” thì đừng cố tranh luận về ý nghĩa. Ivory Coast là Ivory Coast hoặc Ai-vo-ri Cốt, chứ gọi nó là Bờ Biển Ngà là hoàn toàn sai. Nhà tài phiệt Knickerbocker của Phố Wall đơn giản là nhà tài phiệt Knickerbocker hay Kờ-Ních-Kơ-Bóc-Kơ, và sẽ hoàn toàn xằng bậy nếu báo chí chạy tít “nhà tài phiệt Quần Tà Lỏn sang thăm Khu Chế Xuất Tân Thuận”.  Tên của ba loại phiếu là “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, và “tín nhiệm thấp”, thì đừng nên tiếp tục đấu khẩu với nhau kiểu “đã thấp mà còn gọi là tín nhiệm sao?” hoặc “thì không tín nhiệm nghĩa là tín nhiệm thấp rồi!”.

Giặc Tàu đang gây hiểm họa từ biển ở hướng Đông. Bọn phản phúc sẽ gây hiểm họa từ đất liền ở hướng Tây. Là nghị sĩ, hãy tập trung vấn kế cứu nguy xã tắc, cứu giúp ngư dân, cứu khổ nông dân. Còn việc loại trừ kẻ bất tài, vô dụng, vô hạnh ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo nhà nước, là việc mà sự lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm luôn luôn phát huy tác dụng, bất kể lá phiếu có in số (1,2,3), in điểm (10, 5, Zero), in chữ (tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp), hay in hình (hình ngón tay cái giơ lên nếu đánh giá cao, hình ngón tay cái trỏ xuống nếu muốn tống cổ ném vào sọt rác).

Vào Kỳ Họp Thứ 8, tôi sẽ nhấn nút ủng hộ phương án ba mức “không đổi” theo đúng Nghị Quyết 35.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Dương Khiết Trì Run Sợ

Tàu Luống Ca Luống Cuống

Hoàng Hữu Phước, MIB

22/6/2014

Tàu đã thua rồi!

Dương Khiết Trì đã khẳng định rằng Tàu đang cực kỳ bối rối, rằng Tàu đang ở vị trí chiếu dưới so với Việt Nam, rằng Tàu đang xấu hổ cố lấy chút hơi tàn để cựa quậy giẫy dụa lần cuối cùng. Tư thế của Dương Khiết Trì qua hai bức ảnh sau đã chứng minh tất cả những điều trên:

 

Để giải thích khẳng định điều trên, các chi tiết sau sẽ “từ đồ dần dà” [*] gián tiếp chứng minh:

Ba Má tôi cực kỳ nghiêm túc nghiêm khắc đối với vấn đề trang phục trang trọng trang nhã của bản thân và con cái. Vào thời điểm Ủy Ban Quân Quản của năm đầu giải phóng khắt khe khắc nghiệt (khiến ngay cả chị tôi buộc phải bỏ học tại Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm vì bị cán bộ tiếp quản trường gọi chị có “tác phong tiểu tư sản” do chị tôi mặc áo dài trở lại trường trình diện đi học tiếp chứ không chịu mặc áo bà ba xanh da trời và quần sa-ten đen như quy định đối với tất cả các nữ sinh viên) Ba Má tôi vẫn trang trọng ăn vận như từ trước:

 

Và với phong cách phong thái phong lưu như thế tôi ngay từ nhỏ đã luôn thắt cravat:

 

hoặc ở lớp đệ thất (tức lớp 6) trường Nguyễn Bá Tòng (Quận 2, Sài Gòn) làm Trưởng lớp đã luôn mặc áo sơ mi bỏ trong và chí ít cũng thắt nơ, tóc chải “gel”, trong khi bạn bè thấp hơn một cái đầu, không đeo huy hiệu, áo bỏ ngoài xộc xệch, tóc chôm bôm cuốn theo chiều gió:

 

còn khi lên lớp đệ nhị (lớp 11) với tình yêu cùng Đinh Thị Mai Trâm từ năm lớp đệ tứ (lớp 9), đã bắt đầu vận veston với áo sơ mi do Má tôi may theo kiểu tôi lựa chọn từ tạp chí thời trang nam của Mỹ Eleganza

 

Sự “nghiêm túc” cực kỳ cực đoan về trang phục đã luôn được thể hiện nơi tôi khi nhập vai nhà sư phạm mô phạm:

 

rồi vai trò hiệu trưởng

 

hoặc giảng viên đại học

 

dù phải đi thật xa đến Thành phố Biên Hòa dự tiệc cưới của học trò

 

hay đơn giản là mỗi lần về thăm Ba Má đều phải ăn mặc tề chỉnh kiểu “biết làm thế nào được vì nhà Thạch Sùng không thể tìm đâu ra nồi đất”:

 

và những khi làm MC tại tiệc tất niên nâng ly chúc Tết nhân viên lại càng phải “formal”

 

hoặc tiếp đón ngoại giao đoàn

 

Trò chuyện với doanh nhân nước ngoài

 

doanh nhân trong nước

 

hay chính khách nước ngoài

 

và trí thức Việt Nam

 

lúc chủ trì hội nghị

 

hay tham dự hội nghị

 

ký kết biên bản hợp tác với đối tác nước ngoài

 

khi làm việc hàng ngày ở văn phòng

 

lúc vui vẻ cùng nhân viên

 

thậm chí khi đến gặp em gái ruột tại New World Hotel

 

thì cũng ăn vận trang trọng y như lúc đi gặp các nữ đại lý

 

dù đang trả lời phỏng vấn của báo chí nước ngoài

 

hay báo chí trong nước

 

khi làm nghị sĩ thì lại càng luôn trang trọng chốn nghị trường bất kể mùa Hạ hay mùa Thu

 

trở thành nghị sĩ Việt Nam duy nhất không quên nền nếp gia phong đối với trang phục trang trọng chốn trang nghiêm dù chỉ ngồi tham dự

 

hay có phát biểu

 

hoặc tiếp công dân đến khiếu nại – tố cáo tại Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

 

hay tại các buổi tiếp xúc cử tri, mặc cho tất cả các quan chức khác đều luôn luôn tự ý cởi bỏ cravat khi thấy lãnh đạo cấp cao không thắt cravat

 

vì con người tôi từ thủa ấu thơ đến nay luôn duy trì duy chỉ có một cung cách duy nhất, phong cách duy nhất, phong thái duy nhất trong đời sống và lúc làm việc: sự nghiêm túc, nghiêm nghị, nghiêm khắc, nghiêm trang từ hành vi, hành động, lời ăn, tiếng nói, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, ngôn ngữ cử chỉ, và sự chu chỉnh đối với ngoại hình qua trang phục trang trọng trang nghiêm dù để làm việc hay trong lúc đi cứu trợ đồng bào bị thiên tai

 

Vì vậy, với tư cách người Việt Nam duy nhất trên thế gian này có đủ bằng chứng xác thực chứng minh qua hình ảnh rằng bản thân có thẩm quyền để tuyên bố Dương Khiết Trì đã làm Trung Quốc muối mặt trên toàn thế giới do đã không cởi khuy áo veston khi ngồi trong lễ diện kiến Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Mọi người đàn ông lịch sự trong thế giới văn minh hiện đại đều – một cách tự động – cởi hết các khuy áo veston trước khi ngồi xuống ghế cũng như cài lại tất cả các khuy áo veston ngay sau khi đứng dậy khỏi ghế, y như tự động cài dây an toàn khi đã ngồi vào ô tô vậy.

Tất nhiên, người “bình dân” không quá “kiểu cách” vẫn có thể không nhất thiết phải thắt cravat khi mặc veston hay cài khuy veston khi đứng trò chuyện ngoài hành lang với đồng nghiệp:

 

Nhưng đã là quan chức đối ngoại cấp cao đại diện cho một quốc gia tại một cuộc họp quan trọng mà không giữ điều sơ đẳng đó thì chỉ có thể giải thích là Dương Khiết Trì đang ở vị trí chiếu dưới so với các lãnh đạo Việt Nam mà hắn được diện kiến, và rằng Dương Khiết Trì đang xấu hổ cố lấy chút hơi tàn để cựa quậy giẫy dụa lần cuối cùng trước các lãnh đạo Việt Nam mà hắn được diện kiến; mà Dương Khiết Trì đại diện cho Trung Quốc nên đương nhiên mang ý nghĩa rằng chính Tàu đang ở vị trí chiếu dưới so với Việt Nam, rằng Tàu đang xấu hổ cố lấy chút hơi tàn để cựa quậy giẫy dụa lần cuối cùng. Hãy nhìn lại bức hình này để thấy cravat của Dương Khiết Trì được áo veston ghì chặt để cố định vị trí hầu che đậy dương vật của chính y do quần ngoài của y bị hỏng dây kéo zipper made-in-China còn quần trong thì rách lủng:

 

còn trong bức hình này thì sự che đậy còn được gia cố với đôi tay của y, cứ như thể vải thưa không che được mắt thánh vậy:

 

Hãy nhìn người phiên dịch của Thủ Tướng. Người ấy không cởi khuy áo veston khi ngồi tác nghiệp vì anh ấy là cấp dưới, hoàn toàn không có được dù chỉ một giây để rời bỏ cây bút cùng xấp giấy ghi chép. Dương Khiết Trì, do đó, là thân phận cấp dưới trong buổi diện kiến Thủ Tướng Việt Nam (và Tổng Bí Thư Việt Nam).

Sự lúng túng của Dương Khiết Trì chẳng khác nào đi thụt lùi vào trong đại sảnh đường của Phủ Thủ Tướng do e sợ sẽ bị đá văng ra khỏi cửa, mà nếu bị đá thì thà bị đá đít còn hơn bị đá vô bộ phận phía trước giữa hai háng.

Dương Khiết Trì không dám cởi khuy áo veston vì sợ không được Tổng Bí Thư và Thủ Tướng mời ngồi nên cứ để như vậy để luôn trong tư thế đứng hầu, khỏi bị quê xệ.

Quốc hội Trung Quốc có thể đàm phán với Quốc hội Việt Nam để “đôi bên cùng thắng” kiểu win-win, nghĩa là Việt Nam có lại Hoàng Sa cùng tất cả vùng biển đảo mà Trung Quốc chiếm đoạt hay tuyên bố chủ quyền, còn Trung Quốc sẽ được Nghị sĩ Hoàng Hữu Phước sang chỉ dạy cho tất cả các bí kíp về trang phục trang trọng trang nghiêm trong đối ngoại.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[*] Từ Đồ Dần Dà” là chiêu thức của Tàu mà Vua Quang Trung bảo phải đề cao cảnh giác vì Tàu sẽ tà tà lấn sân khi mình chủ quan không để ý. Nay Lăng Tần tôi đây áp dụng chiêu này để khi bọn Tàu phát hiện ra bài này sẽ tổ chức dịch sang tiếng Hán để đọc rồi sẽ oải, rêm mình, nhức mỏi, vì dài dòng vòng vo lượt thượt, hết ý chí chiến đấu, tặng luôn mấy giàn khoan di động “khủng” cho Việt Nam, rút hết tàu về chính quốc, do sợ đọc xong bài này sẽ hoặc đi lạc tỡi Mũi Hảo Vọng, hoặc hết trơn xăng.

Hân Hoan Đón Chào Dương Khiết Trì

Hoàng Hữu Phước, MIB

18-6-2014

 

Hôm nay Dương Khiết Trì của Tàu sang Việt Nam theo lịch trình làm việc đã ấn định từ lâu giữa hai bên.

Bọn Tàu giỏi về bùa chú và tấu thư nên thường hay lận lưng mấy tấm vải gấm đỏ có chữ Tàu màu vàng gọi là “chữ vàng”, thật ra là ếm bùa để hy vọng người nhận sẽ bị một trong hai thứ “gà” đó là hoặc luống ca lướng cuống như gà mắc tóc, hoặc mắt bị quáng gà hết còn thấy nẻo phải đường ngay.

Khi gặp Nga, Tàu phất tay xuất chiêu tựa Nhạc Bất Quần tung ra tấm lụa có 16 “chữ vàng”:

Bình Đẳng Tin Cậy, Ủng Hộ Lẫn Nhau, Cùng Nhau Phồn Thịnh, Hữu Nghị Muôn Đời.

Thậm chí khi gặp Mỹ, Tàu cũng múa côn nhị khúc hệt Lý Tiểu Long rặn ra 14 chữ in trên vải Jean:

Không Xung Đột, Không Đối Kháng, Tôn Trọng Lẫn Nhau, Hợp Tác Cùng Thắng.

Còn khi gặp Việt, Tàu múa quyền ẻo lả như Lâm Bình Chi, xòe ra quạt giấy có 16 “chữ vàng”:

Láng Giềng Hữu Nghị, Hợp Tác Toàn Diện, Ổn Định Lâu Dài, Hướng Tới Tương Lai.

Tàu có bịnh tự tin thái quá nên không biết rằng:

Nga mà tin Tàu, ủng hộ Tàu, hữu nghị với Tàu, nghĩa là bị lú bùa mê của Tàu thì có mà mất đứt vùng Viễn Đông của Hải Sâm Uy, Vùng Siberia, và cả vùng địa cực phương Bắc [1]

Mỹ mà hợp tác với Tàu nghĩa là bị lú bùa mê của Tàu thì có mà tan nát Hoa Kỳ với ít nhất 10 tiểu bang tách thành 10 quốc gia mới với các tổng thống là người Tàu.

Việt mà lo nhìn về hướng tương lai do Tàu giơ tay chỉ chỏ nghĩa là bị lú bùa mê của Tàu thì có mà bị Tàu đấm lén từ sau lưng té lọt xuống Biển Đông.

Do Tàu bị điên bị dại nên không nhận ra một điều rằng cái sở học của Tàu đã tuôn tràn ào ạt về Việt Nam hết trơn hết trọi rồi [2] nên bùa Tàu bây giờ hết thiêng, mà chữ Tàu bây giờ cũng hóa dỏm, giọng điệu nghe rất quê mùa. Mà cái cố hữu của người Việt là luôn luôn lịch sự, nên tôi có nhờ cụ Lăng Tần múa bút viết 16 “chữ vàng” sau để tặng Tàu, nhờ Dương Khiết Trì đem về treo trong Trung Nam Hải:

Cẩu Tặc Chôm Giềng, Bị Tát Toàn Thân, Ớn Lạnh Lâu Dài, Hết Đường Tương Chao [3]

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Địa cực phương Bắc” là cụm từ thay thế cho cụm từ khác gồm hai từ, vì từ phải tránh đó khi nói lái thì lại rất khủng khiếp trong tiếng Việt.

[2] Hoàng Hữu Phước, 27-6-2012. Ngộ Số. http://antichina.blog.com/?p=49

[3]Hết đường tương chao” là thành ngữ của dân Sài Gòn trước 1975, có nghĩa chẳng còn gì để mà mơ tới xơ múi.

Lại Trí Thức!

Hoàng Hữu Phước, MIB

Đang dự Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội Khóa XIII tại Hà Nội, được học trò báo cáo rằng đang có vụ mấy “nhà trí thức” gởi thư thu thập chữ ký về tình hình khẩn cấp của non sông đồng thời nói xúc xiểm xỏ xiên lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, v.v. , tôi buộc phải viết bài ngăn ngắn này để lột mặt nạ bọn con nít học đòi múa may chính trị ấy.

Thứ nhất, cái nhóm “nhà trí thức” ấy nào phải là trí thức nếu áp theo công thức được liệt kê chính xác trong bài viết Thế Nào Là Nhà Trí Thức đăng trên blog này ngày 07-02-2014 (http://hhphuoc.blog.com/?p=290). Đó là chưa kể từ nhiều ngàn năm nay, danh xưng “nhà trí thức” luôn luôn phải do nhân dân ban cho, cộng đồng xã hội hàn lâm dùng gọi, chứ không phải do một Nhà Nước nào gán gọi như ở Việt Nam. Cũng vì vậy, do Nhà nước Việt Nam đã gọi mấy vị này là “giới trí thức” nên cách chi mà họ là trí thức! Tương tự, Nhà nước đang tuyên bố đưa các “trí thức trẻ” về làm lãnh đạo ủy ban nhân dân xã vùng sâu vùng xa, nên cách chi mà mấy cô cậu mới tốt nghiệp đại học ấy là trí thức! Suy ra mấy ông mấy bà trước đây là chức sắc viện này viện nọ, không có kỳ tích nào của bản thân để giới hàn lâm học thuật tụng xưng, lại chẳng có công trạng gì liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ để nhân dân ca ngợi hay biết đến, được Nhà nước ban cho hai chữ “trí thức” vừa do muốn có cớ gia tăng thêm phụ cấp bổng lộc để các vị và gia đình đỡ vất vả, vừa để Đảng được tiếng tốt là có cả một giới trí thức vừa hồng vừa chuyên một lòng ủng hộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Đặc biệt, lúc tại vị muốn giữ ghế, các vị ngậm tăm, chẳng hiến kế bày mưu gì ráo, phó mặc chuyện quốc gia đại sự ra sao thì ra – kể cả khi Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc năm 1979 gây tang thương cho bao vạn dân lành – Đảng muốn điều hành sao thì cứ việc làm thế. Còn nay tuổi già bóng xế, viện không còn mà ghế cũng không còn, các vị đột nhiên đột biến ra sức hô hào yêu nước khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981, và bày trò vấn kế cứu nước. Do bất tài vô hạnh và vô dụng chưa từng được người dân biết đến, lại thấy thời đại khoa học kỹ thuật tiến như tên bắn, sợ bản thân sớm mất hai chữ “trí thức” do lớp trẻ nay rất tài giỏi sẽ soán ngôi, và do hô hào yêu nước chung chung thì rất dở hơi, các vị bèn đánh vào Đảng, vào chế độ, để ra vẻ ta đây có dũng khí và tiết tháo của những nhà chí sĩ (trong khi biết rõ mười mươi là Đảng không bao giờ động đến mình), đồng thời để có nhiều người ủng hộ gồm (a) những người bất tài vô dụng và vô hạnh y chang các vị, (b) một bộ phận những người lầm tưởng các vị là nhà trí thức thực thụ, và (c) những kẻ thuộc nhóm “thù trong, giặc ngoài”. Nói tóm lại, khi nay đã rõ các vị ấy chẳng là “trí thức” thì người dân hiểu biết và thông tuệ ắt sẽ nhún vai khinh bỉ chứ không bao giờ tham gia ký tên vào các bản kiến nghị ấy.

Thứ nhì, cái nhóm “nhà trí thức” ấy không ai có tư cách tư thế của nhà trí thứcnhà trí thức luôn có sĩ khí cao vời vợi, tôn trọng tôn ti trật tự thứ bậc, và có nhận thức chuẩn mực về bản thân trong tương quan nhân quần xã hội. Sĩ khí cao sao được khi mà nỗi khiếp sợ bị trừng phạt cùng nỗi xấu hổ trước khả năng ý kiến của chính mình có thể nớt non ngây dại khiến phải ra sức lôi kéo nhiều người cùng tham gia ký tên vào kiến nghị để không phải chịu trách nhiệm một mình! Tôn trọng tôn ti trật tự gì cái đám vô đức bất tài phi trí chả biết gì về trị quốc và chính trị, chờ đến lúc nghĩ hưu mới nêu ý này ý nọ đòi lãnh đạo Nhà nước phải nghe theo! Và làm gì có khẳ năng nhận thức chuẩn mực về bản thân khi chẳng thi thố gì về chuyên môn nghiệp vụ, đến lúc tàn đời lại ra vẻ ta đây nhuyễn về trị quốc, rành về chống giặc, giỏi việc an dân!

Lập luận của cái đám “trí thức” này chỉ làm người dân ngạc nhiên khi vừa bảo đất nước lâm nguy (như một kiểu hòa âm điền dã cho hợp “tông” với tình hình đang căng thẳng ở Biển Đông, ra vẻ ta đây rất yêu nước, rất lo cho vận mệnh quốc gia, rất biết phải làm gì để cứu nước, trong khi thật ra là bức xúc vì thấy Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam đang được nhân dân Việt Nam ca ngợi và quốc tế ủng hộ cao) vừa xỏ xiên lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam như thể các lãnh đạo này đang cúi lòn, bán nước, dâng đảo, cho bá quyền Trung Quốc, không chịu hay không dám lên tiếng công kích Đảng Cộng Sản Trung Quốc (như một kiểu khẳng định…những gì chúng tớ đã phê phán trước khi có vụ giàn khoan Hải Dương 981 thì nay vẫn kiên định như thế về Đảng Cộng Sản Việt Nam).

Những bậc uyên thâm chơi cờ tướng đều hiểu rất rõ rằng Tướng luôn được các quân Xe, Pháo, Mã, Tượng, Sĩ, Tốt che chắn cho đến cùng, và lúc nào chủ động xuất Tướng sau khi đã bày binh bố trận chặt chẽ thì chỉ có nghĩa là Tướng của đối phương sắp bị chiếu bí và bại trận. Chỉ có trẻ con không biết gì mới nói hãy cho Tướng xuất đầu lộ diện ngay.

Những nhà chính trị kiệt xuất ở Việt Nam đều biết rất rõ rằng tuần tự lần lượt những lãnh đạo chính phủ và cơ quan chính quyền sẽ lên tiếng về vấn đề xâm lấn của Trung Quốc, vì họ là những nhà trị quốc trực tiếp phải đích thân trổ tài ứng phó trước thế giới với trọng trách cụ thể và chức năng phân quyền cụ thể. Nếu xung đột xảy ra với kết quả Việt Nam đánh cho Trung Quốc đại bại như đã luôn từng bất di bất dịch như thế, Việt Nam coi như đã chừa một con đường thể diện cho Trung Quốc để Đảng Cộng Sản Trung Quốc có cơ hội tuyên bố đổ lỗi cho Chính phủ Trung Quốc rằng “Ngộ đâu có cho tụi nó gây hấn với Việt Nam mà tụi nó hổn láo hổng có chịu nghe. Nị cho ngộ xin lỗi nhe”, và Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam với nụ cười hiền hậu dịu dàng sẽ điềm đạm tuyên bố tiếp nhận sự xuống nước hoặc đầu hàng của Trung Quốc.

Chỉ có bọn con nít mới kêu gào đòi Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam phải lên tiếng mắng Trung Quốc.

Chỉ có bọn phản động, phản quốc, phản bội, chẳng ra người ra ngợm mới hò hét bôi nhọ rằng Tổng Bí Thư Cộng Sản Việt Nam cúi lòn và dâng đảo cho Trung Quốc.

Chính phủ và từng cơ quan Nhà nước Việt Nam biết phải làm gì, làm ra sao, làm vào lúc nào, để chiến thắng.

Các kế sách vệ quốc không phải là thứ có thể phơi bày ra trên mạng, nói bô bô trên mồm, lồ lộ ra qua ngôn ngữ viết hay ngôn ngữ cử chỉ. Do đó, những “kiến nghị” của đám trí-thức-tự-phong-chứ-không-do-nhân-dân-hay-cộng-đồng-hàn-lâm-công-nhận chỉ là những thứ nhằm một mục đích duy nhất là chống phá Việt Nam và bôi nhọ lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII (2011-2016)

Ủy Viên Ủy Ban Đối Ngoại Của Quốc Hội

Thảo Luận Tại Hội Trường Quốc Hội

Hoàng Hữu Phước, MIB

 

Báo Tuổi Trẻ đã không chính xác khi viết rằng tại buổi thảo luận vừa qua tại hội trường vài đại biểu quốc hội đã đã đề nghị đưa Luật Biểu Tình vào chương trình nghị sự trong kỳ họp thứ 8 (tháng 10-2014) để có thể thông qua trong kỳ họp thứ 9 (tháng 6-2015), và không có đại biểu nào phản đối.

Để cung cấp cho người dân cả nước thông tin về “thảo luận tại Quốc hội” nước nhà, tôi xin nêu như sau.

Hình thức thảo luận thứ nhất là “thảo luận tại Tổ” theo từng đoàn đại biểu dưới sự chủ trì của Trưởng hoặc Phó Đoàn. Tại những buổi “thảo luận” này các đại biểu phát biểu và tranh luận về một hay hai dự án luật cụ thể. Địa điểm thảo luận tổ là tại khách sạn nơi đoàn lưu trú hoặc tại văn phòng một cơ quan của Quốc hội. Phóng viên báo chí được tham dự hầu hết các buổi thảo luận Tổ của tất cả các đoàn để ghi hình, đưa tin, và có thể phỏng vấn vào lúc giải lao. Nội dung buổi “thảo luận tại Tổ” được thư ký đoàn lập biên bản gởi Thường vụ Quốc hội.

Hình thức thảo luận thứ nhì là “thảo luận tại hội trường” với sự tham gia của toàn thể các Đại biểu Quốc hội dưới sự chủ trì của ít nhất 3 trong số 5 vị Chủ tịch và Phó chủ tịch Quốc hội. Tại những buổi “thảo luận” này các đại biểu hoặc đọc bài phát biểu soạn sẵn của mình hoặc phát biểu ứng khẩu, tất nhiên về một dự án luật cụ thể hay một chủ đề cụ thể. Địa điểm thảo luận hiện nay là tại Hội trường Bộ Quốc Phòng do tòa nhà Quốc hội chưa được xây dựng xong. Phóng viên báo chí được tham dự hầu hết các buổi thảo luận tại hội trường  để ghi hình, đưa tin, và có thể phỏng vấn vào lúc giải lao. Do số lượng Đại biểu Quốc hội là gần 500 người, và thời lượng quy định 7 phút/người trong thời gian vài chục phút mỗi buổi nên trung bình chỉ có khoảng 20 hay 25 Đại biểu Quốc hội có nhấn nút đăng ký phát biểu được mời phát biểu, chưa kể do phải bảo đảm công bằng nên trong trường hợp thí dụ đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh gồm 30 vị, có 6 vị nhấn nút trước thì cũng không thể độc chiếm diễn đàn mà chỉ có 1 vị được mời phát biểu để dành thời gian cho các vị ở đoàn tỉnh thành phố khác, trừ phi số Đại biểu Quốc hội đăng ký ít và thời gian lại còn nhiều thì tất cả những người có nhấn nút đăng ký đều được mời phát biểu. “Thảo luận” tại hội trường do đó không có “tranh luận” – trừ phi số Đại biểu Quốc hội đăng ký ít và thời gian lại còn nhiều nên có trường hợp – cực kỳ hiếm hoi – một vị nhấn nút để tranh luận với một đại biểu đã phát biểu trước đó.

 

Như vậy, không hề có việc “không có đại biểu nào phản đối” đối với các “bài đọc” đề nghị đưa ngay Luật Biểu Tình vào chương trình nghị sự. Dự thảo chương trình xây dựng luật bao gồm vài chục dự án, và các đại biểu nhấn nút vì muốn đọc bài phát biểu đã soạn công phu về một trong số hàng chục dự án đó, chứ không phải chỉ có Luật Biểu Tình. Khi viết rằng “không có đại biểu nào phản đối” phải chăng tờ báo muốn lái dư luận đến cách nghĩ rằng tất cả các Đại biểu Quốc hội đều đồng tình như thế?

Tuần qua, Quốc hội đã thông qua Chương trình Xây dựng Luật, Pháp lệnh Nhiệm Kỳ Quốc hội Khóa XIII, Năm 2014 và Chương trình Xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2015, và có phóng viên đã hỏi tôi xem tôi có nhấn nút thông qua việc làm Luật Biểu Tình hay không, và tôi đã trả lời rằng tôi đã nhấn nút tán thành chương trình xây dựng luật 2014-2015, trong đó có Luật Biểu Tình. Là người luôn lo cho đại cuộc của quốc gia, dân tộc, tôi tán thành toàn bộ chương trình dù luôn tin rằng đất nước này không cần biểu lộ lòng yêu nước bằng hình thức biểu tình. Tôi hoàn toàn khinh thường kẻ đã nhấn nút không thông qua Hiến pháp 2013 vì y thấy chưa yên tâm về một điểm của dự thảo Hiến pháp.

Quan tâm đến thực chất của “thảo luận” vốn luôn bao gồm “tranh luận” là phần vẫn còn thiếu ở Quốc hội Việt Nam, tôi đã gởi thư sau đến lãnh đạo Quốc hội:

****

Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2013

Kính gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

               Các Phó Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Khóa XIII

Bản sao kính gởi:

-          Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

-          Phó Chủ Tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

-          Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

-          Tổ Đại biểu Quốc hội Đơn vị 1, Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh

-          Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại

 

Kính thưa Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc Hội:

V/v :  Góp Ý Về Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họp

Tôi ký tên dưới đây là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh;

Với những kinh nghiệm trong hoạt động giảng dạy, biên soạn giáo trình, và giao dịch đối ngoại qua hợp đồng kinh tế và thư tín kể từ những năm 1980 đến nay,

Kính có các ý kiến cá nhân như sau về về việc phát biểu tại Hội trường Quốc hội trong các kỳ họp.

1) Tình hình thực tế:

Qua các kỳ họp từ kỳ 1 đến kỳ 6 Quốc hội khóa XIII tôi nhận thấy quy trình phát biểu của đại biểu như sau:

a- Đại biểu vào hội trường bấm nút đăng ký

b- Lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp mời đại biểu phát biểu

c- Đại biểu phát biểu (chủ yếu đọc bài viết soạn sẵn để chủ động bảo đảm thời lượng quy đinh 7 phút)

Quy trình trên hoàn toàn công bằng theo mặc định (người trước người sau theo thứ tự ấn nút đang ký trước-sau) và theo tổ chức (lãnh đạo chủ trì sẽ điều tiết để tránh nhiều đại biểu cùng đơn vị cùng đăng ký trước nếu phát biểu theo thứ tự trước-sau sẽ không ành thời gian cho các đại biểu ở đơn vị khác).

Tuy nhiên, hai yếu điểm bộc lộ từ quy trình trên là người dân hoàn toàn không thấy có sự tranh luận bất kỳ tại Quốc hội mà chỉ có việc mạnh ai nấy đọc bản tham luận của mình, trong khi đó lại chứng kiến (qua trực tiếp truyền hình) việc lãnh đạo Quốc hội yêu cầu đại biểu không lập lại nội dung trùng ý của đại biểu khác đã phát biểu trước đó nhưng các đại biểu vẫn vô tư đọc đầy đủ và trọn vẹn các bài viết sẵn có các đoạn trùng ý.  Hai yếu điểm này sẽ được người dân nhận ra, làm gia giảm sự quan tâm đến các buổi trực tiếp truyền hình, khiến nỗ lực gia tăng thời lượng phát sóng trực tiếp bớt hiệu quả chính trị, trong khi đó lại gia tăng cơ hội cho bọn chống Việt Nam lợi dụng để chỉ trích.

2) Kiến nghị:

Để sự phát biểu mang ý nghĩa ích lợi thực tế, tôi kính đề nghị:

a- Trước kỳ họp, các đại biểu gởi bài phát biểu đến Quốc hội để được đăng tải trên trang web Quốc hội. Do đại biểu đã biết kỳ họp sẽ có nội dung nào, về các luật gì, và các đoàn đều có tổ chức mời giới luật gia và ban ngành đoàn thể đến tập trung góp ý cho từng dự án luật hay từng vấn đề một nên các đại biểu đều nắm thông tin, nghiên cứu thêm, và hình thành trước các bản góp ý hay phát biểu. Vấn đề là đem theo các bài soạn sẵn chờ đến kỳ họp đúng ngày đúng buổi để nhấn nút phát biểu và gặp phải sự phát biểu trùng ý sẽ khiến sinh hoạt như vậy kém hiệu quả và thiếu chuyên nghiệp. Việc đăng bài lên trang web Quốc hội (mỗi đại biểu có quyền gởi  hàng chục bài tham luận cho hàng chục đề tài khác nhau theo chương trình dự kiến của Quốc hội) giúp người dân theo dõi, và giúp các đại biểu đọc tham luận của nhau, từ đó phát hiện những vấn đề nào cần phải tranh luận thêm vì chưa đồng thuận để ghi nhận và chờ đến kỳ họp để tranh luận trực tiếp tại hội trường.

b- Tại kỳ họp, việc nhấn nút của đại biểu là để tranh luận về chi tiết ý kiến mà đại biểu khác đã thể hiện trong bài viết đã đăng tải trên web Quốc hội mà người dân đã đọc và đã nắm thông tin. Việc theo dõi tranh luận – nếu nhằm phiên có trực tiếp truyền hình – của người dân do đó sẽ có hứng thú trước nội dung tranh luận, khả năng hùng biện, hiệu quả thuyết phục, để qua đó nhận xét về khả năng của từng đại biểu của dân. Theo cách này, thời gian mỗi kỳ họp có thể ngắn hơn, hoặc có nhiều thời gian hơn cho những vấn đề trọng đại khác mà từng thời điểm có thể đặt, thay vì chỉ là việc đọc các bài soạn sẵn để góp ý cho một dự án luật nào đó mà sự góp ý có thể thực hiện sớm hơn (gởi email để được đăng ngay lên web Quốc hội), ít tốn kém cho Nhà nước hơn (chi phí cho thời lượng phát sóng trực tiếp để dành giúp dân nghèo).

c- Ngoài ra, về vấn đề kỹ thuật công nghệ thông tin (xin được gọi tắt là IT) cũng cần nâng cấp hợp lý, theo đó, khi một đại biểu đang phát biểu (theo hướng b ở trên), các đại biểu khác nếu thấy nhất thiết phải tham gia phản biện thì có thể nhấn nút để “chen ngang”, theo đó, sau khi đại biểu ấy phát biểu xong, lãnh đạo Quốc hội chủ trì phiên họp sẽ mời đại biểu nhấn nút “chen ngang” phát biểu thay vì mời đại biểu đã đăng ký tiếp theo trước đó. Theo cách này, sự tranh luận sôi nổi tại hội trường sẽ được hình thành, và đó là điều cần thiết trong sinh hoạt Quốc hội. Việc thêm một chức năng như vậy vào hệ thống IT, theo tôi, không phải là điều có khó khăn về kỹ thuật và tài chính.

Kính mong nhận được sự quan tâm của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội đối với các ý kiến trên.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

****

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Luật Biểu Tình

Hoàng Hữu Phước, MIB

Hà Nội, ngày 26-5-2014

Biến động từ việc Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt dàn khoan Hải Dương 981 sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, dẫn đến những cuộc tuần hành tự phát bị kẻ xấu lợi dụng như tại Bình Dương, khiến dấy lên sự tập trung cực kỳ bất thường của một số ý kiến vào việc phải có ngay dự án Luật Biểu Tình.

Trong phiên họp tại Quốc hội Việt Nam chiều ngày 26-5-2014 liên quan đến Chương trình Xây dựng Luật, Pháp lệnh Nhiệm Kỳ Quốc hội Khóa XIII, Năm 2014 và Chương trình Xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2015, vài đại biểu đã đề nghị đưa Luật Biểu Tình vào chương trình nghị sự trong kỳ họp thứ 8 (tháng 10-2014) để có thể thông qua trong kỳ họp thứ 9 (tháng 6-2015) với các lý do như nhân dân có nhu cầu lớn về biểu tình, chính vì chưa có khung pháp lý của một Luật Biểu Tình nên mới dẫn đến bạo động và bạo loạn vừa qua, và thậm chí Quốc hội Khóa XIII này phải xây dựng Luật Biểu Tình để trả nợ nhân dân vì nhiều khóa qua đã không có Luật Biểu Tình , v.v. Ý kiến của tôi về hiện tượng bốc đồng này như sau:

1) Người ta cho rằng nhân dân có nhu cầu lớn về “biểu tình”, rằng “biểu tình” ở Việt Nam là do nhu cầu thể hiện lòng yêu nước, và rằng “biểu tình” ở Việt Nam xuất phát từ những mục đích, yêu cầu chính đáng. Nhu cầu ấy “lớn” đến đâu, không ai có thể đưa ra bất kỳ cơ sở nào để định lượng và định tính, chưa kể sự phân định rõ ràng về ngữ nghĩa của những từ khác nhau dùng cho những nội dung khác nhau trong ngôn ngữ khác thì lại hóa ra nhập nhằng trong từ ngữ “biểu tình” của tiếng Việt. Vì vậy khi ý nghĩa ngữ nghĩa học chính thức của “biểu tình” trên thế giới là để bày tỏ sự phản kháng đối với chính quyền vì quyền lợi của một nhóm dân bị cho là xâm hại, thì có vị phải ra sức giải thích rằng “biểu tình” ở Việt Nam là để thể hiện lòng yêu nước, vậy phải chăng Luật Biểu Tình sẽ được viết rõ hơn thành Luật Biểu Tình Kiểu Việt hoặc Luật Tụ Họp Đông Người Bày Tỏ Lòng Yêu Nước? Và phải chăng họ muốn xúc phạm nhân dân thế giới khi cho rằng “biểu tình” ở Việt Nam xuất phát từ những mục đích, yêu cầu chính đáng, cứ như thể mỉa mai nhân loại biểu tình vì những mục đích, yêu cầu không chính đáng vậy.

2) Người ta đổ thừa rằng vì chưa có khung pháp lý, chưa có Luật Biểu Tình, nên mới dẫn đến bạo động và bạo loạn vừa qua, trong khi bất kỳ người dân Việt Nam đàng hoàng nào cũng biết rõ rằng không phải chỉ có các bộ luật mà còn có các quy-định-như-luật tức các pháp lệnh và nghị định để điều chỉnh các hành vi, phục vụ các yêu cầu sinh hoạt xã hội, dân sinh. Nghị định 38/2005 của Chính phủ là cơ sở pháp lý để người dân “biểu tình đúng luật”. Cho đến nay vẫn chưa có đúc kết về tác dụng của nghị định này, chưa có bất kỳ kiến nghị nào về nghị định này, và cũng chưa có ai hay tổ chức luật nào ra sức tư vấn cho người dân biết về nội dung của nghị định này để hành sử khi có nhu cầu “biểu tình”. Chỉ tập trung đòi có Luật Biểu Tình đến độ lụp chụp quy chụp bảo do thiếu Luật Biểu Tình gây ra bạo loạn và bạo động, vậy những bạo động và bạo loạn đốt phá kinh hoàng ở Luân Đôn, Liverpool, Manchester và các thành phố lớn khác của Anh Quốc ngày 11-8-2011, hay ở Detroit Hoa Kỳ ngày 23-7-1967 mà đã nửa thế kỷ trôi qua vẫn chưa thể hồi phục kinh tế của Detroit, phải chăng vì hai quốc gia ấy chưa có Luật Biểu Tình? Sự tồn tại của luật về giao thông không bao giờ để chấm dứt các vi phạm giao thông. Làm ngơ với Nghị định 38/2005 chỉ với một  ngụ ý hô hào người dân đừng thèm tuân theo các nghị định hay pháp lệnh hay bất kỳ văn bản pháp luật nào khác nếu chưa có cái gọi là “luật”.

3) Người ta thậm chí còn cho rằng biểu tình gây bất ổn ở các nước là do các nước đó đa đảng và có những bức xúc mâu thuẫn chính trị giữa các phe nhóm đảng phái ấy. Hóa ra biểu tình ở các nước ấy là do sự choảng nhau giữa các đảng viên các đảng khác nhau, chứ người dân họ không có quyền biểu tình sao? Lại là một sự xúc phạm đến người dân các nước.

4) Việc quá chú mục vào Luật Biểu Tình tình cờ trùng hợp với các quan tâm kỳ lạ của các nhóm chống Cộng ở nước ngoài đến luật này, khoác cho việc biểu tình trái pháp luật vừa qua tấm áo “yêu nước”, phải chăng đã không nhìn nhận việc người nông dân tích cực canh tác là yêu nước, học sinh tích cực học giỏi là yêu nước, y bác sĩ tận tụy vì người bệnh và không bao giờ chích nhầm thuốc là yêu nước, công chức tận tụy vì nhân dân là yêu nước, quan chức giao cho công an những kẻ đến hối lộ là yêu nước, tu sĩ hết lòng an dân là yêu nước, ngư dân cố gắng bám biển là yêu nước, doanh nhân cố gắng tồn tại để đóng thuế nhiều hơn là yêu nước, người thầy dốc sức dạy học gấp trăm lần mức thù lao nhận được là yêu nước, các chiến sĩ đang nắm chặt súng dõi mắt trên trận địa là yêu nước, v.v. Phải “xuống đường”, phải giơ biểu ngữ, phải hét vào loa, v.v., mới được gọi là yêu nước để có “Luật Xuống Đường” tức “Luật Biểu Tình” sao? Còn bám biển không là yêu nước nên không có Luật Bám Biển sao? Hay lại viện cớ Hiến pháp không nói gì đến “bám biển”?

Nhất thiết phải có Luật Biểu Tình, đơn giản vì đó là một trong vô số quyền hiến định của Việt Nam. Khi Hiến pháp sửa đổi được thông qua năm 2013, các luật hiện hành đều phải được điều chỉnh cho phù hợp, các luật mới đều sẽ được lập ra để tương thích, và vấn đề tùy thuộc vào quỹ thời gian và đặc biệt là theo thứ tự ưu tiên như thông lệ tốt của cơ chế quản trị văn minh tiến bộ bất kỳ.Việt Nam chưa là cường quốc. Việt Nam có bao vấn đề nhức nhối về kinh tế phải ưu tiên giải quyết. Việt Nam có bao vấn đề nhức nhối về bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải phải ưu tiên giải quyết.  Việt Nam có bao vấn đề nhức nhối về giáo dục phải ưu tiên giải quyết. Việt Nam có bao vấn đề nhức nhối về các món nợ công phải ưu tiên giải quyết. “Quyền biểu tình” dứt khoát không thể đứng đầu danh sách ưu tiên; và do đó, trong khi chờ đợi để thực hiện theo lịch trình lập pháp của Thủ Tướng đối với Luật Biểu Tình, Nghị định 38 năm 2005 vẫn còn hiệu lực để làm khung pháp lý cho nhu cầu biểu tình của người dân – nếu thực sự có nhu cầu ấy.

Dường như các vị đại biểu khi vội vàng vinh danh Luật Biểu Tình do cần có cái cớ để che đậy sự bất lực của cơ quan chức năng không giám quản và xử lý nổi sự cố tương tự như ở Bình Dương đã làm ngơ trước sự thật là Luật Biểu Tình đòi hỏi rất nhiều thời gian để chuẩn bị vì Quốc hội nhất thiết phải xem xét sửa đổi một số luật khác có liên quan đến Luật Biểu Tình như Luật Lao Động, Luật Hình Sự, v.v., để giúp sự thông qua dự án Luật Biểu Tình được thuận lợi vào thời điểm đệ trình. Chưa kể, Bộ Tài Chính và các Bộ có liên quan còn phải làm việc với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tái bảo hiểm trong nước và nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, để rà soát nội dung hợp đồng bảo hiểm; chẳng hạn với bảo hiểm nhân thọ thì liệu đã có điều khoản chấp nhận bồi thường nếu chủ hợp đồng thương vong do chủ động tham gia biểu tình hoặc bị hại do biểu tình chưa, và nếu chưa thì liệu các doanh nghiệp này có tăng mức bảo phí và ký lại hoặc hủy hợp đồng hay không, và các phương án xử lý khiếu nại phát sinh từ việc hủy hợp đồng bảo hiểm, v.v.

Trong khi chờ đợi để thực hiện theo lịch trình lập pháp của Thủ Tướng đối với Luật Biểu Tình, Nghị định 38 năm 2005 vẫn còn hiệu lực để làm khung pháp lý cho nhu cầu biểu tình của người dân – nếu thực sự có nhu cầu ấy. Trước mắt, những việc sau đây nhất thiết phải được thực hiện:

- Tái phổ biến nội dung Nghị định 38/2005, thêm các Thông tư hướng dẫn, nếu cần, để củng cố “khung pháp lý”.

- Do tất cả các lập luận đều quy về nội hàm “bày tỏ lòng yêu nước”, khi có các nhóm dân đăng ký “biểu tình”, chính quyền ngay lập tức bảo đảm tổ chức ngay tại địa điểm “biểu tình” những quầy tuyển quân dành cho những người dân biểu tình muốn thể hiện lòng yêu nước qua việc đăng ký nhập ngũ, quầy “hiến máu” dành cho những người dân biểu tình muốn thể hiện lòng yêu nước qua việc hiến máu phục vụ quân đội, quầy “hiến tặng” dành cho những người dân biểu tình muốn thể hiện lòng yêu nước qua việc trao tặng tiền bạc, nữ trang, điện thoại, xe cộ, v.v., dùng bán đấu giá lấy tiền đóng góp cho Quốc Phòng, v.v. Bộ Tài Chính cần thiết kế biểu mẫu cũng như công thức định giá các vật hiến tặng để ghi công của những người dân biểu tình bày tỏ lòng yêu nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn dân giàu, nước mạnh. Đại biểu Quốc hội phải đáp ứng mong muốn này của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như sự kỳ vọng của nhân dân.

Làm cho dân giàu, đó chính là thể hiện cái tài của người yêu nước chân chính.

Làm cho nước mạnh, đó chính là thể hiện cái tài của người yêu nước chân chính.

Dân giàu, nước mạnh, mới chống giặc ngoại xâm hiệu quả nhất, nhanh chóng nhất, vững bền nhất.

Trước ngày khai mạc Kỳ họp 7 này của Quốc hội, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã kêu gọi tập trung xây dựng kinh tế để đất nước hùng mạnh khi cử tri nêu bức xúc về Trung Quốc. Các bộ luật giúp dân giàu, nước mạnh, do đó, hơn bao giờ hết chính là nhu cầu cấp thiết, bức thiết, và cần thiết.

Đừng xảo biện rằng Hiến pháp hiến định quyền biểu tình nên phải có ngay Luật Biểu Tình, rằng không có Luật Biểu Tình là vi hiến, và rằng chỉ cần soạn xong Luật Biểu Tình là đã “trả xong món nợ với nhân dân”.

Dân chưa giàu, nước chưa mạnh, dân mãi chịu thua thiệt xử bức trên thương trường quốc tế, nước mãi bị lân bang dọa nạt lấn xâm, đó không những là món nợ dai dẳng mà còn là sự tủi nhục khôn khuây của những “chính khách” của đất nước này. Các đại biểu quốc hội thuộc phạm trù gọi là “chính khách” ấy.

“Chính khách” chân chính không trốn núp đàng sau dự án Luật Biểu Tình.

Người dân Việt Nam chân chính không bao giờ cho rằng các “chính khách” có công lớn với tổ quốc Việt Nam và dân tộc Việt Nam khi ban hành xong Luật Biểu Tình.

Nhất thiết phải có Luật Biểu Tình, đơn giản vì đó là một trong vô số quyền hiến định của Việt Nam, chứ không phải vì đó là Luật Về Lòng Yêu Nước!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Biểu Tình và Ô Danh

Hoàng Hữu Phước

20-5-2014

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Bài của Hoàng Hữu Phước trên emotino ngày 20-4-2011)

Chiều nay lúc trời đổ cơn mưa như trút, tôi nhận được điện thoại từ số 006626521113 của người tự xưng là phóng viên Đài Phát Thanh Châu Á Tự Do với nội dung có thể tóm tắt như sau:

RFA: Xin hỏi thăm có phải đây là số điện thoại của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước, người đã có những bài viết trên Emotino mà nhiều người Việt (ở hải ngoại) đang rất quan tâm? … Xin Thạc sĩ cho biết ông nghĩ gì về Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và ý kiến ông thế nào trước lời kêu gọi phải tha bổng Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ?

Đáp: Tôi biết đến ông ấy qua đoạn phát biểu trên mạng khi ông ấy nói lung tung về kiện tụng này nọ. Là người học về luật, ông ấy lẽ ra phải rõ là tất cả đều phải theo một khuôn khổ luật pháp nhất định, và việc phản ảnh hay đấu tranh đều phải theo các khuôn khổ ấy. Nếu ông ấy làm đúng (theo các thủ tục thì) người ta sẽ xem xem ông ấy nêu đúng hay sai và sẽ công nhận ông ấy đúng nếu ông ấy đúng. Còn sự việc thứ hai tôi biết về ông ấy là qua một văn bản ông ấy tung trên mạng đòi quốc hội xử phạt những người làm phim lịch sử Việt Nam sai, và tôi thấy rõ là ông ta có vấn đề bất ổn tâm l‎ý (thần kinh).

Về việc bạn nói thu thập chữ k‎ý đòi thả Cù Huy Hà Vũ thì tôi xin nói thế này: mỗi nước có hệ thống luật pháp riêng (và mọi công dân phải tuân thủ cũng như chịu trách nhiệm cá nhân khi vi phạm các quy định ấy). Tùy theo tội danh mà một phạm nhân bị phạt tiền, hay phạt tù, mấy tháng hoặc mấy năm, theo luật pháp (của nước mà người đó là công dân). Cù Huy Hà Vũ phạm tội và phải bị phán xử theo luật pháp Việt Nam mà ai cũng phải tôn trọng, cũng như Việt Nam tôn trọng luật pháp Hoa Kỳ, không bao giờ tổ chức biểu tình lây chữ ký đòi chính phủ Mỹ phải tha bổng một công dân Mỹ da màu nào đó. Tôi chưa đi du lịch nước nào cả, nhưng tôi đi công tác nhiều nước, và ở đâu tôi cũng tuân theo luật pháp nước đó. Gia đình tôi chăm việc bố thí, vậy mà khi sang Ấn Độ, đến Đất Phật, tôi lại không bố thí vì luật bên ấy cấm bố thí. (Tôi không vì vậy mà nói Ấn Độ vi phạm nhân quyền hay dân quyền).

RFA: Tại sao Thạc sĩ lại nói câu hay nhất của lãnh đạo Việt Nam là “Việt Nam không cần đa đảng”?

Đáp: Từ ngàn xưa người Việt Nam đã có tài ngoại giao mềm mỏng để có thể tồn tại trước các thế lực thù địch. Tôi nghe có một nghi án về Hoàng Đế Quang Trung qua Tàu quỳ ôm gối Vua Càn Long (lễ bão tất) để tỏ lòng hiếu thảo, và ai cũng vì danh dự quốc gia mà nói vua Quang Trung cử người giả dạng mình sang Tàu chứ không phải đích thân người ngự giá. Tôi nghĩ việc giả dạng nếu có cũng không ai được biết, sao lại được công khai trong sử sách chọc giận thiên triều? (mà dù có là người đóng thế vai thì đó cũng mang danh đại diện Việt Nam sang Tàu quỳ ôm gối vua Tàu, chứ đâu thoát được cái nhục quốc gia). Nói thế để bạn hiểu là các vua của ta rất mềm mỏng: anh đánh tôi thì tôi đánh bại anh, đồng thời hòa hoãn hữu hảo với anh, kiếm cách lùi dần về phương Nam để tránh xa anh. Cũng vậy, để đất nước trường tồn, Đảng và Nhà Nước Việt Nam luôn thể hiện sự mềm mỏng, chẳng hạn đối với Mỹ thì mỗi khi Mỹ công bố Báo Cáo Nhân Quyền,  Việt Nam có những ngôn từ phản đối nhẹ nhàng, hay khi Trung Quốc có hành vi này nọ thì Việt Nam cũng nhẹ nhàng phản đối. Việc thay đổi cung cách từ kiểu khôn khéo nhẹ nhàng không nói đến, biến thành dõng dạc tuyên bố “Việt Nam không cần đa đảng” đồng nghĩa với việc Việt Nam đã nhận thức đầy đủ về uy thế của Việt Nam, đặc biệt là hiểu rõ Mỹ cần Việt Nam, và Trung Quốc mới là đối thủ chứ không phải Việt Nam. Ý nghĩ tôi thán phục câu nói ấy là như vậy đó.

À, bạn có thể gọi tôi là “anh” hay “ông”. Tôi luôn gọi các tiến sĩ là “thầy” (bất kể tuổi tác) nhưng lại muốn bản thân mình được gọi là “anh” hay “ông” hơn.

RFA: Xin cảm ơn anh. Nhưng Việt Kiều có đóng góp hàng năm nhiều tỷ USD cho Việt Nam, sao anh lại cho rằng họ không đóng thuế nên không có quyền đòi đa đảng?

Đáp: Tôi đi làm và gởi tiền phụng dưỡng cha mẹ tôi. Đó là đạo hiếu. Các bạn cũng đi làm và gởi tiền về phụng dưỡng cha mẹ các bạn, và các bạn nên tự hào vì đó là đạo hiếu. Tôi đóng góp ý kiến cho nhà nước Việt Nam vì tôi là công dân Việt Nam chứ không phải vì tôi có gởi tiền nuôi cha mẹ nên được đóng góp ý kiến cho nhà nước. Tương tự, các bạn gởi tiền nuôi cha mẹ và cho rằng mình có quyền đòi đa đảng, tôi e là không hợp lý. Thâm chí bạn gởi tiền về cho cha mẹ già yếu của bạn mua một chiếc Roll-Royce và cha mẹ bạn đóng thuế dù cho có đến 500% trị giá chiếc xe, thì đó cũng không phải bạn có đóng thuế cho Việt Nam với tư cách công dân, vì đó là thuế thuộc loại mậu dịch hay phi mậu dịch, Các bạn có đã đóng góp trực tiếp cho chính phủ Việt Nam hiện đại hóa quân đội, xây dựng hải quân hùng mạnh, hay không? Bạn gởi tiền về nuôi cha mẹ và người thân, điều đó tất nhiên có ý nghĩa tích cực ở chỗ trong hoàn cảnh Việt Nam còn nghèo, số tiền các bạn giúp gia đình bạn thoát nghèo, làm vơi bớt đi một phần gánh nặng của chính phủ Việt Nam để chính phủ tập trung lo chô số dân nghèo còn lại.

RFA: Anh nói Việt Nam độc đảng tạo nên chính trị ổn định là mong muốn của các nhà đầu tư nước ngoài, điều này sẽ khiến họ không hài lòng.

Đáp: Nếu tôi là tỷ tỷ phú Việt Nam, tôi sẽ tìm cơ hội đầu tư ở Mỹ (vì Mỹ có hệ thống luật pháp cực kỳ chặt chẽ mà tôi thích luật pháp phải như thê mới bảo đảm việc kinh doanh của mình tồn tại lành mạnh), hay ở những nước chính trị ổn định như New Zealand, Úc, hoặc Hòa Lan. Nếu tôi là tỷ tỷ phú New Zealand, tôi sẽ tìm cơ hội đầu tư vào Đông Nam Á, và tôi bắt đầu tính toán so sánh: Phillipines thì hay có mấy vụ bắt cóc, hành quyết du khách phương Tây; Indonesia hồi giáo cực đoan chống Mỹ và phương Tây; Malaysia thỉnh thoảng có tin phá âm mưu khủng bố; Thái Lan thì hết áo đỏ tới áo vàng, biểu tình hoài; và tôi sẽ đến Việt Nam đầu tư do không muốn tài sản vốn liếng của mình gặp quá nhiều rủi ro từ những bất ổn chính trị. Vậy đó là sự lựa chọn bình thường của giới đầu tư nước ngoài. Tất cả những người nước ngoài tại các công ty nước ngoài tôi đã làm việc đều nói với tôi về ưu điểm chính trị ổn định của Việt Nam. Mà ai cũng biết Việt Nam không phải là quốc gia đa đảng. (Vậy lẽ nào tôi nói sai?)

RFA: Nhưng anh nói dân Việt Nam không cần đa đảng vì yêu sự công bằng. Vậy Việt Kiều không yêu sự công bằng sao, khi đòi đa đảng?

Đáp: Trên võ đài, người thua không căm thù người thắng. Tại Việt Nam, cộng sản đã thắng. Lẽ công bằng là họ được hưởng những gì chiến thắng đem lại. Nếu nói sự gởi tiền về nuôi gia đình là đóng góp để đòi đa đảng thì theo tôi rất có thể năm hay mười năm nửa Việt Nam mới có thể có sự nhìn nhận về “công trạng” đó, nhưng theo lẽ công bằng, những ai đã hy sinh xương máu, tuổi thanh xuân, gia đình, tương lai hạnh phúc cá nhân mới là những người có quyền ưu tiên nêu yêu sách đối với Nhà Nước Việt Nam. Nếu họ đã là liệt sĩ thì sao hưởng quyền lợi đó được. Vậy là thân nhân họ có quyền nói thay họ. Và cứ thế, sự xếp hàng thứ tự trước sau rồi cũng sẽ đến lượt các bạn. Đòi có quyền nói về đa đảng là sự bất công vì các bạn không là công dân Việt Nam có đóng thuế cho Việt Nam, có quyền bầu cử và ứng cử ở Việt Nam. Mà cho dù các bạn có trực tiếp gởi nhiều tỷ USD vào tài khoản riêng của chính phủ Việt Nam để xây dựng đất nước thì đó cũng không để đòi đa đảng. Việc tôi giúp một người (mổ tim) không bao giờ đi kèm yêu cầu người ấy phải phải dạy con của người ấy theo ý tôi hoặc bảo vợ của người ấy mặc quần áo theo ý muốn của tôi.

RFA: Anh có thể nói gì về sự quan tâm đến chính trị của thanh niên Việt Nam ngày nay.

Đáp: Nếu chính trị nghĩa là hoạt động đóng góp xây dựng đất nước thì ngày nay có rất nhiều người trẻ tuổi – có cả sinh viên – bản thân không là đảng viên cộng sản hay đoàn viên cộng sản, tích cực tự ra ứng cử nghị viện. Nếu chính trị nghĩa khác (tức chống cộng hoặc đòi đa đảng) thì nói thật là thanh niên không quan tâm, vì họ quan tâm đến kinh tế, đến học tập làm giàu, v.v. Ngày xưa sau giải phóng, thanh niên lén nghe đài BBC, đài VOA, và cả đài RFA của bạn. Ngày nay họ không ai nghe đài, không phải vì đài BBC bị dẹp (vì BBC vẫn còn chương trình Việt Ngữ online trên mạng), mà chỉ vì họ chán nghe. Ngay cả Hoa Kỳ có công bố Báo cáo Nhân Quyền thi ở Việt Nam chẳng ai tìm đọc hay quan tâm.

RFA: Nhưng còn tự do dân chủ? Đa đảng là có tự do, dân chủ.

Đáp: Mỗi loại cá có môi trường nước riêng để sống như nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn. Không phải ở Mỹ mới có tự do. Không phải ở Việt Nam mới có tự do. Tự do là khuôn khổ phù hợp với văn hóa mỗi giống dân. Việt Nam có tự do, và tôi đang tự do trả lời phỏng vấn. (Không thể chỉ khi nào tôi nói giống phe tự do thì tôi mới tự do.) Thật lạ khi có những đất nước tự do, dân chủ, đa đảng, được Mỹ thân cận, liên minh, đồng minh, lại dưới quyền cai trị độc tài của một cá nhân trong hơn 30 năm, như Indonesia, Phillipnes, v.v. trước đây, và Ai Cập cùng các nước trong khu vực Bắc Phi hiện nay (mà thế giới tự do dường như không hay biết). Ngoài ra, mọi thứ cần có thời gian để thích nghi, chẳng hạn chính phủ Việt Nam từ bao cấp quốc doanh, đã cho cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển doanh nghiệp tư nhân, thậm chí chấp nhận mô hình nền kinh tế thị trường, trước tiên với sự cẩn trọng gọi là “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” – mà nhiều người cười cợt nhạo báng để rồi chính mô hình định hướng ấy đã giúp Việt Nam phát triển. Nghĩa là dần dần sẽ có các điều chỉnh mới, áp dụng mới, theo hoàn cảnh cụ thể, chứ không có nghĩa là cần phải “đòi” tự do dân chủ hay mặc định rằng tự do dân chủ mới có đa đảng. Tôi đã rất chán trò đa đảng thời Việt Nam Cộng Hòa bởi vì đó có phải là đa đảng đâu! Toàn là mấy nhóm liên danh tranh cử kiểu “Kỳ Lân Xuất Hiện Quốc Gia Thái Bình”. Nói thật với bạn: đa đảng có nghĩa là các bạn muốn triệt hạ đảng cộng sản, mà như tôi đã viết trên Emotino: triệt hạ Đảng Cộng Sản tức xóa sổ các tướng lĩnh và Quân Đội Cộng Sản, dẫn đến việc Trung Quốc chiếm Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á.

RFA: Anh viết rất nặng nề và nhiều người (Việt Kiều) không hài lòng (cho rằng anh là cộng sản).

Đáp: Tôi sinh ra ở bịnh viện Từ Dũ, nghĩa là người Sài Gòn của chế độ trước (Việt Nam Cộng Hòa). Tôi theo Tây học và thần phục Tây học. Ba tôi là tú tài Pháp, tất nhiên thần phục Tây học. Ba tôi làm việc cho AirVietnam, và sau giải phóng AirVietnam dù là hàng không dân dụng vẫn được giao về Bộ Quốc Phòng. Đó là lý do ba tôi mất việc, (từ viên chức sang trọng ăn mặc trang nhã mỗi ngày com-plê cà-vạt đi làm, biến thành ông ăn mặc vẫn theo thói quen áo sơ-mi dài tay bỏ trong quần nhưng đi bộ bỏ mối thuốc lá điếu hiệu Đông Nam ở Chợ Bàn Cờ Quận 3). Má tôi là người ít học, chỉ biết mặt chữ của tên các con để thêu tên con vào áo học sinh và khăn tay. Nhưng cả ba và má tôi đều răn dạy các con không được nghe lời chúng bạn vượt biên, đơn giản vì Việt Nam còn mồ mả tổ tiên, còn ông bà cha mẹ. Sau này một anh dân biểu chế độ cũ sau khi học tập cải tạo xong, có đến xin cưới chị tôi và chị tôi sang Mỹ cùng chồng theo diện HO. Ở nhà anh ấy bên Mỹ vẫn đang treo cờ vàng ba sọc đỏ (cờ Việt Nam Cộng Hòa). Còn em gái út của tôi theo chồng là người New Zealand về sống tại đất nước của chồng. Tôi là công dân Việt Nam bình thường. Tôi không là đảng viên cộng sản. Và tôi đang sống trong tự do ở Việt Nam. Chuyện không giống nhau về ý thức hệ như giữa tôi và anh rể cựu dân biểu ấy không có nghĩa chúng tôi là kẻ thù. Mỗi người đều có quyền tự do sống, và tôi chưa bao giờ nói những lời anh ấy và các Việt Kiều khác phát biểu là nặng nề (khiến nhiều người Việt ở Việt Nam không hài lòng). Tôi có nhận nhiều email của một số Việt Kiều tỏ ý không hài lòng sau khi đọc mấy bài tôi viết trên Emotino, nhưng tôi không trả lời, do mục đích viết bài của tôi là để thể hiện quyền tự do ngôn luận và để giới trẻ Việt Nam đang ở Việt Nam hiểu biết hơn, chứ không để bút chiến với ai ở hải ngoại. Thêm vào đó, email của các Việt kiều này có nội dung đàng hoàng, nên tôi cũng kính trọng, dù không hồi đáp. Riêng bạn lại phone trực tiếp, và bạn nói chuyện rất lịch sự, và tôi tỏ lòng kính trọng bạn bằng cách chấp nhận trả lời phỏng vấn.

RFA: Đúng là tôi cũng bất ngờ về anh sau khi nghe anh nói chuyện nãy giờ. Xin hỏi anh câu cuối: anh hãy nói thật lòng về đời sống người dân Việt Nam hiện nay.

Đáp: Khó khăn. Đó là từ ngữ bất kỳ ai đã và đang sống đều nhận thấy như lẽ thường tình. Trên võ đài, người thua không căm thù người thắng. Tại Việt Nam, cộng sản đã thắng. Mười tám năm sống dưới chế độ Sài Gòn, tôi nhận thấy vật giá luôn leo thang. Từ 30/4/1975 đến nay, tôi thấy vật giá luôn leo thang. Đó là điều đương nhiên ở mọi nơi khi con người ngày càng đông đúc hơn, còn đất đai cho lương thực ngày càng thu hẹp lại hơn. Ở đâu tôi cũng thấy người nghèo, Nhưng người nghèo ở Việt Nam thì khác. Kinh tế Mỹ suy sụp, chính phủ Mỹ bỏ ra những gói cứu trợ khổng lồ vực dậy các công ty khổng lồ. Kinh tế Ireland suy sụp, chính phủ Ireland cầu cứu EU. Kinh tế Bồ Đào Nha suy sụp, chính phủ Bồ Đào Nha cầu cứu EU. Kinh tế Việt Nam không suy sụp mà chỉ ngày càng khó khăn hơn do tất cả các cường quốc thế giới suy thoái khiến một số nhà đầu tư hoặc rút lui, hoặc giảm quy mô, hoặc không tăng quy mô; chính phủ Việt Nam chẳng cầu cứu ai. (Vậy người nghèo Việt Nam là những người vẫn chưa thể giàu lên, còn người nghèo các nước nêu trên là  nạn nhân mà sự sụp đổ nền kinh tế đã bần cùng hóa họ). Người Việt lạc quan, và có sức chịu đựng. Cuộc sống bình thường với người giàu và người nghèo. Có người xài toàn hàng hiệu xa xỉ đắt tiền như điện thoại di động và laptop thượng hạng, v.v. Còn người nghèo Việt Nam được xã hội cưu mang với nhiều chương trình như xây nhà tình thương, nhà tình nghĩa, trợ vốn v.v. Đó là nghèo, nghèo khó kiểu Việt. Không phải nghèo bần cùng như nhiều người nghèo Ấn Độ và các nước khác.

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Ghi chép lại nội dung cuộc phỏng vấn quan phone ngày 20-4-2011)

Tài liệu đọc thêm trên Emotino:

1) Hoàng Hữu Phước. 06-7-2009. Tôi Đã “Được” Phóng Viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA Phỏng Vấn Trực Tiếp Tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

2) Hoàng Hữu Phước. 13-02-2011. Luận Về Đa Đảng.

3) Hoàng Hữu Phước.19-12-2010. Tôi Và Cù Huy Hà Vũ.

4) Hoàng Hữu Phước. 07-11-2010. Những Lập Luận Kỳ Quái Của TS Trần Minh Hoàng.

5) Hoàng Hữu Phước. 05-10-2010. Tôi Và Lê Công Định.

6) Hoàng Hữu Phước. 17-05-2010. Tự Do – Dân Chủ

7) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Cù Huy Hà Vũ: Từ Góc Nhìn Của Một Người Việt Hải Ngoại

 

Ghi chú:

Ngay sau cuộc phỏng vấn, tôi lập tức viết bài trên và post ngay lên Emotino, và qua hôm sau báo tin cũng như đưa bằng chứng cho cơ quan an ninh – việc làm mà tất cả những người Việt Nam công chính đoan chính đều thực hiện. Tất nhiên, anh em bạn hữu của tôi trên mạng báo tin cho tôi hay rằng RFA ắt do mắc nghẹn đã không phát sóng cuộc phỏng vấn và vài kẻ vô danh tiểu tốt mang tên nữ nhi la toáng lên rằng bản thân họ đã liên hệ với RFA để kiểm tra và RFA bảo với những mụ đàn bà này rằng đã chưa hề có cuộc phỏng vấn Ông Hoàng Hữu Phước.

Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do về Cù Huy Hà Vũ và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Bài của Hoàng Hữu Phước trên emotino ngày 20-4-2011)

Chiều nay lúc trời đổ cơn mưa như trút, tôi nhận được điện thoại từ số 006626521113 của người tự xưng là phóng viên Đài Phát Thanh Châu Á Tự Do với nội dung có thể tóm tắt như sau:

RFA: Xin hỏi thăm có phải đây là số điện thoại của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước, người đã có những bài viết trên Emotino mà nhiều người Việt (ở hải ngoại) đang rất quan tâm? … Xin Thạc sĩ cho biết ông nghĩ gì về Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ và ý kiến ông thế nào trước lời kêu gọi phải tha bổng Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ?

Đáp: Tôi biết đến ông ấy qua đoạn phát biểu trên mạng khi ông ấy nói lung tung về kiện tụng này nọ. Là người học về luật, ông ấy lẽ ra phải rõ là tất cả đều phải theo một khuôn khổ luật pháp nhất định, và việc phản ảnh hay đấu tranh đều phải theo các khuôn khổ ấy. Nếu ông ấy làm đúng (theo các thủ tục thì) người ta sẽ xem xem ông ấy nêu đúng hay sai và sẽ công nhận ông ấy đúng nếu ông ấy đúng. Còn sự việc thứ hai tôi biết về ông ấy là qua một văn bản ông ấy tung trên mạng đòi quốc hội xử phạt những người làm phim lịch sử Việt Nam sai, và tôi thấy rõ là ông ta có vấn đề bất ổn tâm l‎ý (thần kinh).

Về việc bạn nói thu thập chữ k‎ý đòi thả Cù Huy Hà Vũ thì tôi xin nói thế này: mỗi nước có hệ thống luật pháp riêng (và mọi công dân phải tuân thủ cũng như chịu trách nhiệm cá nhân khi vi phạm các quy định ấy). Tùy theo tội danh mà một phạm nhân bị phạt tiền, hay phạt tù, mấy tháng hoặc mấy năm, theo luật pháp (của nước mà người đó là công dân). Cù Huy Hà Vũ phạm tội và phải bị phán xử theo luật pháp Việt Nam mà ai cũng phải tôn trọng, cũng như Việt Nam tôn trọng luật pháp Hoa Kỳ, không bao giờ tổ chức biểu tình lây chữ ký đòi chính phủ Mỹ phải tha bổng một công dân Mỹ da màu nào đó. Tôi chưa đi du lịch nước nào cả, nhưng tôi đi công tác nhiều nước, và ở đâu tôi cũng tuân theo luật pháp nước đó. Gia đình tôi chăm việc bố thí, vậy mà khi sang Ấn Độ, đến Đất Phật, tôi lại không bố thí vì luật bên ấy cấm bố thí. (Tôi không vì vậy mà nói Ấn Độ vi phạm nhân quyền hay dân quyền).

RFA: Tại sao Thạc sĩ lại nói câu hay nhất của lãnh đạo Việt Nam là “Việt Nam không cần đa đảng”?

Đáp: Từ ngàn xưa người Việt Nam đã có tài ngoại giao mềm mỏng để có thể tồn tại trước các thế lực thù địch. Tôi nghe có một nghi án về Hoàng Đế Quang Trung qua Tàu quỳ ôm gối Vua Càn Long (lễ bão tất) để tỏ lòng hiếu thảo, và ai cũng vì danh dự quốc gia mà nói vua Quang Trung cử người giả dạng mình sang Tàu chứ không phải đích thân người ngự giá. Tôi nghĩ việc giả dạng nếu có cũng không ai được biết, sao lại được công khai trong sử sách chọc giận thiên triều? (mà dù có là người đóng thế vai thì đó cũng mang danh đại diện Việt Nam sang Tàu quỳ ôm gối vua Tàu, chứ đâu thoát được cái nhục quốc gia). Nói thế để bạn hiểu là các vua của ta rất mềm mỏng: anh đánh tôi thì tôi đánh bại anh, đồng thời hòa hoãn hữu hảo với anh, kiếm cách lùi dần về phương Nam để tránh xa anh. Cũng vậy, để đất nước trường tồn, Đảng và Nhà Nước Việt Nam luôn thể hiện sự mềm mỏng, chẳng hạn đối với Mỹ thì mỗi khi Mỹ công bố Báo Cáo Nhân Quyền,  Việt Nam có những ngôn từ phản đối nhẹ nhàng, hay khi Trung Quốc có hành vi này nọ thì Việt Nam cũng nhẹ nhàng phản đối. Việc thay đổi cung cách từ kiểu khôn khéo nhẹ nhàng không nói đến, biến thành dõng dạc tuyên bố “Việt Nam không cần đa đảng” đồng nghĩa với việc Việt Nam đã nhận thức đầy đủ về uy thế của Việt Nam, đặc biệt là hiểu rõ Mỹ cần Việt Nam, và Trung Quốc mới là đối thủ chứ không phải Việt Nam. Ý nghĩ tôi thán phục câu nói ấy là như vậy đó.

À, bạn có thể gọi tôi là “anh” hay “ông”. Tôi luôn gọi các tiến sĩ là “thầy” (bất kể tuổi tác) nhưng lại muốn bản thân mình được gọi là “anh” hay “ông” hơn.

RFA: Xin cảm ơn anh. Nhưng Việt Kiều có đóng góp hàng năm nhiều tỷ USD cho Việt Nam, sao anh lại cho rằng họ không đóng thuế nên không có quyền đòi đa đảng?

Đáp: Tôi đi làm và gởi tiền phụng dưỡng cha mẹ tôi. Đó là đạo hiếu. Các bạn cũng đi làm và gởi tiền về phụng dưỡng cha mẹ các bạn, và các bạn nên tự hào vì đó là đạo hiếu. Tôi đóng góp ý kiến cho nhà nước Việt Nam vì tôi là công dân Việt Nam chứ không phải vì tôi có gởi tiền nuôi cha mẹ nên được đóng góp ý kiến cho nhà nước. Tương tự, các bạn gởi tiền nuôi cha mẹ và cho rằng mình có quyền đòi đa đảng, tôi e là không hợp lý. Thâm chí bạn gởi tiền về cho cha mẹ già yếu của bạn mua một chiếc Roll-Royce và cha mẹ bạn đóng thuế dù cho có đến 500% trị giá chiếc xe, thì đó cũng không phải bạn có đóng thuế cho Việt Nam với tư cách công dân, vì đó là thuế thuộc loại mậu dịch hay phi mậu dịch, Các bạn có đã đóng góp trực tiếp cho chính phủ Việt Nam hiện đại hóa quân đội, xây dựng hải quân hùng mạnh, hay không? Bạn gởi tiền về nuôi cha mẹ và người thân, điều đó tất nhiên có ý nghĩa tích cực ở chỗ trong hoàn cảnh Việt Nam còn nghèo, số tiền các bạn giúp gia đình bạn thoát nghèo, làm vơi bớt đi một phần gánh nặng của chính phủ Việt Nam để chính phủ tập trung lo chô số dân nghèo còn lại.

RFA: Anh nói Việt Nam độc đảng tạo nên chính trị ổn định là mong muốn của các nhà đầu tư nước ngoài, điều này sẽ khiến họ không hài lòng.

Đáp: Nếu tôi là tỷ tỷ phú Việt Nam, tôi sẽ tìm cơ hội đầu tư ở Mỹ (vì Mỹ có hệ thống luật pháp cực kỳ chặt chẽ mà tôi thích luật pháp phải như thê mới bảo đảm việc kinh doanh của mình tồn tại lành mạnh), hay ở những nước chính trị ổn định như New Zealand, Úc, hoặc Hòa Lan. Nếu tôi là tỷ tỷ phú New Zealand, tôi sẽ tìm cơ hội đầu tư vào Đông Nam Á, và tôi bắt đầu tính toán so sánh: Phillipines thì hay có mấy vụ bắt cóc, hành quyết du khách phương Tây; Indonesia hồi giáo cực đoan chống Mỹ và phương Tây; Malaysia thỉnh thoảng có tin phá âm mưu khủng bố; Thái Lan thì hết áo đỏ tới áo vàng, biểu tình hoài; và tôi sẽ đến Việt Nam đầu tư do không muốn tài sản vốn liếng của mình gặp quá nhiều rủi ro từ những bất ổn chính trị. Vậy đó là sự lựa chọn bình thường của giới đầu tư nước ngoài. Tất cả những người nước ngoài tại các công ty nước ngoài tôi đã làm việc đều nói với tôi về ưu điểm chính trị ổn định của Việt Nam. Mà ai cũng biết Việt Nam không phải là quốc gia đa đảng. (Vậy lẽ nào tôi nói sai?)

RFA: Nhưng anh nói dân Việt Nam không cần đa đảng vì yêu sự công bằng. Vậy Việt Kiều không yêu sự công bằng sao, khi đòi đa đảng?

Đáp: Trên võ đài, người thua không căm thù người thắng. Tại Việt Nam, cộng sản đã thắng. Lẽ công bằng là họ được hưởng những gì chiến thắng đem lại. Nếu nói sự gởi tiền về nuôi gia đình là đóng góp để đòi đa đảng thì theo tôi rất có thể năm hay mười năm nửa Việt Nam mới có thể có sự nhìn nhận về “công trạng” đó, nhưng theo lẽ công bằng, những ai đã hy sinh xương máu, tuổi thanh xuân, gia đình, tương lai hạnh phúc cá nhân mới là những người có quyền ưu tiên nêu yêu sách đối với Nhà Nước Việt Nam. Nếu họ đã là liệt sĩ thì sao hưởng quyền lợi đó được. Vậy là thân nhân họ có quyền nói thay họ. Và cứ thế, sự xếp hàng thứ tự trước sau rồi cũng sẽ đến lượt các bạn. Đòi có quyền nói về đa đảng là sự bất công vì các bạn không là công dân Việt Nam có đóng thuế cho Việt Nam, có quyền bầu cử và ứng cử ở Việt Nam. Mà cho dù các bạn có trực tiếp gởi nhiều tỷ USD vào tài khoản riêng của chính phủ Việt Nam để xây dựng đất nước thì đó cũng không để đòi đa đảng. Việc tôi giúp một người (mổ tim) không bao giờ đi kèm yêu cầu người ấy phải phải dạy con của người ấy theo ý tôi hoặc bảo vợ của người ấy mặc quần áo theo ý muốn của tôi.

RFA: Anh có thể nói gì về sự quan tâm đến chính trị của thanh niên Việt Nam ngày nay.

Đáp: Nếu chính trị nghĩa là hoạt động đóng góp xây dựng đất nước thì ngày nay có rất nhiều người trẻ tuổi – có cả sinh viên – bản thân không là đảng viên cộng sản hay đoàn viên cộng sản, tích cực tự ra ứng cử nghị viện. Nếu chính trị nghĩa khác (tức chống cộng hoặc đòi đa đảng) thì nói thật là thanh niên không quan tâm, vì họ quan tâm đến kinh tế, đến học tập làm giàu, v.v. Ngày xưa sau giải phóng, thanh niên lén nghe đài BBC, đài VOA, và cả đài RFA của bạn. Ngày nay họ không ai nghe đài, không phải vì đài BBC bị dẹp (vì BBC vẫn còn chương trình Việt Ngữ online trên mạng), mà chỉ vì họ chán nghe. Ngay cả Hoa Kỳ có công bố Báo cáo Nhân Quyền thi ở Việt Nam chẳng ai tìm đọc hay quan tâm.

RFA: Nhưng còn tự do dân chủ? Đa đảng là có tự do, dân chủ.

Đáp: Mỗi loại cá có môi trường nước riêng để sống như nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn. Không phải ở Mỹ mới có tự do. Không phải ở Việt Nam mới có tự do. Tự do là khuôn khổ phù hợp với văn hóa mỗi giống dân. Việt Nam có tự do, và tôi đang tự do trả lời phỏng vấn. (Không thể chỉ khi nào tôi nói giống phe tự do thì tôi mới tự do.) Thật lạ khi có những đất nước tự do, dân chủ, đa đảng, được Mỹ thân cận, liên minh, đồng minh, lại dưới quyền cai trị độc tài của một cá nhân trong hơn 30 năm, như Indonesia, Phillipnes, v.v. trước đây, và Ai Cập cùng các nước trong khu vực Bắc Phi hiện nay (mà thế giới tự do dường như không hay biết). Ngoài ra, mọi thứ cần có thời gian để thích nghi, chẳng hạn chính phủ Việt Nam từ bao cấp quốc doanh, đã cho cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển doanh nghiệp tư nhân, thậm chí chấp nhận mô hình nền kinh tế thị trường, trước tiên với sự cẩn trọng gọi là “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” – mà nhiều người cười cợt nhạo báng để rồi chính mô hình định hướng ấy đã giúp Việt Nam phát triển. Nghĩa là dần dần sẽ có các điều chỉnh mới, áp dụng mới, theo hoàn cảnh cụ thể, chứ không có nghĩa là cần phải “đòi” tự do dân chủ hay mặc định rằng tự do dân chủ mới có đa đảng. Tôi đã rất chán trò đa đảng thời Việt Nam Cộng Hòa bởi vì đó có phải là đa đảng đâu! Toàn là mấy nhóm liên danh tranh cử kiểu “Kỳ Lân Xuất Hiện Quốc Gia Thái Bình”. Nói thật với bạn: đa đảng có nghĩa là các bạn muốn triệt hạ đảng cộng sản, mà như tôi đã viết trên Emotino: triệt hạ Đảng Cộng Sản tức xóa sổ các tướng lĩnh và Quân Đội Cộng Sản, dẫn đến việc Trung Quốc chiếm Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á.

RFA: Anh viết rất nặng nề và nhiều người (Việt Kiều) không hài lòng (cho rằng anh là cộng sản).

Đáp: Tôi sinh ra ở bịnh viện Từ Dũ, nghĩa là người Sài Gòn của chế độ trước (Việt Nam Cộng Hòa). Tôi theo Tây học và thần phục Tây học. Ba tôi là tú tài Pháp, tất nhiên thần phục Tây học. Ba tôi làm việc cho AirVietnam, và sau giải phóng AirVietnam dù là hàng không dân dụng vẫn được giao về Bộ Quốc Phòng. Đó là lý do ba tôi mất việc, (từ viên chức sang trọng ăn mặc trang nhã mỗi ngày com-plê cà-vạt đi làm, biến thành ông ăn mặc vẫn theo thói quen áo sơ-mi dài tay bỏ trong quần nhưng đi bộ bỏ mối thuốc lá điếu hiệu Đông Nam ở Chợ Bàn Cờ Quận 3). Má tôi là người ít học, chỉ biết mặt chữ của tên các con để thêu tên con vào áo học sinh và khăn tay. Nhưng cả ba và má tôi đều răn dạy các con không được nghe lời chúng bạn vượt biên, đơn giản vì Việt Nam còn mồ mả tổ tiên, còn ông bà cha mẹ. Sau này một anh dân biểu chế độ cũ sau khi học tập cải tạo xong, có đến xin cưới chị tôi và chị tôi sang Mỹ cùng chồng theo diện HO. Ở nhà anh ấy bên Mỹ vẫn đang treo cờ vàng ba sọc đỏ (cờ Việt Nam Cộng Hòa). Còn em gái út của tôi theo chồng là người New Zealand về sống tại đất nước của chồng. Tôi là công dân Việt Nam bình thường. Tôi không là đảng viên cộng sản. Và tôi đang sống trong tự do ở Việt Nam. Chuyện không giống nhau về ý thức hệ như giữa tôi và anh rể cựu dân biểu ấy không có nghĩa chúng tôi là kẻ thù. Mỗi người đều có quyền tự do sống, và tôi chưa bao giờ nói những lời anh ấy và các Việt Kiều khác phát biểu là nặng nề (khiến nhiều người Việt ở Việt Nam không hài lòng). Tôi có nhận nhiều email của một số Việt Kiều tỏ ý không hài lòng sau khi đọc mấy bài tôi viết trên Emotino, nhưng tôi không trả lời, do mục đích viết bài của tôi là để thể hiện quyền tự do ngôn luận và để giới trẻ Việt Nam đang ở Việt Nam hiểu biết hơn, chứ không để bút chiến với ai ở hải ngoại. Thêm vào đó, email của các Việt kiều này có nội dung đàng hoàng, nên tôi cũng kính trọng, dù không hồi đáp. Riêng bạn lại phone trực tiếp, và bạn nói chuyện rất lịch sự, và tôi tỏ lòng kính trọng bạn bằng cách chấp nhận trả lời phỏng vấn.

RFA: Đúng là tôi cũng bất ngờ về anh sau khi nghe anh nói chuyện nãy giờ. Xin hỏi anh câu cuối: anh hãy nói thật lòng về đời sống người dân Việt Nam hiện nay.

Đáp: Khó khăn. Đó là từ ngữ bất kỳ ai đã và đang sống đều nhận thấy như lẽ thường tình. Trên võ đài, người thua không căm thù người thắng. Tại Việt Nam, cộng sản đã thắng. Mười tám năm sống dưới chế độ Sài Gòn, tôi nhận thấy vật giá luôn leo thang. Từ 30/4/1975 đến nay, tôi thấy vật giá luôn leo thang. Đó là điều đương nhiên ở mọi nơi khi con người ngày càng đông đúc hơn, còn đất đai cho lương thực ngày càng thu hẹp lại hơn. Ở đâu tôi cũng thấy người nghèo, Nhưng người nghèo ở Việt Nam thì khác. Kinh tế Mỹ suy sụp, chính phủ Mỹ bỏ ra những gói cứu trợ khổng lồ vực dậy các công ty khổng lồ. Kinh tế Ireland suy sụp, chính phủ Ireland cầu cứu EU. Kinh tế Bồ Đào Nha suy sụp, chính phủ Bồ Đào Nha cầu cứu EU. Kinh tế Việt Nam không suy sụp mà chỉ ngày càng khó khăn hơn do tất cả các cường quốc thế giới suy thoái khiến một số nhà đầu tư hoặc rút lui, hoặc giảm quy mô, hoặc không tăng quy mô; chính phủ Việt Nam chẳng cầu cứu ai. (Vậy người nghèo Việt Nam là những người vẫn chưa thể giàu lên, còn người nghèo các nước nêu trên là  nạn nhân mà sự sụp đổ nền kinh tế đã bần cùng hóa họ). Người Việt lạc quan, và có sức chịu đựng. Cuộc sống bình thường với người giàu và người nghèo. Có người xài toàn hàng hiệu xa xỉ đắt tiền như điện thoại di động và laptop thượng hạng, v.v. Còn người nghèo Việt Nam được xã hội cưu mang với nhiều chương trình như xây nhà tình thương, nhà tình nghĩa, trợ vốn v.v. Đó là nghèo, nghèo khó kiểu Việt. Không phải nghèo bần cùng như nhiều người nghèo Ấn Độ và các nước khác.

Hoàng Hữu Phước, MIB

(Ghi chép lại nội dung cuộc phỏng vấn quan phone ngày 20-4-2011)

Tài liệu đọc thêm trên Emotino:

1) Hoàng Hữu Phước. 06-7-2009. Tôi Đã “Được” Phóng Viên Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA Phỏng Vấn Trực Tiếp Tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

2) Hoàng Hữu Phước. 13-02-2011. Luận Về Đa Đảng.

3) Hoàng Hữu Phước.19-12-2010. Tôi Và Cù Huy Hà Vũ.

4) Hoàng Hữu Phước. 07-11-2010. Những Lập Luận Kỳ Quái Của TS Trần Minh Hoàng.

5) Hoàng Hữu Phước. 05-10-2010. Tôi Và Lê Công Định.

6) Hoàng Hữu Phước. 17-05-2010. Tự Do – Dân Chủ

7) Hoàng Hữu Phước. 04-8-2011. Cù Huy Hà Vũ: Từ Góc Nhìn Của Một Người Việt Hải Ngoại

 

Ghi chú:

Ngay sau cuộc phỏng vấn, tôi lập tức viết bài trên và post ngay lên Emotino, và qua hôm sau báo tin cũng như đưa bằng chứng cho cơ quan an ninh – việc làm mà tất cả những người Việt Nam công chính đoan chính đều thực hiện. Tất nhiên, anh em bạn hữu của tôi trên mạng báo tin cho tôi hay rằng RFA ắt do mắc nghẹn đã không phát sóng cuộc phỏng vấn và vài kẻ vô danh tiểu tốt mang tên nữ nhi la toáng lên rằng bản thân họ đã liên hệ với RFA để kiểm tra và RFA bảo với những mụ đàn bà này rằng đã chưa hề có cuộc phỏng vấn Ông Hoàng Hữu Phước.

Quốc Hội Việt Nam Phải Có Nghị Quyết Mạnh Mẽ Nhất Về Trung Quốc

Hoàng Hữu Phước, MIB

Những từ ngữ nhún nhường đã được sử dụng trong nhiều ngàn năm bởi toàn bộ các đấng quân vương của Việt Nam.

Những từ ngữ hoa mỹ đã được sử dụng trong nhiều chục năm qua bởi toàn bộ các lãnh đạo Đáng, Nhà Nước, Chính Phủ của Việt Nam.

Những từ ngữ nhún nhường và những từ ngữ hoa mỹ đã chứng minh hai điều tuyệt đối đúng, đó là:

1) Lãnh đạo Việt Nam luôn lịch sự, lịch thiệp, lịch lãm với quân thù dù trước đó hay sau đó đều có cùng một hành động duy nhất là dìm chúng xuống bùn nhơ chiến bại tanh tưởi tanh hôi; và

2) Những từ ngữ nhún nhường và những từ ngữ hoa mỹ đã chỉ có thể phát huy tác dụng duy nhất là biến loài chó dại thành lũ bò điên.

Điều thứ nhất sắp lần nữa biến thành hiện thực: Trung Nam Hải phải bị tiêu diệt theo đúng công thức thuần Việt lịch sự + lịch thiệp + lịch lãm = dìm giặc xuống bùn nhơ đại bại.

Điều thứ hai đã được chứng minh qua thực tế bọn chó dại Bắc Kinh đã biến thành bò điên lè lưỡi liếm láp Hoàng Sa và Trường Sa.

Chân lý luôn đúng nhưng không vì thế mà xã hội ngưng tiến trình tiến hóa.

Số học của 1+1=2 luôn đúng nhưng không vì thế mà toán học không sinh ra thêm ngành đại số.

Kỳ họp 7 của Quốc hội Khóa XIII khai mạc ngày 20-5-2014 phải đưa vào chương trình nghị sự việc ban hành một Nghị quyết về Trung Quốc với ngôn từ mạnh mẽ và trung thực.

Mạnh mẽ vì đã đến thời điểm tiêu diệt Trung Nam Hải!

Trung thực vì chó dại và bò điên không thể được phép ngồi chung bàn với con người.

Tôi, Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Khóa XIII (2011-2016), tuyên bố sẽ yêu cầu Quốc hội ra Nghị Quyết về Trung Quốc và sẽ yêu cầu Nghị quyết không được có sự lập lại của những từ ngữ sáo rỗng dịu dàng ẻo lả thường gặp.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Công Tác Nửa Đầu Nhiệm Kỳ 2011-2016

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 4 năm 2014

Kính thưa Quốc dân, Đồng bào:

Tôi là Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Khóa XIII, Nhiệm kỳ 2011-2016;

Do báo cáo với nhân dân là phần việc cần có của mỗi Đại biểu Quốc hội Việt Nam; nhưng trong thời gian qua phần việc này tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ được thực hiện dưới hình thức bản báo cáo chung toàn đoàn được soạn sẵn để phát cho tất cả các Tổ Đại biểu Quốc hội của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đạt được sự thống nhất cao và đồng nhất cao của các nội dung do một đại diện mỗi Tổ trình bày tại các buổi tiếp xúc cử tri sau mỗi Kỳ họp Quốc hội, khiến truyền thông đại chúng đạt yêu cầu tuyên truyền chính trị tập trung cao nhờ theo một kiểu thông cáo báo chí giống nhau thay vì là những bài viết chính luận mang bản sắc riêng của mỗi tờ báo cho từng luận điểm riêng mà riêng cá nhân Đại biểu Quốc hội nào đó có thể đề ra đặc thù hay có giá trị tranh luận hoặc đột phá;

Sau thời gian nửa đầu nhiệm kỳ phục vụ nhân dân tại Quốc hội;

Để thực hiện nghiêm túc một việc chưa từng có tiền lệ tại Quốc hội;

Tôi nay qua phương tiện blog cá nhân trên internet xin tự nguyện báo cáo cùng Quốc dân Đồng bào về những phần việc cá nhân tôi đã thực hiện tại Quốc hội như sau.

Trước hết, tôi xin nói rõ hơn rằng trách nhiệm một Đại biểu Quốc hội dân cử là đối với và trước toàn dân, trong đó có cả các thành phần nhi đồng, thiếu niên, thanh niên vừa đến tuổi bầu cử luật định, những người vừa được trả lại quyền công dân, những người vừa được nhập quốc tịch Việt Nam, v.v., chứ không chỉ với “cử tri” bao gồm duy chỉ những người đủ điều kiện luật định trong năm 2011 đã đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội Khóa XIII cho cá nhân người Đại biểu Quốc hội, và không chỉ tại địa phương hoạch định khu vực bầu cử cho từng tổ Đại biểu Quốc hội. Do đó, từ ngữ “Quốc dân Đồng bào” được dùng trong báo cáo này vì tính chính danh chính đạo của ngôn từ về vai trò thực thụ của người Đại biểu Quốc hội, và của yêu cầu cao của thực tế đời sống chính trị quốc gia.

Báo cáo này gồm có các nội dung chính sau:

I) Giai Đoạn Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội

 

Là ứng cử viên tự do, tôi đã tự tìm đến văn phòng Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký nhận chỉ một bộ hồ sơ ứng cử quốc hội khóa XIII, không đăng ký ứng cử cùng lúc Quốc hội và Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tại tất cả các buổi tiếp xúc cử tri để đọc các chương trình hành động, tôi đã thực hiện một việc chưa từng có tiền lệ tại Việt Nam: in hàng ngàn tập tài liệu phát cho cử tri ngay tại cửa vào các hội trường:

 

Những tài liệu này do tôi tự soạn, không phải xin phép vì luật pháp bầu cử không cấm, không phải trình ủy ban bầu cử duyệt nội dung vì quy định bầu cử không yêu cầu, và trên tất cả là vì tôi là một công dân đoan chính. Tập tài liệu này có mục lục gồm: lý lịch chi tiết, chương trình hành động, bản photocopy một số trang báo có đăng bài phỏng vấn tôi hay viết về tôi nhân kỷ niệm 20 năm ngày tôi giúp thực hiện chuyến xuất khẩu gạo đầu tiên của Việt Nam, những hình ảnh tôi tại các hội nghị trong 10 năm trước đó, bản in tám bài viết blog nổi bật của tôi về các vấn đề lớn của đất nước – trong đó có bài phân tích hoàn chỉnh về nội dung bô-xít đang gây tranh cãi, v.v., mục đích để cử tri biết rõ hơn về tâm, tầm, và thế của tôi, một ứng cử viên tự do, không đảng tịch, và không nằm trong hệ thống chính quyền các cấp, nhằm tạo ra vị thế khác biệt rõ nét giữa tôi so với tất cả các ứng cử viên khác vốn được chuẩn định rằng nội dung lý lịch và chương trình hoạt động được thể hiện trên duy chỉ hai mặt trang của một tờ giấy khổ A4, mà chất lượng nội dung của các ứng cử viên giàu thành tích dày quá trình cống hiến cách mạng sẽ nổi trội lấn lướt làm lu mờ những ứng cử viên như bản thân tôi có ít hơn hoặc không có quá trình cống hiến cách mạng tương tự.

Với tâm huyết vì đất nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nhận thức đúng đắn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự trường tồn của quốc gia, dân tộc, sau bao năm tháng sống và làm việc cùng trên tinh thần như vậy, tôi đã luôn phát biểu với báo giới và trước cử tri trong thời gian tranh cử rằng bản thân luôn biết lo trước cái lo của người dân và luôn bảo vệ đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam[1]và trong thời gian qua đã luôn theo đúng các tâm nguyện này theo sự kỳ vọng mà lá phiếu tín thác của cử tri đã dành cho.

II) Tại Quốc Hội

 

A- Các Đóng Góp Ý Kiến Bằng Văn Bản

1)  Với Quốc Hội

Tôi đã viết và gởi các văn bản sau đến Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội:

a- Thư ngày 07-9-2013 với nội dung góp ý về “một số chế độ chi tiêu bảo đảm hoạt động của Quốc hội liên quan đến Khoản 2, Điều 12, tại Công văn số 755/VPQH-KHTC ngày 24-4-2013 của Văn phòng Quốc hội về việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 524/2012/UBTVQH13”.

b- Thư ngày 03-10-2013 với nội dung góp ý về “Danh Thiếp của Đại Biểu Quốc Hội”

c- Thư ngày 03-10-2013 với nội dung góp ý về “Truyền Đơn”

d- Thư ngày 27-10-2013 với nội dung góp ý về “Phát Biểu Tại Hội Trường Quốc Hội Trong Các Kỳ Họ­p­­­” [2]

e- Thư ngày 27-10-2013 với nội dung góp ý về “Cách Đánh Số Trong Các Đạo Luật”.

2) Với Nhà Nước và Chính Phủ

Tôi đã viết và gởi các văn bản sau đến Nhà nước và Chính phủ:

a- Thư ngày 19-7-2013 gởi Bộ trưởng Bộ Công An, Đại tướng Trần Đại Quang, với nội dung “Truyền Đơn Của Bọn Phản Loạn”.

b- Thư ngày 24-7-2013 gởi Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, với nội dung “đề xuất cách xử lý việc khiếu kiện nhiều năm của công dân Hoàng Hữu Hiệp”.

c- Thư ngày 02/08/2013 gởi Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Phạm Vũ Luận, với nội dung chuyển bài tham luận “Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân” của tôi tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” của Hoàng Hữu Phước tại hội thảo do Viện Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức ngày 23-10-2010 tại Đại Học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh [3]

d- Thư ngày 04-08-2013 gởi Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan với nội dung về khâu quản lý thi cử và quản lý chất lượng người thầy.

e- Thư ngày 08/08/2013 gởi Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát, với nội dung chuyển bài tham luận “Cụm Ngành Nông-Lâm Trong Chiến Lược Phát Triển Tam Nông” của Hoàng Hữu Phước tại Hội nghị “Bốn Nhà Hợp Tác Phát Triển Sản Xuất Kinh Doanh Các Mặt Hàng Nông Nghiệp” do Quỹ Phát Triển Nông Nghiệp Quốc Tế Liên Hợp Quốc IFAD, Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư, và Phòng Thương Mại & Công Nghiệp VCCI phối hợp tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 29 và 30 tháng 11 năm 2010 [4]

f- Thư ngày 08/08/2013 gởi Bộ trưởng Bộ Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Hoàng Tuấn Anh với nội dung chuyển sáu bài viết của Hoàng Hữu Phước về chủ đề phát triển du lịch Việt Nam như: (1) Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận về Bảo Tồn & Bảo Tàng, (2) Tư Vấn Đầu Xuân: Phát Triển Du Lịch Việt Nam, (3) Vấn Đề Logo Và Slogan Cho Du Lịch Việt Nam, (4) Lại Nói Về Logo Du Lịch Việt Nam, (5) Quốc Nhục, và (6) Quốc Hoa: Từ Ý Kiến Của Ông Đặng Thành Tâm [5]

g- Thư ngày 08-8-2013 gởi Bộ trưởng Bộ Thông Tin và Truyền Thông Nguyễn Bắc Son  với nội dung chuyển sáu bài viết của Hoàng Hữu Phước về chủ đề phát triển du lịch Việt Nam như: (1) 12 Ý Kiến Tư Vấn Dành Cho Giới Quảng Cáo, (2) Quảng Cáo Truyền Hình: Giải Quyết Một Mâu Thuẫn, (3) Sự Vô Tư Khỏa Thân, (4) Tư Vấn Phát Triển Điện Ảnh Việt Nam, (5) Điện Ảnh Việt Nam Đa Tá Lả, và (6) Tư Vấn Đổi Mới Hình Thức Báo Chí [6]

h- Thư ngày 20-10-2013 gởi Thủ Tướng với nội dung “Góp ý về Dự Toán Chi Lĩnh Vực Giáo Dục – Đào Tạo – Dạy Nghề trong  Báo Cáo Phân Bổ Ngân Sách Trung Ương Năm 2014 của Chính Phủ”.[7]

3) Với Người Đồng Cấp

Tôi đã viết và gởi các văn bản sau đến những người đồng cấp trong Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh:

a- Thư ngày 27-7-2013 gởi ĐBQH Phạm Khánh Phong Lan, Đoàn ĐBQH TP HCM, với nội dung về “Thuốc nhập khẩu và sự bất minh trong kê đơn thuốc tại bịnh viện lớn ở Tp Hồ Chí Minh” [8]

b- Thư ngày 18-7-2013 gởi ĐBQH Huỳnh Ngọc Ánh, Đoàn ĐBQH TP HCM, với nội dung về “Vụ án Số 470/2010 TLST-ST ngày 01-11-2010 của Tòa Án Nhân Dân Thành phố liên quan đến nguyên đơn Lý Vĩnh Bá” [9]

B- Các Phát Biểu Ở Nghị Trường:

 

1- Về nội dung Giáo dục – Đào tạo như được nêu trong Báo cáo của Chính phủ về Tình Hình Kinh Tế – Xã Hội Năm 2013, Kế Hoạch Phát Triển Kinh Tế – Xã Hội Năm 2014, Kết Quả 3 Năm Thực Hiện Kế Hoạch 5 Năm 2011-2015 và Nhiệm Vụ Năm 2014-2015

2- Về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 [10]

3- Về Dự Án Luật Xây Dựng [11]

4- Chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [12]

5- Bài phát biểu về báo cáo “Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường [13]

6- Về Công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013 [14]

7- Về Luật Biểu Tình [15]

8- Về Luật Giáo Dục Đại Học [16]

9- Về Luật Biểu Tình & Luật Lập Hội [17]

C- Chuyển Tải Các Góp Ý Của Công Dân Đến Lãnh Đạo

Tôi đã giúp chuyển tải các tài liệu sau của công dân:

1- Công trình nghiên cứu Góp Ý Về Luật Đất Đai ngày 23-11-2013 của cử tri Ngô Long Minh (Quận 1, Tp Hồ Chí Minh) gởi đến Thường Vụ Quốc Hội.

2- Thông tin của một cử tri Hà Nội gởi đến tôi nhờ chuyển đến Chủ tịch Nước liên quan đến hành vi tiêu cực của một cựu Chủ nhiệm một Ủy Ban của Quốc hội Khóa XI & XII đối với họ tộc và đối với an ninh trật tự quốc gia.

D- Giúp Hoàn Thiện Các Góp Ý Của Nhân Viên Đến Lãnh Đạo

Tôi đã động viên, khuyến khích nhân viên trong công ty của tôi tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đất nước, và đã giúp xem lại nội dung, tư vấn thêm về kết cấu bố cục chuyên nghiệp cho các bản hiến kế sau:

1- “Ý Kiến Về Tái Cấu Trúc Nền Kinh Tế Việt Nam” ngày 16-5-2012 của Lại Thu Trúc. [18]

2- “Ý Kiến Về Dự Thảo Sửa Đổi Luật Đất Đai” ngày 28-10-2012 của Lại Thu Trúc. [19]

3- Bản “Đề Xuất Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế-Xã Hội và Tiến Cử Người Giỏi Giúp Nước” ngày 20-04-2013 của Lại Thu Trúc.

4- Bản “Góp Ý Đề Án Thí Điểm Mô Hình Chính Quyền Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh và Quyết Định Lựa Chọn Thành Phố Nào Thí Điểm Mô Hình Này” ngày 26-09-2013 của Lại Thu Trúc.

5- Bản “Góp Ý Những Vấn Đề Cần Làm Rõ Trước Khi Cơ Quan Chức Năng Đệ Trình Bộ Chính Trị, Quốc Hội và Chính Phủ Đề Án Thí Điểm Mô Hình Chính Quyền Đô Thị Thành Phố Hồ Chí Minh” ngày 20-02-2014 của Lại Thu Trúc.

E- Công Tác Báo Chí

Ngoài các bài viết đăng trên các trang blog cá nhân mang tính giáo dục nhắm đến giới trẻ, tôi còn tích cực viết bài tuyên truyền với tư cách nghị sĩ qua kênh truyền thông chính luận chính yếu cụ thể như sau:

1- Bài “Về Thực Quyền, Thực Uy”, đăng trên báo Đại Biểu Nhân Dân số ra ngày 26/11/2013 [20]

2- Bài “Cần Giải Quyết Dứt Điểm Những Khiếu Nại, Tố Cáo Của Công Dân”, đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ, số ra ngày 24-11-2013 [21]

III) Công Tác Ủy Ban Đối Ngoại

 

Trong thời gian qua, với tư cách Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội tôi đã có những hoạt động như tham gia đoàn giám sát các tỉnh biên giới Tây Nam, thăm và làm việc với Quốc hội Vương quốc Campuchia, dự Hội nghị Việt Nam – Lào – Campuchia tại Nghệ An, tiếp đoàn Quốc hội Trung Quốc, thay mặt Ủy ban Đối ngoại công tác với Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong tiếp đón các đoàn Quốc hội Thái Lan và Ba Lan tại Thành phố Hồ Chí Minh; và tham gia các hội thảo các dự án luật có liên quan đến công tác đối ngoại và ngoại giao.

 

IV) Công Tác Địa Phương

 

A- Tiếp Dân

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi tiếp công dân theo lịch phân công của Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh để lắng nghe và nhận đơn thư khiếu nại – tố cáo của công dân. Thay vì nhanh chóng chuyển ngay đến các cơ quan hữu quan các đơn thư khiếu nại – tố cáo thuộc những hồ sơ đã kéo dài nhiều năm của công dân, tôi dành ra nhiều thời gian hơn luật định để nghiên cứu thật kỹ các hồ sơ. Khi nhận ra rằng những vụ việc kéo dài hàng chục năm dù đã luôn được các Đại biểu Quốc hội các khóa tiền nhiệm tích cực chuyển ngay đến các cơ quan có thẩm quyền cũng như tích cực đôn đốc các cơ quan này giải quyết vẫn không làm tình hình khả quan hơn, tôi đã

- tư vấn và giúp công dân viết lại đơn thư cho có tính tập trung cao và mạnh mẽ hơn (thí dụ: đơn thư khiếu nại nhiều năm của Cụ ông Lý Vĩnh Bá ở Thành phố Hồ Chí Minh viết dài nhiều chục trang gởi nhiều chục nơi, được tôi giúp viết cô đọng lại thành hai trang và gợi ý cho công dân gởi đến một quan chức cụ thể, v.v.);

- thay vì đơn giản viết ngay phiếu chuyển như các Đại biểu Quốc hội thường làm trong nhiều chục năm qua, tôi viết thư đề nghị hướng giải quyết cụ thể với sự tham gia của tôi (thí dụ: đơn thư khiếu nại hàng chục năm của công dân Hoàng Hữu Hiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh được tôi viết thư gởi Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đề nghị tổ chức đối thoại trực tiếp với công dân với sự có mặt của tôi, và tôi cam kết chịu trách nhiệm về hành vi của công dân này tại buổi tiếp xúc cũng như chịu trách nhiệm đối với việc chấm dứt vụ khiếu nại dai dẳng nhiều năm này trên cơ sở Tòa án Nhân dân Tối cao phải cung cấp cho tôi đầy đủ các bằng chứng phản bác có hiệu lực pháp lý);

- thay vì đơn giản viết ngay phiếu chuyển như các Đại biểu Quốc hội thường làm trong nhiều chục năm qua, đối với trường hợp công dân nào không những cố tình liên tục khiếu nại (dù Nhà nước đã rất nhiều năm qua giải quyết tối đa đúng theo luật định có tính đến sự hợp tình hợp lý), mà lại còn đưa nội dung chống đối lên blog và lớn tiếng đe dọa sẽ đưa vụ việc đến Đại Sứ Quán và Tổng Lãnh Sự Quán nước ngoài, tôi đã nghiêm khắc cho công dân ấy biết cơ quan Nhà nước đã đúng trong xử lý cụ thể nội dung khiếu nại – tố cáo do đó tôi từ chối chuyển tiếp đơn, đồng thời nêu cái sai của công dân ấy khi bôi nhọ chính quyền và cho rằng ngoại bang có quyền xen vào chuyện nội bộ nước Việt Nam; và

- viết bài trên blog hướng dẫn công dân về khiếu nại – tố cáo.[22]

Hiệu quả việc tôi giúp giải quyết các khiếu nại – tố cáo của công dân chưa cụ thể, chưa cao, do các cơ quan có liên đới trách nhiệm đã chưa tích cực xử lý. Trong thời gian qua, ngoài sự can thiệp của tôi đối với trường hợp công dân Trương Thị Nhỏ ở Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh (là bị đơn của một vụ kiện phức tạp tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa nhiều bên từ năm 1976 khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm số 03/2010/DSPT ngày 07-01-2010 của Tòa Phúc Thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh) đã có kết quả (khi Tòa Án Nhân Dân Tối Cao ra Quyết định số 535/2012/KN-DS ngày 27-12-2012 kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và tạm đình chỉ thi hành bản án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm) thì các trường hợp khác đều chưa có chuyển biến gì dù tôi đã gởi tiếp các công văn đôn đốc và có các đề xuất cách giải quyết.

B- Họp Đoàn Đại biểu Quốc hội

Ngoài những buổi họp sơ kết hay tổng kết hoạt động có sự tham dự của nhiều Đại biểu Quốc hội trong đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, những buổi hội thảo do Đoàn tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu các dự án luật thường chỉ có một hay tối đa ba Đại biểu Quốc hội tham dự – ngoài Trưởng và các Phó Đoàn.

Lý do của việc có quá ít Đại biểu Quốc hội tham dự như sau:

- Đoàn tổ chức các buổi hội thảo có sự tham dự của các khách mời gồm các luật sư, luật gia, các quan chức các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể có liên quan, để lắng nghe các góp ý của các vị này;

- Các góp ý được “đúc kết” thành biên bản gởi Thường vụ Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội trong Đoàn;

- Các góp ý ấy hoàn toàn không phải để các Đại biểu Quốc hội nắm rồi “chuyển tải” bằng cách phát biểu lại tại nghị trường Quốc hội;

- Khi dự kỳ họp tại Hà Nội, các Đoàn lại tổ chức họp thảo luận ở Tổ về các dự án luật ấy, và các Đại biểu Quốc hội không lập lại các ý kiến đã được “đúc kết” trước đó tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi các chuyên viên của các Ủy ban Quốc hội và các Bộ cùng tham dự để ghi chép các ý kiến mới được phát biểu này tại Tổ, mà chính các nội dung góp ý này cũng sẽ được “đúc kết” bằng văn bản gởi tiếp đến Thường vụ Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội trong Đoàn tham khảo, chứ không phải để các Đại biểu Quốc hội chuyển tải qua việc nhấn nút phát biểu lại tại nghị trường Quốc hội.

Như vậy, việc tham dự các buổi hội thảo về các dự án luật do Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh đã không có ý nghĩa thực tế đối với các Đại biểu Quốc hội trong đoàn nên tỷ lệ tham dự rất thấp, thường không quá 1/7 tổng số Đại biểu Quốc hội của Thành phố Hồ Chí Minh vì những thực tế nêu trên.

Tuy trên thực tế đa số các bài phát biểu của nhiều Đại biểu Quốc hội đoàn Thành phố Hồ Chí Minh theo thông lệ phải qua sự duyệt nội dung của Trưởng Đoàn, tôi không bao giờ đưa bài phát biểu hay chất vấn của tôi cho bất kỳ ai duyệt trước nội dung, vì đó là tâm huyết và trách nhiệm của tôi đối với từng vấn đề trọng đại của quốc gia, mà không là sự lập lại bất kỳ ý kiến đóng góp của người khác tại các hội thảo hoặc viết theo gợi ý của lãnh đạo bất kỳ.

C- Góp Ý Với Chính Quyền Địa Phương

Tôi đã viết và gởi văn bản sau đến Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

- Thư ngày 09-12-2013 gởi Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với nội dung: “Thư góp ý khẩn cấp về Tờ trình số 6015/TTr-UBND ngày 11-11-2013 của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về Bổ sung Quỹ Tên đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Báo cáo số 790/BC-VHXH ngày 05-12-2013 của Hội đồng Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm tra tờ trình nói trên” [23]

 

V) Các Đóng Góp Khác Cho Xã Hội

 

A- Tư Cách Và Tư Thế

Để giữ mình luôn liêm chính, liêm khiết, nghiêm minh, xứng đáng với sự kỳ vọng của những đồng bào đoan chính, tôi đã

- chưa bao giờ đến thăm, gởi quà, gởi thiệp, gởi hoa, v.v., cho bất kỳ vị lãnh đạo nào của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ, Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh, Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, bất kể vào dịp lễ lớn nào của quốc gia hay lễ cá nhân nào của lãnh đạo hay thành viên gia đình của lãnh đạo;

- chưa bao giờ nhận lời “chạy án” hay chịu lắng nghe về nội dung “đền ơn” của bất kỳ công dân nào đối với các khiếu nại – tố cáo của họ;

- chưa bao giờ sử dụng cái uy của thành viên của “cơ quan quyền lực cao nhất nước” trong quan hệ với các cơ quan Nhà nước để phục vụ cho việc phát triển kinh doanh của doanh nghiệp bản thân hay cho quyền lợi cá nhân và gia đình, người thân, người quen;

- luôn giữ khoảng cách đối với thượng cấp (các lãnh đạo) và người đồng cấp (các Đại biểu Quốc hội) nghĩa là luôn luôn với tinh thần lịch sự, hợp tác, hỗ tương, tận tâm, trung thực, công tâm, thân tình; và

- luôn làm tròn công việc của một Đại biểu Quốc hội.

B- Tư Tưởng

1- Bảo Vệ Quốc Dân và Quốc Gia

 

Luôn biết lo trước cái lo của người dân, tôi đã tích cực ngăn cản và cản ngăn thành công sự hấp tấp trong tiến hành xây dựng Luật Biểu Tình trong nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII, ngay cả khi sự xách động của những kẻ “hai mang” trong báo giới lợi dụng báo chí để đưa thông tin sai lệch về tôi và tập trung tấn công tôi, dẫn đến việc tôi nhận được hàng trăm tin nhắn từ những kẻ khát khao muốn có Luật Biểu Tình qua vài thí dụ nhỏ dưới đây:

 

Ngoài ra, trước sự chống phá của kẻ thù đặc biệt về tư tưởng chính trị, tôi đã tăng cường viết blog tập trung củng cố các kiến thức và hiểu biết cho giới trẻ, cụ thể qua các blog sau:

- Blog của tôi dưới danh nghĩa Đại biểu Quốc hội: http://hhphuoc.blog.com

- Blog của tôi với danh nghĩa một công dân Việt Nam bảo vệ đất nước Việt Nam: http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com

- Blog về các thầy cô của tôi như những tấm gương sáng thật sự, đáng được tôn vinh thật sự, trong bối cảnh sa sút về trình độ và tư cách của rất đông các “nhà giáo” hiện nay: http://hoanghuuphuocteachers.blog.com

- Blog về các tham luận của tôi tại các hội thảo, hội nghị: http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com

- Blog chống Bá quyền Bắc Kinh, để nhắn nhủ với các công dân trẻ rằng yêu nước và chống giặc thù bằng văn học và tiểu luận tốt hơn tham gia các cuộc tụ tập đông người gây rối an ninh trật tự nước nhà dưới sự giật dây lợi dụng của kẻ thù của chế độ: http://antichina.blog.com

- Blog đồng hành để đề phòng trường hợp các blogs trên bị đánh phá: http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

Ngoài ra, tôi đang xây dựng thêm nhiều blog khác trong đó có vài nội dung chủ đề chính như:

- Blog về phát triển kinh doanh: blog của tôi với danh nghĩa một doanh nhân thực thụ, một nhà tư vấn thực thụ về phát triển kinh doanh, và một thạc sĩ thực thụ về kinh doanh quốc tế, nhằm thu hút sự quan tâm của công dân trẻ đối với những vấn đề cụ thể trong kinh doanh và phát triển kinh doanh

- Blog về tiếng Anh: blog của tôi với tư cách giảng viên Anh Văn đối phó với tình trạng tồi tệ của kết quả đào tạo tiếng Anh ở tất cả các cấp trong hệ thống giáo dục Việt Nam nhiều chục năm qua

- Blog các sáng tác thơ văn tiếng Anh: blog của tôi đăng lại các sáng tác văn thơ của tôi bằng tiếng Anh nhằm cung cấp cho học sinh và sinh viên Việt Nam kho tài liệu tham khảo gần như là đầu tiên ở Việt Nam

- Blog về sử liệu Việt Nam Cộng Hòa: blog của tôi nhằm cung cấp những chi tiết có thật về đời sống sinh hoạt người dân ở Miền Nam trước 1975, đặc biệt trong hoàn cảnh ở Việt Nam hiện nay có những kẻ tự phong là “nhà sử học” nhưng trình độ thấp kém, bất tài vô hạnh không đóng góp gì cho việc nghiên cứu sử liệu và nâng cao vị thế của Sử học trong hệ thống giáo dục Việt Nam.

2- Bảo Vệ Quốc Thể

Khi phục vụ công tác đối ngoại – nhất là với các đoàn Quốc hội nước ngoài – tôi luôn giữ  gìn quốc thể qua tác phong, cung cách, ngôn phong, ngôn từ, và nội dung kiến thức.

Khi trả lời phỏng vấn của nước ngoài, tôi luôn đặt danh dự quốc gia và sự cao trọng của quốc thể lên trên hết, không để có sơ xuất nào để bị truyền thông nước ngoài lợi dụng xuyên tạc.[24]

Đối với tôi, không bao giờ tôi không thành công trong biện luận và tranh luận khi bảo vệ quốc thể và danh dự quốc gia.

3- Bảo Vệ Phong Hóa Quốc Gia Dân Tộc

Để bảo vệ phong hóa của quốc gia và dân tộc, khi thấy có Đại biểu Quốc hội tuyên bố đòi luật hóa mại dâm và sử dụng tự do ngôn luận để nêu những quan điểm sai lệch khác, tôi viết bài châm biếm trên blog nhắm đến một cuộc bút chiến luận như một sinh hoạt văn hóa nhưng bị những kẻ “hai mang” trong báo giới lợi dụng báo chí để tập trung tấn công tôi. Để thi thố khả năng xử lý sự cố của một nhà tư vấn chuyên nghiệp cấp cao, tôi đã tiếp các phóng viên và đã trổ tài hùng biện để bảo vệ quan điểm đúng đắn của mình; và chỉ khi nhận ra ý đồ của các phóng viên “hai mang” này, tôi đã xử lý tình huống theo cách thuần Việt của tiền nhân Việt, những người đã trong nhiều ngàn năm lịch sử luôn lên tiếng xin lỗi quân thù xâm lược sau khi đánh cho chúng đại bại. Tôi sẽ nói riêng và thật chi tiết về sự việc này trong một bài viết khác để Quốc dân Đồng bào nắm rõ thông tin duy nhất chính xác của sự việc này.

VI) Công Việc Cho Phần Nửa Cuối Nhiệm Kỳ Quốc Hội Khóa XIII

 

Sau thành công ở nửa đầu nhiệm kỳ Khóa XIII, đặc biệt trong việc ngăn chặn đẩy lui được đà hưng phấn chưa trên cơ sở hiểu biết thấu đáo và chín chắn của sự hấp tấp bàn về Luật Biểu Tình, loại bỏ việc đưa dự án Luật này vào chương trình nghị sự trong toàn Khóa XIII, tôi sẽ hoàn tất khung dự án Luật Biểu Tình trước cuối nhiệm kỳ để cùng với dự thảo của Bộ Công An (do Thủ tướng giao nhiệm vụ) cung cấp cho Quốc hội Khóa XIV chi tiết cho một Luật Biểu Tình nhân bản, nhân văn, hiện đại, văn minh, thông minh, thượng tôn luật pháp, và đáp ứng đúng kỳ vọng của tất cả đồng bào công chính và ái quốc. Toàn văn khung chi tiết của dự thảo Luật Biểu Tình sẽ được đăng trên các blog cá nhân của tôi để Quốc dân Đồng bào tham khảo.

Sau nửa nhiệm kỳ tuyệt đối tuân theo sự sắp xếp của Trưởng Đoàn đối với sự phân công trước Đại biểu Quốc hội nào của Đoàn sẽ được ưu tiên phát biểu tại hội trường, tôi ngoài việc tiếp tục viết thêm nhiều kiến nghị gởi lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, và Chính phủ, sẽ tăng cường phát biểu tại hội trường ngay cả khi có ý kiến của lãnh đạo Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phân công Đại biểu Quốc hội khác thay mặt phát biểu. Tất cả các phát biểu của tôi đều sẽ được đăng tải lên các blog cá nhân của tôi, trong khi các thư kiến nghị sẽ được lựa chọn để đăng blogs do tính tế nhị của vấn đề hoặc yêu cầu bảo mật của nội dung.

Đối với hướng xây dựng “mô hình chính quyền đô thị” của Thành phố Hồ Chí Minh, tôi sẽ đóng góp thật tích cực vào việc giải quyết các vụ khiếu nại – tố cáo kéo dài nhiều năm của công dân, vì rằng tôi không thể chấp nhận việc xây dựng một chính quyền đô thị với sự tồn tại của những vụ khiếu nại – tố cáo kéo dài nhiều năm của công dân. Nền tảng thượng tôn luật pháp, hiệu quả thật cao của cải cách hành chính, và năng lực thật cao của nhân sự tại các cơ quan công quyền phải là những yêu cầu tiên quyết phải có đối với chính quyền đô thị, và phải được chứng minh qua việc giải quyết dứt điểm các tồn đọng dù là trong lĩnh vực tư pháp, giáo dục, xây dựng, thương mại, hay đầu tư, v.v., của Thành phố Hồ Chí Minh.

Trên đây là báo cáo hoạt động chuyên nghiệp của tôi với tư cách Đại biểu Quốc hội trong giai đoạn nửa đầu nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XIII (2011-2016) trình Quốc dân Đồng bào tham khảo, ghi nhận, giám sát, kiểm chứng, và đánh giá.

Trong thời gian nửa cuối nhiệm kỳ này, tôi sẽ tiếp tục tăng cường các hoạt động phục vụ của mình tại Quốc hội và thực hiện tốt hơn nữa lời hứa “luôn biết lo trước cái lo của người dân” và “bảo vệ đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” mà cử tri đã đánh giá cao, ủng hộ, dồn phiếu bầu lựa chọn, trao cho tôi sự tín thác, và không ngừng khuyến khích hoàn thành.

Các yêu cầu được hỗ trợ của Quốc dân Đồng bào trong những trường hợp khiếu nại – tố cáo, xin hãy gởi về tôi tại Văn Phòng Đoàn ĐBQH Tp Hồ Chí Minh, số 2bis Lê Duẩn, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh. Trong thời gian các Kỳ họp Quốc hội (thường từ 20 tháng 5 và 20 tháng 10 hàng năm, và kéo dài đến cuối tháng tiếp theo), đơn từ xin gởi bảo đảm qua đường bưu điện đến tôi tại Nhà Khách Trung Ương Đảng, 8 Chu Văn An, Hà Nội.

Kính chúc Quốc dân Đồng bào sức khỏe, hạnh phúc, vạn an.

Tất cả vì tổ quốc và nhân dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam của chúng ta.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Đại biểu Quốc hội Khóa XIII

Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh

Ghi chú:

[1] Thế Hùng – Thanh Tuyền. Đại Biểu Quốc Hội Phải Biết Lo Trước Cái Lo Của Người Dân. Bài phỏng vấn ứng cử viên Hoàng Hữu Phước.  Báo Pháp Lý, số ra ngày 15-4-2011.

[2] Sẽ được đăng lại toàn văn trên blog này.

[3] Hoàng Hữu Phước. 23-10-2010. http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com/

[4]  Hoàng Hữu Phước. 29-11-2010. http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com/

[5] Sẽ được đăng lại toàn văn trên blog mới về phát triển kinh doanh.

[6] Sẽ được đăng lại toàn văn trên blog mới về phát triển kinh doanh.

[7] Sẽ được đăng lại toàn văn trên blog này.

[8] Sẽ được trích đăng lại trên blog này.

[9] Sẽ được trích đăng lại trên blog này.

[10] Hoàng Hữu Phước. 05-6-2013. Bài Phát Biểu Về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992. http://hhphuoc.blog.com/?p=177

[11] Hoàng Hữu Phước. 26-11-2013. Phát Biểu Về Dự Án Luật Xây Dựng. http://hhphuoc.blog.com/?p=256

[12]  Hoàng Hữu Phước. 26-11-2013. Chất Vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn. http://hhphuoc.blog.com/?p=255

[13] Hoàng Hữu Phước. 15-11-2013. Phát Biểu Về Thủy Điện. http://hhphuoc.blog.com/?p=250

[14] Hoàng Hữu Phước. 09-11-2013. Phát Biểu Về Tham Nhũng. http://hhphuoc.blog.com/?p=243

[15] Hoàng Hữu Phước. 05-6-2013. Phát Biểu Ứng Khẩu Về Luật Biểu Tình.  http://hhphuoc.blog.com/?p=178

[16] Hoàng Hữu Phước. 19-11-2011. Phát Biểu Tại Tổ Về Luật Giáo Dục Đại Học. http://hhphuoc.blog.com/?p=54

[17]  Hoàng Hữu Phước. 19-11-2011. Bài Phát Biểu Về Luật Biểu Tình & Luật Lập Hội. http://hhphuoc.blog.com/?p=52

[18] Lại Thu Trúc. Ý Kiến Về Tái Cấu Trúc Nền Kinh Tế Việt Nam. 16-5-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19606/de-xuat-tai-cau-truc-nen-kinh-te-viet-nam-da-goi-lanh-dao

[19] Lại Thu Trúc. 28-10-2012. Ý Kiến Về Dự Thảo Sửa Đổi Luật Đất Đai. http://www.emotino.com/bai-viet/19727/gop-y-cho-du-an-luat-dat-dai-sua-doi  

[20] Hoàng Hữu Phước. Về Thực Quyền, Thực Uy. Báo Đại Biểu Nhân Dân số ra ngày 26/11/2013. http://hhphuoc.blog.com/?p=177

[21]  Hoàng Hữu Phước. Cần Giải Quyết Dứt Điểm Những Khiếu Nại, Tố Cáo Của Công Dân. Báo Văn Nghệ Trẻ, số ra ngày 24-11-2013. http://hhphuoc.blog.com/?p=253, http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/11/22/257/

[22] Hoàng Hữu Phước. Khi Bạn Cần Khiếu Tố, Khiếu Nại. http://hhphuoc.blog.com/?p=97

[23] Sẽ được đăng lại toàn văn trên blog này.

[24] Lại Thu Trúc. 26-7-2012. Phố Bolsa TV (California, USA) Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước Trước Kỳ Họp Thứ Ba, Quốc Hội Khóa XIII. http://www.emotino.com/bai-viet/19627/phobolsatv-hoa-ky-phong-van-ong-hoang-huu-phuoc &       http://hhphuoc.blog.com/?p=75

Nhân Tài Ư? Thật Hỡi Ơi!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 

Cách nay mấy tuần tôi có viết bài dưới dạng lá thư gởi sinh viên Ngô Di Lân là chú nhóc mới nhón chân ra ngoài du học đã ngỡ mình vĩ đại đã viết thư cho Bộ trưởng Giáo dục dạy vị này về cái vi diệu của phương pháp giáo dục ở nước ngoài. Hôm nay có bạn báo cho tôi biết đang có hội chứng gọi là Lân Syndrome qua việc lại có một sinh viên khác tên Mai Đức Anh viết thư gởi Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam để giải thích cho vị này biết thế nào là chảy máu chất xám khi đất nước còn lấn cấn mãi việc sử dụng nhân tài. Thấy rằng hội chứng này rất nguy kịch, tôi sực nhớ cách nay nhiều năm có viết hai bài về “Nhân Tài” trên emotino.com, nay buộc lòng phải kiếm tìm đăng lại để các trường học có tài liệu mà dạy dỗ học trò cho chu tất, đừng để các cháu nói nhăng nói cuội miết rồi ở nước ngoài nếu biết nội dung “góp ý” của các cháu sẽ cười chê cả dân tộc Việt Nam không hiểu thế nào là “nhân tài”. Song, trước khi chép lại nguyên văn hai bài này, tôi xin ghi ra sáu ý ngắn sau đây để nhờ bà con cô bác gần xa nếu có biết mấy cháu học sinh – sinh viên (kể cả người nhớn học tiến sĩ) Việt Nam nào sắp du học thì giúp chỉ cho các cháu in ra đem theo làm phương thuốc dấu (như Bố D’Artagnan trao cho anh chàng Ngự Lâm Quân thứ tư này) phòng khi hữu dụng đối phó với Hội Chứng Lân Syndrome.

1) Thứ nhất là…xin đọc bài bức thư gởi sinh viên Ngô Di Lân để biết khi còn đang học tức chưa học xong thì vẫn chưa là cái thá gì cả về độ dày độ cao độ nặng của tri thức, trí thức, trình độ, năng lực, bản lĩnh, kinh nghiệm, thực hành, ứng dụng, thăng hoa, để cho phép bản thân tự trọng vọng, tự tôn vinh.tự cho mình là hơn thiên hạ còn ở trỏng (tức là còn ở trong nước).

2) Thứ nhì: nếu tốt nghiệp đại học xong ở “bên ấy”, thì nào phải là chuyện không nên nếu được “ở bển” mời công tác vì bao giờ cũng vậy, “học” phải đem ra “hành”, mà chỉ có kết-quả-“hành”-giỏi cộng với tư-cách-đạo-đức-tốt cộng với tiềm-năng-có-thể-khai-thác-nhiều-thêm mới không bị họ tống cổ ra khỏi công ty hay cơ quan của họ sau thời gian thử việc hay sau khi hợp đồng đầu tiên hết hạn. Chỉ có những ai trụ được khi “hành” ở nước ngoài như vậy mới đạt yếu tố đầu tiên cho sự quan tâm có thể có từ nước mà mình là công dân.

3) Thứ ba: từ điều thứ nhì ở trên sẽ cho thấy cái năng lực của người du học vì lẽ nào họ đi du học như người mông muội, không biết mình thích gì, cái mình thích ở quê nhà có đang được khuyến khích tập trung phát triển không, thậm chí nếu quê nhà chưa “nhận ra” cái hay cái ho đó thì bản thân mình phải làm những gì để có sức thuyết phục cực cao khiến Nhà nước phải suy nghĩ lại, làm theo ý mình, để mình với tất cả những thành tựu bề dày kinh nghiệm sáng tạo thành công tại các công ty khổng lồ ở hải ngoại được mời về đảm trách việc gây dựng hình thành cái mới cực hay cực ho đó. Vì rằng, không phải “qua bển” học quản trị kinh doanh rồi vừa tốt nghiệp đã la nhặng lên ta đây là nhân tài, đầu ta có chất xám, nhà nước phải nhanh tay sử dụng kẻo nó chảy đi mất thì đừng trách sao đất nước thiếu người ngồi trên trước làm tổng giám đốc hay chủ tịch tập đoàn.

4) Thứ tư: cụm từ “chảy máu chất xám” chỉ được dùng khi con người kiệt xuất của một quốc gia từ bỏ nơi công tác nội địa để đầu quân cho nước ngoài, bất kể ra hẳn nước ngoài hoặc phục vụ cho công ty nước ngoài ngay trong nước mình. Đang đi học, cách chi đã là “chất xám”! Thi đậu xong, cách chi tự nhiên thành “chất xám”! Đậu xong, “ở bển” làm việc theo lời mời thì lại càng không phải là “chảy máu chất xám” vì chưa hề là người kiệt xuất của quê nhà, có đã là tài sản quốc gia đâu mà gọi là “chảy” ra ngoài, mà phải nói cho đúng hơn là đi du học rồi đi du hí đi du lịch quên mất đường về giống như chiếc lá héo úa rơi xuống dòng suối đục ngầu chảy qua vùng khai thác bô xít vậy.

5) Thứ năm: do “chất xám” liên quan liên hệ liên đới liên kết ý tứ ý nghĩa ý đồ với hai chữ “nhân tài” nên phải chịu khó đọc hai bài viết của Lăng Tần dưới đây đã rồi hãy nói tiếp v