Latest Blog Posts

Nước Mỹ Vỡ Vụn

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

 

Trên đây là lá cờ của nước Cộng Hòa Texas còn gọi là lá cờ Burnet từng bay phất phới trên bầu trời Texas từ năm 1836 đến năm 1839.

Sau khi đăng bài Nước Mỹ Bất Hạnh trên blog này và trên blog đồng hành ở worldpress.com với nội dung nêu những tai ương khủng khiếp chắc chắn một tỷ phần trăm tức 1,000,000,000%  sẽ đến với nước Mỹ từ thiên nhiên làm vỡ toang nước Mỹ về địa tầng địa mạo , và những thất bại thê thảm từ nguồn nhân lực nhập cư do chính sách tệ tồi, tôi viết tiếp bài này về một bất hạnh khác sẽ làm nước Mỹ vỡ vụn về địa lý địa dư địa chính trị: phong trào ly khai rầm rộ đòi độc lập tách khỏi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Lá cờ của Cộng Hòa Texas (cờ xanh, sao vàng) ở trên về hình thức rất giống với lá cờ của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (cờ đỏ, sao vàng), nhưng chứa đựng một lịch sử bi tráng kiên trì của vùng đất luôn nấu nung sôi sục khát vọng ly khai khỏi Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ qua những biến loạn trong những mốc thời gian mà gần đây nhất là vào các năm từ 1997 đến nay. Texas kiêu hãnh ngạo mạn luôn treo lá cờ của mình trên cột cờ Texas đứng riêng song song ngang hàng bên cạnh cột cờ Hoa Kỳ, trong khi tại tất cả các tiểu bang khác thì theo đúng quy định phải treo trên cùng một cột cờ với lá cờ Mỹ ở trên và cờ tiểu bang ở dưới. Và chỉ 16 năm sau khi sáp nhập vào Hoa Kỳ, người dân Texas đã bắt đầu tiến trình gian khổ hàng trăm năm cho đến tận ngày nay để mong thoát khỏi chiếc thòng lọng nô dịch liên bang.

 

Không chỉ có Texas muốn trở lại tư thế và phẩm giá một quốc gia độc lập, mà sự bất mãn của người dân của tất cả các tiểu bang khác đối với nhà nước liên bang Hoa Kỳ cũng đã luôn khiến nước Mỹ buộc phải đương đầu với nguy cơ ngày càng rõ nét và dứt khoát của sự đồng loạt ly khai. Trang web WND ngày 11-12-2012 đã từng viết rằng phong trào ly khai đã lan nhanh như trận cháy rừng đến 34 tiểu bang Louisiana, Alaska, Utah, Wyoming, California, Delaware, Nevada, Kansas, Ohio, South Dakota, West Virginia, Nebraska, Pennsylvania, Arizona, Oklahoma, Arkansas, South Carolina, Georgia, Missouri, Tennessee, Michigan, New York, Colorado, Oregon, New Jersey, North Dakota, Montana, Indiana, Mississippi, Kentucky, Florida, North Carolina, Alabama và Texas. Trong khi đó, trang chuyên đề chính trị Huffington Post ngày 14-11-2012 đã từng chạy tít rằng dân chúng tại tất cả 50 tiểu bang đều đã nộp đơn xin tách khỏi Hoa Kỳ.

Trong một diễn biến mới nhất sau sự việc Crimea tách khỏi Ukraine qua cuộc trưng cầu dân ý để tái sáp nhập vào Nga, Đài Tiếng Nói Nước Nga ngày 20-3-2014 đưa tin nói rằng 29 tiểu bang Mỹ như chịu tác động dây chuyền đã tích cực sôi động đẩy mạnh việc tách khỏi Hoa Kỳ. Và trong khi tờ Thời Báo Washington ngày 25-3-2014 xem việc tiểu bang Alaska quyết liệt đòi tách ra khỏi Hoa Kỳ để tái sáp nhập vào Nga với khẩu hiệu “Alaska back to Russia” là sự kiện phải quan tâm thì giới truyền thông Âu Mỹ lại xem việc Disunited States of America (cách chơi chữ: United States of America tức Liên Minh Các Nhà Nước Mỹ, tức Liên Hợp Các Tiểu Quốc Hoa Kỳ, tức cái mà người Việt hay gọi sai theo tiếng Tàu là Hợp Chủng Quốc hay Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ; và Disunited States of America sẽ có nghĩa là Các Nhà Nước Mỹ Phân Ly hoặc nói theo tiếng Tàu sẽ là…Tách Chủng Quốc Hoa Kỳ còn tiếng bình dân Việt có thể là Liên Bứt Nước để khỏi lộn với…Liên Hợp Quốc) dẫn đến việc trang web của tổ chức Hồi Giáo Hamas ghi rằng ngay cả dân toàn Dãi Gaza cũng muốn thành quốc gia độc lập thuộc Liên Bang Nga là tin chấn động, dù biết rằng hiện có 50.000 phụ nữ Nga lập gia đình với người Palestine trong khi Nga luôn tuyên bố sẽ bảo vệ người Nga ở bất kỳ nơi nào trên toàn thế giới mà những người dân Nga ở Palestine này đang bị Israel đe dọa, hù dọa, lấn chiếm, lấn xâm.

Nổi bật tương tự như Texas là phong trào đòi ly khai khỏi Hoa Kỳ của Vermont để lập Nền Đệ Nhị Cộng Hòa Vermont độc lập như thời 1777-1791 vì từ sau khi nước Cộng Hòa Vermont Đệ Nhất năm 1791 đồng ý gia nhập liên bang Hoa Kỳ cho đến nay người dân đã không còn có thể chịu đựng lâu hơn sự suy đồi suy yếu suy tàn của chính phủ liên bang Mỹ. Thông tin về Vermont có thể được kiểm chứng dễ dàng với công cụ tìm kiếm Google.

Nước Mỹ rồi sẽ bị chia tách thành nhiều hơn 1 quốc gia:

 

Những điều lợi và hại từ sự việc trên có thể được nêu lên ở các điểm chính sau:

Điều lợi:

1) Các “quốc gia độc lập” sẽ có được sự công bằng trong thụ hưởng từ các nguồn lợi và nguồn lực của riêng mình. Thí dụ như trường hợp của Texas đã luôn hứng chịu những thiệt thòi: là tiểu bang có phúc lợi y tế tồi tệ nhất Hoa Kỳ với 22,5% người dân không có bảo hiểm y tế, và đồng thời có tỷ lệ cao nhất nước về số trẻ em, người thất nghiệp, người già không có bảo hiểm y tế, do ngân sách chu cấp bất công và nhỏ giọt theo cơ chế xin-không-cho của liên bang (kém hơn cơ chế xin-cho của Việt Nam).

2) Các tiểu bang thực thi được quyền tự quyết hiến định để tách khỏi liên bang trong hòa bình (không cần mời các nhà tư vấn Việt Nam sang giúp thành lập các Mặt Trận Giải Phóng) mà chính quyền liên bang đã luôn trước đây sử dụng vũ lực đề trấn áp còn nay lại luôn sử dụng biện pháp tu từ hùng biện để bác bỏ. Việc Mỹ hù dọa mạnh tay với Nga trong vấn đề Crimea vừa qua tách khỏi Ukraine để tái sáp nhập vào Nga là nhằm răn đe các mầm mống ly khai từ trong chính nội tình Hoa Kỳ cũng như từ nội tình nước Anh trước phong trào rầm rộ đòi ly khai của Tô Cách Lan tức Scotland khỏi Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan mà cuộc tổ chức trưng cầu dân ý sẽ xảy ra vào tháng 9-2014 tới đây, hay nội tình của Tây Ban Nha với vấn đề Xứ Basque và tại khắp các quốc gia Âu Châu đang có nguy cơ xé toang Liên Minh Phòng Thủ Bắc Đại Tây Dương (nói theo ngôn ngữ Việt Nam Cộng Hòa, chứ còn theo tiếng Việt hiện đại thì gọi là Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương) chứ không phải Crimea sai hay Nga không đúng; và sự cứng rắn bản lĩnh của Nga chính là sự động viên cực kỳ cần thiết cho dân chúng 50 tiểu bang của Hoa Kỳ đòi hỏi quyền tự quyết ly khai theo Hiến Pháp Hoa Kỳ.

3) Các “quốc gia” mới từ sự tan rã của đế chế Hoa Kỳ sẽ phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh mạnh mẽ, làm thay đổi tận gốc rể diện mạo địa chính trị trên toàn thế giới với hàng chục “tân quốc gia” , hàng chục “tân chính phủ” tác động đến cán cân lực lượng khu vực, châu lục, và quốc tế.

4) Dân chúng ở các “tân quốc gia” sẽ có nhiều “tân đảng” thay vì bị khống chế bởi chế độ lưỡng đảng của Hoa Kỳ, nhờ vậy nhiều người Mỹ gốc khác có cơ hội trở thành lãnh đạo tối cao (tổng thống) các đất nước mới của họ thay vì là dân quèn của 50 tiểu quốc dưới quyền một tổng thống liên bang chẳng ra gì ngồi mát ăn bát vàng trọn đời.

5) Sự thành công – nếu đạt được – của 50 tiểu bang Hoa Kỳ trong việc hình thành 50 quốc gia độc lập sẽ giúp xóa sổ tên đế quốc cao-bồi chăn bò sen-đầm quốc tế Mỹ, đồng thời giúp làm lung lay nền móng có thể dẫn đến sự tan rã của một tên đế quốc khác vốn là hậu duệ của Tần Thủy Hoàng đang xưng hùng xưng bá đòi chiếm Đông Hải và Biển Đông (đã, đang, và sẽ phải đương đầu với các phong trào ly khai đòi thành lập các tân quốc gia như Cộng Hòa Liên Bang Uyghurstan, Cộng Hòa Nam Mông Cổ, Vương Quốc Tây Tạng, Cộng Hòa Hong Kong, Mãn Châu, Taiwan Gaoshan, Attaccia Korea, và Cộng Hòa Macau), để thế giới chỉ còn ba nhóm quyền lực là một liên bang Nga hòa hợp hùng cường dũng mãnh mang tính khu vực, một liên minh Châu Âu thiếu tài nguyên nhất là khí đốt nhưng dồi dào sự gấu ó và mất đoàn kết mang tính châu lục, và một liên minh Việt Nam trí tuệ gồm Việt Nam và các quốc gia có tổng thống là người gốc Việt mang tính toàn cầu phi châu lục. Và đương nhiên cả hai nhóm quyền lực khu vực lại ở xa Việt Nam nên khó trực tiếp đe dọa sự sinh tồn của dân tộc và đất nước Việt Nam trong khi liên minh Việt trải dài khắp châu lục khiến sự sử dụng quân đội trấn áp, răn đe, hoặc tổng lực tiểu trừ được thực hiện ở thế thượng phong.

6) Toàn Châu Âu khiếp đảm trước sự vùng lên của Crimea ly khai khỏi Ukraine để tái sáp nhập vào Nga, đơn giản vì Châu Âu sẽ phải đương đầu với nội tình của chính họ khi từng quốc gia một đã, đang, và sẽ phải vất vả đối phó với sự ly khai, đòi độc lập của các phong trào thành lập các tân quốc gia, như Ý (đòi thành lập nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sardinia, Nhà Nước Tự Do Nam Tyrol, và Đệ Tam Cộng Hòa Veneto), Áo Quốc (CarinthiaNam Tyrol), Bỉ (FlandersWallonia), Đan Mạch (BornholmĐảo Quốc Faroe), Phần Lan (Aland, Sápmi, và Cộng Hòa Tây Karelia), Pháp (Brittany, Cộng Hòa Liên Bang Occitania, Alsace, Catalonia, Nice, Savoy, Normandy, Vùng lãnh thổ hải ngoại như French Polynesia, MooreaTân Caledonia), Đức (Bavaria, Sorbia, Đông Frisia, Nam SchleswigBắc Frisia), Hà Lan (Frisia), Na Uy (Sápmi, Svalbards & Jan Mayen, và Dzan Mayensky thuộc Nga), Ba Lan (Thượng Silesia), Bồ Đào Nha (Azores), Tây Ban Nha (Đảo Quốc Canary, Andalusia, Aragon, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Asturias, Đảo Quốc Balearic, Xứ Basque, Cộng Hòa Catalonia, Castile & León, và Cộng Hòa Galicia), Thụy Điển (SamiScania), Ukraine (Carpathian Ruthenia), Vương Quốc Đại Anh Và Bắc Ái Nhĩ Lan (Anh Quốc, Tô Cách Lan, Cornwall, Mercia, Yorkshire, Ulster, Orkney, Shetland, Ngoại Hebrides, Monmouthshire, Wales, Đảo Quốc Channel, Bailiwick of Guernsey, Jersey, Isle of Man, các vùng lãnh thổ hải ngoại như Gibraltar, Anguilla, Bermuda, Montserrat, và Turks & Caicos Islands), v.v.. Trong khi đó tại vùng Bắc Mỹ, Canada cũng có các vùng đòi ly khai thành lập các nhà nước như Alberta, Cascadia, Quebec, Saskatchewan, Tây Canada, Nunavut, Nunavik, Nunatsiavut, và Inuvik Region. Riêng Hoa Kỳ ngoài việc nhiều chục tiểu bang đòi tách ra thành các quốc gia độc lập còn có các phong trào đòi thành lập nước Cộng Hòa Lakotah, Cộng Hòa Tân Afrika (các bang tập trung dân Mỹ gốc Phi), Liên Quốc Aztlán,  Guam, Northern Mariana Islands, và Samoa. Tất cả sẽ như sự thấu thị của Lăng Tần trong một bài viết trước đây rằng Liên Hợp Quốc sẽ bị xóa sổ và thay vào đó là một liên minh mới với sự tham dự của hàng trăm tân quốc gia và theo một trật tự thế giới mới. Điều thú vị nhất là đã và đang có các đấu tranh đòi thành lập các nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa” như đã liệt kê ở trên (trong nội tình nước Ý và Tây Ban Nha).

 

7) Nếu như sự ngu-xuẩn-không-bút-mực-nào-tả-xiết của Mỹ và NATO khi tìm cách lật đỗ tổng thống dân cử của Ukraine để cô lập Nga theo chủ trương bài Nga đã tạo điều kiện bằng vàng cho vùng Crimea chiến lược tiến hành trưng cầu dân ý, tuyên bố độc lập khỏi Ukraine và xin tái sáp nhập vào Nga, thì sự ngu-xuẩn-không-bút-mực-nào-tả-xiết tiếp theo của Mỹ và Châu Âu là đã tiến hành cấm vận kinh tế Nga để trừng phạt Nga và không công nhận giá trị cuộc ly khai của Crimea lại đã tạo điều kiện bằng vàng khác cho Nga vì bản thân Nga sẽ nương vào đó mà xử lý mạnh tay đối với khu vực Bắc Caucasus đang đòi ly khai khỏi Nga để thành lập “Các Tiểu Vương Quốc Caucasus” (gồm Chechnya, Dagestan, và Ingushetia) và nước Circassia (gồm Adygea và phần lớn các vùng Kabardino-Balkaria, Karachey-Cherkessia, Krasnodar Krai, và Stavropol Krai).

Điều bất lợi:

1) Hoa Kỳ có quân đội hùng mạnh làm đối trọng với các thế lực quân sự khác trên phạm vi toàn cầu, nhưng hàng chục “tân quốc gia” sẽ không có uy lực quân sự đó, khiến sự đa cực kiểu chân vạc trở thành lưỡng cực rất dễ bị tổn thương hay bị triệt tiêu bởi một “tân bá chủ”.

2) Cạnh tranh thúc đẩy phát triển, nhưng cạnh tranh cũng dẫn đến sự tàn diệt do là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Các “tân quốc gia” có thể sẽ gây chiến với nhau, và dư âm cuộc nội chiến tàn khốc trong lịch sử Mỹ luôn là bài học nhắc nhở rằng tư tưởng cát cứ sứ quân luôn là dấu ấn hằn trong tâm trí của loài người nói chung chứ không phải chỉ nơi con cháu Đỗ Cảnh Thạc, Ngô Nhật Khánh, Kiều Công Hãn, Phạm Bạch Hổ và tám vị khác đã bị Đinh Bộ Lĩnh đánh dẹp vào Thế kỷ X.

Lời khuyên dành riêng cho người Mỹ gốc Việt:

Người Việt rất không thích làm nhân tài hay hiền tài, vì đã là bậc hiền tài thì chỉ có duy nhất một cái tâm, một cái trí, một thứ tư duy: được theo minh quân, được phò thánh chúa, được đem tài kinh tế và tiết tháo trung trinh để lao lung lao lực lao tâm giúp nước, giúp dân.

Người Việt rất thích làm lãnh đạo, vì vậy trẻ nít thì muốn lớn lên sẽ thành Bill Gates, lúc lớn lên học vi tính tốt nghiệp xong chỉ muốn mở công ty buôn bán laptop chứ không chịu làm kỹ sư sửa máy khiến người Việt học aitee tức công nghệ thông tin thì nhiều vô số mà mấy đại gia điện tử Nhật-Hàn lại cứ luôn than thở không tuyển được kỹ thuật viên tức…“thợ” ở Việt Nam; sống ở Việt Nam thì mua quan bán chức lính kiểng lính ma buôn lậu ma túy từ Tam Giác Vàng để leo lên thật cao chứ chẳng biết đánh đấm gì sất để rồi khi đại bại ném súng cởi áo tuột quần bỏ chạy tán loạn hơn vịt vượt biên qua Mỹ theo kiểu tự sợ (không tự sướng) chẳng dính gì đến ý nghĩa “tỵ nạn” mà chỉ là bỏ đi sang Mỹ kiếm dưỡng đường trị các bệnh khiếp sợ gọi là mania và phobia tức về tâm lý tâm thần, thì lập ra mấy thứ khôi hài tự phong là bộ trưởng này tướng tá nọ lãnh tụ kia để mỗi khi đến ngày “quốc hận” thì “duyệt binh” và đọc “hiệu triệu với quốc dân” rồi nhóm này mắng chửi nhóm kia là dỏm; còn không vượt biên được phải ở lại với Cộng sản thì tụ năm tụ ba đặt bí danh Chị này Chị nọ, lập hội nghiên cứu Chấn nghiên cứu Cấn nghiên cứu Đoài, phong trước bộ trưởng này bộ trưởng nọ, v.v. và v.v., mong có ngày làm…tổng thống.

Vì các đặc điểm trên, người Mỹ gốc Việt không thể còn bậc hiền tài – vì nếu có đã về Việt Nam giúp Đảng Cộng Sản hết rồi hoặc đã xuất hiện để luôn lên tiếng bảo vệ Việt Nam từ trong lòng nước Mỹ – nhưng ai cũng muốn làm lãnh đạo dù làm hầu bàn hay cắt móng. Do đó, việc Hoa Kỳ Vỡ Vụn là thời cơ quý hơn vàng để những người Mỹ gốc Việt có thể có vài người trở thành tổng thống thật sự của các “tân quốc gia”. Anh không bao giờ có thể làm tổng thống Hoa Kỳ vì cách chi mà anh trở thành tay trùm của Đảng Dân Chủ hay Đảng Cộng Hòa cả về tài chính, học thức, khả năng hùng biện, và quá trình lãnh đạo thành công lâu dài ở cấp tiểu bang để được giới thiệu ra ứng cử! Anh muôn đời muôn kiếp không bao giờ có thể làm tổng thống Việt Nam vì anh cách chi dám mò về Việt Nam xắn tay áo và xắn ống quần xông tới đánh nhau với và đánh thắng cộng sản Việt Nam! Thế nên, anh chỉ còn cách khôn ngoan nhất là vừa tích cực chống lại sự liên kết của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ để thúc đẩy nhanh tiến trình tan rã thành Tách Chủng Quốc, vừa tích cực xử sự tốt đẹp với Việt Nam, lấy lòng Cộng sản Việt Nam để được Việt Nam hậu thuẫn cả về tình cảm và quyền lợi kinh thương vì rằng với hàng chục “tân quốc gia” thì Việt Nam sẽ lựa chọn vài quốc gia nào có những vị  tổng thống “biết điều” để dành cho các “tân quốc gia” này quy chế tối huệ quốc MFN. Không theo cách đề xuất này, các vị rồi sẽ ân hận vì nước Mỹ vẫn cứ vỡ vụn disunited do các vị cách chi mà giúp nó liên kết united mạnh hùng (bài viết: Nước Mỹ Bất Hạnh), và khi nó vỡ vụn rồi thì các vị tổng thống ngồi trên đầu các vị toàn là người Mỹ gốc Tàu, gốc Ý, gốc Mễ, gốc Nga, gốc Ấn, và gốc Cu, mà các vị thuộc những gốc này thì rất ham làm bạn tốt với Việt Nam đấy.

[Các nhu cầu tư vấn quốc gia khởi nghiệp (không phải Start-up Nation của Dan Senor và Saul Singer chỉ biết nhận xét về Nước Israel đã hiện hữu mà là The Start-up of New Post-US Countries của Tannhauser Beowulf Thor và Lăng Tần về cách tạo nên những quốc gia từ đống đổ nát của Nước Mỹ Vỡ Vụn trên vùng lãnh thổ còn đang được tạm gọi là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, xin liên hệ tác giả bài viết này để nhận bảng báo giá và chi tiết hợp đồng song ngữ Anh-Việt. Có discount giảm giá cho người hay nhóm người cam kết không chống Việt Nam Cộng sản.]

Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Mít-xtơ Xương Xẩu

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tại kỳ họp Thứ II, Quốc Hội Khóa XIII, tuân theo mệnh lệnh của nhân dân (qua việc nhân dân chấm điểm cao lời hứa lúc tranh cử của tôi “biết lo trước cái lo của người dân” và đã dồn phiếu cho tôi đắc cử trở thành đại biểu quốc hội Việt Nam) tôi đã phát biểu có liên quan đến Luật Biểu Tình. Thế mà một số tên vô lại đã len chân được vào trong các tờ báo lớn ra tay ngụy tạo tin tức sai lệch về cái gọi là “dân trí thấp” để dẫn dắt và khích động đám côn đồ ẩn danh trên internet tấn công tôi. Ngay cả một tên tiến sĩ quèn (do tôi chưa hề nghe biết đến tên y và “công trình” nào của y trong giới hàn lâm) của một trường đại học ở một tỉnh Miền Tây (qua địa chỉ email của y tại trường đại học chứ không phải email “chùa”) cũng dám cả gan “khuyên bảo” tôi rằng “biểu tình là tự do, dân chủ” mà tôi biết nội dung qua câu đề mục của bức email, chứ không hề mở email đó ra xem, đơn giản vì (1) khi đã tuyên bố một điều gì, tôi không cho bất kỳ ai có bất kỳ cơ hội nào tìm ra bất kỳ sơ hở trong lập luận hùng biện của tôi; (2) tôi biết tất tần tật tất cả các kiểu lập luận của bất kỳ ai trên toàn thế giới chống đối bất kỳ chủ đề nào tôi viết hay nói về; và (3) tôi không bao giờ phí thời gian đọc hay nghe những gì do những kẻ thuộc đẳng cấp thấp kém hơn tôi lại tập tành tranh luận chống lại tôi.

Cũng vì lý do mang bản tính thuần Việt trời sinh như trên, tôi chả đọc tin và chả biết tên của cái thằng vừa rời – không phải “trốn” khỏi – Việt Nam để xin “tỵ nạn chính trị” ở Thụy Sĩ. Nhưng viết bài mà không cung cấp thông tin chính xác lại cũng không là bản tính trời sinh của tôi nên tôi buộc lòng hạ mình hỏi một cô nhân viên, vì vậy mới biết tên của hắn có chữ lót là Xương. Do không thể “tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, tôi không hơi đâu mà hỏi lại cô nhân viên để nhớ tên đầy đủ của cái thằng mất dạy ấy mà tạm gọi gã tỵ nạn là Xương Xẩu, và do y tỵ nạn nghĩa là ra sống ở nước ngoài nên tôi phải gọi y là Mít-xtơ Xương Xẩu vậy, do tiếng Anh không có đại từ “thằng”.

Nhớ khi xưa, Khổng Minh Gia Cát Lượng thấy hàng tướng Ngụy Diên có cái xương ở sau gáy to chè bè như …tấm phản nên biết y có cái cốt…phản, nhưng vẫn rất khôn khi “xài” y vì cái sức vóc vai u thịt bắp của y. Nhưng Ông họ Khổng vẫn ghi sẵn mật thư giao thẻ nhớ cho một vị tùy tướng và cho vị này biết mật khẩu tức password để đúng ngày đúng giờ mở file ra xem trong laptop mà thực hiện. Thế là sau bao năm làm thân khuyển mã tức chó sủa vang trời bảo vệ chủ, nai lưng cho chủ cưỡi và chìa bụng ra cho chủ thúc, đến lúc tuổi già ập đến thành tên vô dụng, Ngụy Diên ta quyết làm phản, bỏ sang đầu hàng đối phương, dè đâu gặp ngay vị tướng đang ngồi chồm hổm trên nắp cống ven đường chờ đợi sẵn, vung một đại đao vớt bay cái đầu tên phản phúc có cái xương ở sau gáy to chè bè như tấm phản.

Luận lúc này vào thời hiện đại, “mấy ông cộng sản” Việt Nam tất nhiên phải ở cấp bậc sư tổ của Gia Cát Khổng Minh, do Gia Cát Lượng nào có ra chi, đâu phải người chiến thắng của Tam Quốc, trong khi Cộng sản Việt Nam chiến thắng tất tần tật, thu giang sơn Tam Miền về một mối. Vì là sư tổ nên mấy ông cộng sản Việt Nam tất biết Mít-xtơ Xương Xẩu có cái bộ vó y chang Ngụy Diên, nhưng vẫn nín thin vì cần chó giữ nhà và cần ngựa để cưỡi bởi y có cái miệng khuyển và cái thân mã sủa vang trời Tây bảo vệ chủ nhân và nai lưng (hay đưa đầu?) cõng chủ nhân ngồi êm đít phó hội đất Âu. Vì là tổ sư nên mấy ông cộng sản chơi trên cơ, chẳng cần có mật thư mật khẩu đón bắt giữa đường (ra sân bay) gì ráo trọi, chẳng thèm cất vó khi y tẩu tán bán sạch tài sản và treo ấn từ quan (tức là…ra khỏi Đảng) làm chi, vì bốn lý do sau:

1- Xương Xẩu ta đã vừa hết xí quách thịt dai nhách vừa có cái cốt phản nên nhất thiết cứ tỉnh bơ làm ngơ để y ra khỏi Việt Nam để Nhà Nước được lợi to vì khỏi phải tốn tiền chu cấp hưu trí cho y hàng chục năm, khỏi phải bắt các y bác sĩ “tận tình cứu chữa” khi y lên cơn, và khỏi cần lo chí phí hậu sự cao khi buộc phải thành lập Ban Lễ Tang ở tất cả các thành phố lớn trong cả nước và sắm các vòng hoa viếng, v.v., cho kẻ mà mấy ông đã biết là thuộc hạng tép riu bất trí vô mưu vô dụng và vô hại.

2- Xờ-Nâu-Đen tức Snowden bỏ Mỹ qua Nga “tỵ nạn” với ba thứ vũ khí lợi hại là sức trẻ, tài năng về kỹ thuật vi tính, và kho tàng thông tin tuyệt mật liên quan đến sự sinh tồn của nhà nước Hoa Kỳ, nên được Nga đón tiếp nồng hậu, giúp Nga chiếm thế thượng phong. Còn Xương Xẩu bỏ Việt Nam qua Thụy Sĩ “tỵ nạn” chỉ với cái mồm ăn bậy nói bạ y như lão khuyển trong cơn cẩu cuồng phong, mà Thụy Sĩ thì chả có nhu cầu mua cái mồm ấy vì làm gì có việc Thụy Sĩ sẽ chiếm thế thượng phong đối với Việt Nam khi…bán được nhiều đồng hồ Rolex hơn cho đại gia Việt Nam nhờ vào cái mồm khuyển của y sủa ăng ẳng về nhân quyền, dân chủ của Việt Nam.

3- Xương Xẩu ta xin “tỵ nạn” mà không hiểu ý nghĩa của “tỵ nạn” vì y đã trốn biệt không  dám là … “tù nhân lương tâm”, đã trốn biệt không dám sủa “xã hội dân sự”, đã trốn biệt không có đấu tranh đòi “đa đảng” bao giờ, đã trốn biệt không hề gào to đòi giải tán Đảng Cộng Sản Việt Nam, và đã trốn biệt cái gọi là mạng xã hội chẳng viết bất kỳ điều gì chống Đảng để mà “sợ” bị truy bắt, truy sát, nên làm quái gì mà có “tư cách” dùng hai chữ “tỵ nạn”. Thậm chí nếu Thụy Sĩ có làm cái việc mà Việt Nam rất bực bội bực dọc bực tức và bức bối đó là tống trả y về Việt Nam thì y cũng bình an vô sự chả hề hấn gì vì người Việt khôn ngoan rất sợ rớ vô chó dại, trừ phi y bị người dân thưa kiện y sang đoạt tài sản hay phá trinh con gái của người ta trước khi “rời” – không phải “trốn” khỏi – Việt Nam.

4- Xương Xẩu ta sẽ luôn bị chính phủ và người dân Âu Tây khinh miệt vì y ra đi với đầy đủ vợ con, đầy đủ tài sản, đầy đủ quá khứ oai hùng đã cúc cung hầu hạ để Cộng Sản Việt Nam thoải mái tung hoành chiếm lĩnh trận địa ngoại giao, đè bẹp ý chí đế quốc thực dân tư bản, nhưng lại không đem theo được ngay cả đến một vết trầy xước nhỏ xíu xìu xiu nào để chính phủ nước họ có cớ mắng Việt Nam tàn ác rồi xét cấp quy chế tỵ nạn cho Xẩu ta.

Nghe đâu có tên nhà báo nhà biếc không có tên cha sinh cha siếc mẹ đẻ mẹ điếc (mà nếu có chắc là xấu ghê xấu gớm tủi hổ muôn phần) nên chỉ luôn xài tên gọi là Huy Đức Huy Điếc, do không bao giờ có thể chôm chỉa được bất kỳ bửu bối nào của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam nên phải rặn đẻ ra “bửu bối” dỏm gọi là những ghi chép nội dung các bàn luận tối mật giữa các nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản mà y đã nhờ có pháp thuật thần thông của loài khỉ đỏ đít ở Hoa Quả Sơn bên Tàu mà biến thành ruổi nghe lóm được, với ao ước Mỹ sẽ chụp lấy tác phẩm của y rồi mở rộng vòng tay âu yếm đón y vào tỵ nạn rồi cho làm công dân Huê Kỳ, nhưng dường như Mỹ do là nhà phát minh ra thuật nói phét nên vừa nhìn trang bìa của y đã biết ngay là đồ dỏm và không mặn mà đón tiếp nên y đã muối mặt trở về Việt Nam, ưu sầu vì ước ao cháy bỏng của đời y được làm thân khuyển mã tức chó ngựa cho Mỹ đã không được toại nguyện.

Như vậy, việc Xương Xẩu “xin tỵ nạn” một lần nữa cho thấy mấy ông Cộng sản Việt Nam đúng là sư tổ về kế mưu sách lược: tất cả những kẻ thuộc giống loài linh trưởng có cái ót chè bè như tấm phản, từ Hoàng Văn Hoan đến Xương Văn Xẩu, đều chỉ có cái mồm khuyển và cái thân mã chứ không tên nào đem được bất kỳ thứ bửu bối cụ thể nào ra khỏi Việt Nam để gây hại được cho Nhà Nước Việt Nam.

Nói một cách đời thường thông tục tức mundanely speaking thì Mít-xtơ Xương Xẩu chỉ là tên điếm già bất tài, vô dụng, chỉ còn biết sủa để mong tìm gặm vài khúc xương với xẩu chứ làm gì cắn hại được chủ nhân.

Còn nói một cách Hollywood tức Hollywoodly speaking thì sự “ra đi trót lọt” quá dễ dàng của Mít-xtơ Xương Xẩu ắt là gợi ý không tồi cho một bộ phim hoành tráng của thể loại gián điệp – vì anh Tom Cruise luôn được cung cấp tất cả các tiện nghi hiện đại, tiền bạc dồi dào, giấy tờ hợp pháp, thời gian thuận tiện, và phương tiện tối ưu mờ! Để thực hiện nhiệm vụ bất khả thi trong lòng địch mờ!

Và nói một cách nhà-sử-học tức historianically speaking thì ngay cả khi anh lính 19 tuổi Hans Conrad Schumann của cộng sản Đông Đức ngày 15-8-1961 phi thân nhảy qua hàng rào kẽm gai trong quá trình xây dựng Bức Tường Berlin đào thoát tìm đến “tự do”qua bức hình mà “thế giới tự do” hí hửng loan truyền tung hô toàn thế giới, thì số phận tủi nhục khổ nghèo bi đát như thế nào của Conrad Schumann sau đó trong thế giới tự do và trong sự khinh miệt khinh bỉ khinh khi khinh thường khinh khỉnh của chính người dân Đức mà kết cuộc như mọi người đều biết rất rõ qua thông tin do Mít-xtơ Google cung cấp miễn phí trên trang “sợt”: y đã treo cổ tự vẫn năm 1998 vì ưu uất và trầm cảm.

Hans Conrad Schumann không tuyên bố gì về nhân quyền, tự do, dân chủ, vậy mà còn bị xem như chó như thế.

Xương Xẩu loạn ngôn lung tung về nhân quyền, tự do, dân chủ, ắt sẽ tệ hơn cả chó ghẻ, chó lở, chó điên, chó dại, nghĩa là không có được vinh dự hiện diện trên móc treo ở quán thịt cầy.

Hans Conrad Schumann vượt hàng rào kẻm gai trong hoàn cảnh tính mạng như chỉ mành treo chuông vì rất có thể bị những tràng tiểu liên của các chiến binh Đông Đức bắn hạ. Xương Văn Xẩu không vượt hàng rào kẻm gai, không vượt ngục, không vượt biên, không vượt biển, lại công khai nộp đơn xin ra khỏi Đảng, công khai mua vé máy bay ra khỏi Việt Nam, xét ra còn thua cả cái tên Hans Conrad Schumann mà người dân nước Đức thống nhất khinh bỉ.

Hans Conrad Schumann vượt hàng rào kẻm gai trong bí mật, đơn độc và chấp nhận hy sinh sự an nguy của toàn bộ gia đình gia tộc trước khả năng trừng trị của Nhà nước Cộng sản.  Xương Văn Xẩu không như vậy vì y chẳng hy sinh gì ráo, xét ra còn thua cả cái tên Hans Conrad Schumann mà người dân nước Đức thống nhất khinh bỉ.

Hans Conrad Schumann mà người dân nước Đức thống nhất khinh bỉ phải thắt cổ tự tử trong bần hàn, tủi nhục, rẻ khinh. Xương Văn Xẩu không bị người dân Việt khinh bỉ vì người dân Việt có tính khinh người chứ không có tính khinh chó ghẻ, và vì vậy Xương Văn Xẩu sẽ không phải thắt cổ tự tử trong bần hàn, tủi nhục, rẻ khinh, và do đó con cháu của y sẽ tiếp tục học đại học ở nước ngoài, tiếp tục sủa nhặng lên những lời trăn trở cùng với bầy chống Cộng hải ngoại.

Cái đại công của Xương Xẩu là ở chỗ qua việc xin tỵ nạn của y, y đã giúp Đảng Cộng Sản Việt Nam được vinh danh trên toàn thế giới như một đảng chính trị cực kỳ nhân văn, cực kỳ nhân đạo, cực kỳ nhân từ, cực kỳ độc đáo và độc nhất vậy.

Nhân thấy mấy nhúm chống Cộng mừng như bắt được vàng trong toilet (kiểu trong bài Những Lập Luận Kỳ Quái Của TS Trần Minh Hoàng) khi thấy có vụ “xin tỵ nạn” của Me-xừ Xương Văn Xẩu, tôi viết bài này để tỏ lòng thương hại cho tổ tiên giòng họ của hắn và những con tương cận với hắn mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết sắp đăng:

1)       Báo Tuổi Trẻ: Nhiệm Vụ Bất Khả Thi

2)       Nước Mỹ Vỡ Vụn

3)       Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Ủng Hộ Tổng Thống Nga Putin Đối Với Vấn Đề Crimea

4)       Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đệ Trình Quốc Hội Dự Thảo Dự Án Luật Biểu Tình

5)       Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ

6)       Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)

7)       Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

8)       Quyền Lực Lê Như Tiến

9)       Công Trạng Nguyễn Minh Thuyết

10)   Kiến Thức Trương Trọng Nghĩa

11)   Khẩu Khí Đặng Ngọc Tùng

12)   Nhà Tư Vấn Chính Sách Hoàng Hữu Phước Phân Tích Về Sự Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Của Thành Phố Hồ Chí Minh

13)   Báo Người Lao Động: Trân Trọng Nhân Tài

14)   Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

15)   Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ

16)   Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga

17)   Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University

18)   Thế Nào Là Nhân Quyền

19)   “Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước

20)   Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ

21)   Thế Nào Là Thời Trang

22)   Sức Mạnh Lạ Lùng Của Khách Hàng Việt Đối Với Thế Giới Công Nghệ

23)   Giới Thiệu Blog Mới: Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước và Thế Giới Kinh Doanh

24)   Giới Thiệu Blog Mới: Giáo Sư Hoàng Hữu Phước và Tiếng Anh

25)   Báo Sài Gòn Tiếp Thị: Con Đường Định Hướng

26)   Con Nít Và Tổng Thống

27)   Thần Uy Trong Đối Ngoại

28)   Thế Nào Là Khởi Nghiệp

Trân trọng kính mong được độc giả đến tìm đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.

Các bài viết có thể sẽ không theo thứ tự trước-sau hoặc sẽ có thêm các bài viết khác ngoài danh mục chen vào mà không được thông báo trước.

Thế nào là Tự Do – Dân Chủ

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi có bài viết mang tựa đề “Tự Do – Dân Chủ” đăng trên Emotino trưa ngày 18-5-2010. Nay thấy có vài người vẫn chưa hiểu thế nào là “dân chủ”, thế nào là “tự do”, từ đứa học trò thơ dại ngây ngô ngây thơ hay cậu (hay cô) sinh viên đầu óc còn bấn loạn vì tuổi teen còn lo cắm đầu mãi nhìn ngón chân cái, cho đến đảng viên kỳ cựu của Đảng Cộng Sản Việt Nam hay các quan chức Chính phủ đã về hưu hay sắp về hưu do không biết bơi sợ bị chìm nghỉm vào đại dương quên lãng của thế giới quyền lực đã từng giúp họ có nhà cao cửa rộng, dẫn đến các hành vi hành động điên rồ và các phát biểu phát kiến điên khùng điên dại về những vấn đề mà bản thân họ phải học thêm khoảng ít nhất 60 năm mới may ra hiểu được điều cơ bản, tôi thấy mình nên đăng lại bài cũ này để rộng đường dư luận.

Tự Do – Dân Chủ

(http://www.emotino.com/bai-viet/18613/tu-do-dan-chu)

Hoàng Hữu Phước, MIB

12:29  18-05-2010

 

Tình hình biến động chính trị – xã hội ở Thái Lan liên tục từ 2008 đến nay khiến tôi nhớ lại cuộc nói chuyện về “tự do – dân chủ” bên lề Hội Nghị ACMECS III và CLMV IV tại Hà Nội, ngày 4-7 tháng 11 năm 2008, với một viên chức An Ninh Thái Lan. Anh này có vẻ như tổ tiên là người Ấn Độ di dân đến Thái Lan hàng trăm năm trước, người cao gầy, mảnh khảnh, thư sinh – đúng dáng dấp của những ai thuộc “công tác đặc biệt – mật vụ” –  nói tiếng Anh thật nhỏ nhẹ. Anh xin lỗi tôi vì anh không thể cho biết tên và quân hàm, không bao giờ có “danh thiếp”, và chỉ cần nhìn hai chiếc bộ đàm lớn và nhỏ ngay tầm tay anh cùng hai nữ nhân viên Thái đeo bộ đàm nhỏ trên ve áo khoác đen, đứng sau anh chờ lệnh “sếp” là tôi có thể đoán anh nếu không là chức sắc an ninh cao cấp thì chí ít cũng phụ trách an ninh chung cho Thủ Tướng Thái Lan cho chuyến hội nghị này. Chỉ tình cờ mà tôi gặp anh, khi nhìn quanh thấy có đoàn … “thương nhân” Thái đa số là “nữ doanh nhân” trẻ đẹp nên đến định trao đổi danh thiếp trò chuyện kết thân, không ngờ đã tiếp cận số cán bộ đặc vụ Thái trang bị bộ đàm và ắt hẳn có cả … Muoy Thái hay Kick-boxing để thay cho vũ khí hỏa lực cá nhân!

Lỡ phóng lao phải theo lao, tôi định giả lả nói vài câu rồi qua khu vực doanh nhân “thực thụ” Thái khác, nên ngỏ ý thông cảm cho công việc căng thẳng của anh và các cô đội lốt doanh nhân, trong thời điểm tại Thái Lan có những xáo trộn chính trị-xã hội như biểu tình, chiếm sân bay, v.v., do xung đột giữa các đảng phái của một nước “đa đảng” gây ra, từ cuộc khủng hoảng 2005-2006 khi PAD (Đảng Liên Minh Nhân Dân Vì Dân Chủ) tức “phe áo vàng” chống lại chính phủ của Đảng Thai Rak Thai của Thủ Tướng Thaksin Shinawatra, đến lúc bùng nổ sự đối đầu 2008-2010 giữa PAD và Đảng PPP (Quyền Lực Nhân Dân) của các Thủ Tướng Samak Sundaravej và Somchai Wongsawat, và sau này là với Thủ tướng Abhisit Vejjajiva của Đảng Dân Chủ và UDD tức Mặt Trận Dân Chủ Quốc Gia Thống Nhất Chống Độc Tài tức “phe áo đỏ” ủng hộ Thủ tướng bị lật đổ là Ông Thaksin Shinawatra. Không ngờ sự nắm thông tin khá tường tận của tôi đã khiến viên chức này phạm phải một lỗi cấm kỵ đối với “mật vụ” là … nói nhiều trong lúc thi hành nhiệm vụ bảo vệ yếu nhân. Anh đã lập tức nói say sưa như một chuyên gia PR về thương hiệu quốc gia, rằng anh tự hào vì Thái Lan đã liên tục có những biến động chính trị-xã hội như thế, rằng đó mới chính là thể hiện mạnh mẽ nhất về “tự do và dân chủ” ở Thái Lan, rằng “tự do và dân chủ” Thái mới là khuôn mẫu l‎ý tưởng cho một thực thể quốc gia hùng mạnh lãnh đạo khu vực, rằng Thái Lan nhờ vậy sẽ trở thành một cường quốc với một nền “dân chủ” thực thụ và “tự do” thực thụ. Một tràng tiếng Thái vang lên từ bộ đàm của một “nữ doanh nhân” và cô gái trẻ đẹp miệng cười nhưng mắt không cười này nghiêng người nói nhỏ vào tai nhà hùng biện, khiến anh học trò của Cicero này đứng bật dậy như có sức thôi tống từ hỏa tiển đẩy tàu con thoi rời bệ phóng, song vẫn có đủ sự lịch lãm chuyên nghiệp của một mật vụ cao cấp khi thốt lời xin lỗi tôi cùng lúc với lúc anh rời bệ phóng bay mất hút vào đám đông.

Tôi nghĩ anh cũng như nhiều người Thái đã có định kiến hẹp về từ “freedom and democracy” – và nhiều người Việt đã có định kiến hẹp về “tự do và dân chủ”. Tôi muốn nói với anh rằng democracy là một thể chế chính trị do người dân tham gia cai trị thông qua các đại biểu do họ bỏ phiếu bầu lên, tuân theo ý kiến đa số, và ý kiến từng cá nhân được tôn trọng. Vì vậy, hầu như bất kỳ quốc gia nào cũng là democracy, và sự khác biệt chỉ là ở mức độ (chẳng hạn Thụy Điển là quốc gia có mức độ democracy cao nhất, và thấp nhất là Triều Tiên – theo Chỉ Số 2008 về democracy), hoặc ở hình thức tự xưng hay không tự xưng (thí dụ trên toàn thế giới chỉ có Vatican, Saudi Arabia, Myanmar, và Brunei là 4 thực thể công khai không dùng danh xưng democracy). Điều chính yếu tạo ra sự khác biệt, do đó, là ý thức công dân về các cụm không thể tách rời gồm (a) quyền lợi công dân  & nghĩa vụ đối với quốc gia, (b) ‎ý kiến cá nhân được lắng nghe & ý kiến thiểu số chỉ có giá trị tham khảo – nếu thực sự có giá trị, (c) ý kiến cá nhân, ý kiến thiểu số, kể cả ý kiến đa số cũng không được đặt trên sự an nguy và sinh tồn của quốc gia-dân tộc, (d) ý kiến liên quan đến sự an nguy và sinh tồn của quốc gia đều nhất thiết phải do những công dân đoan chính và liêm chính có học thức và được đa số dân chúng biết đến và kính trọng đề đạt theo đúng khuôn khổ luật định hay mặc định xã hội và bằng các phương tiện văn minh như truyền thông đại chúng,, và (e) quốc gia là một thực thể tồn tại song hành cùng các thực thể quốc gia khác.

Diễn giải thêm cho 5 điểm căn cơ của “tự do và dân chủ” nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng

(a) Quyền lợi công dân  & nghĩa vụ đối với quốc gia là hai thành tố của một quyền duy nhất vì không thể dựa vào những “quyền” được ghi trong Hiến Pháp hay quy định bởi pháp luật mà người dân có “quyền” thực hiện “quyền” ấy khi bất chấp nghĩa vụ phải góp phần ổn định tình hình chung của quốc gia;

 (b) Ý kiến cá nhân được lắng nghe & ý kiến thiểu số chỉ có giá trị tham khảo – nếu thực sự có giá trị, vì nếu không, sẽ chỉ có bất ổn và bạo loạn;

(c) Ý kiến cá nhân, ý kiến thiểu số, kể cả ý kiến đa số cũng không được đặt trên sự an nguy và sinh tồn của quốc gia-dân tộc, nghĩa là ngay cả trường hợp các bô lão toàn quốc tại Hội Nghị Diên Hồng không ủng hộ “chiến” thì vương triều phong kiến độc tài Nhà Trần vẫn phải tự quyết vì vận mệnh cả quốc gia không bao giờ nằm trong duy chỉ các “ý kiến” của người dân;

(d) Ý kiến liên quan đến sự an nguy và sinh tồn của quốc gia đều nhất thiết phải do những công dân đoan chính và liêm chính có học thức và được đa số dân chúng biết đến và kính trọng đề đạt theo đúng khuôn khổ luật định hay mặc định xã hội và bằng các phương tiện văn minh như truyền thông đại chúng, vì rằng không thể phủ nhận có những nhóm người nhận tiền để rước voi về giày mả tổ, gây rối – bằng biểu tình ôn hòa hay bằng bạo loạn – phục vụ ý đồ của hoặc ngoại bang hoặc một cá nhân hay một nhóm cá nhân; và

(e) Quốc gia là một thực thể tồn tại song hành cùng các thực thể quốc gia khác, nên bất kỳ những hành vi tương tự như việc dân Thái theo PAD triển khai Chiến Dịch Hiroshima chiếm đóng phong tỏa sân bay Suvamabhumi ngày 25/11/2008, gây họa cho bao du khách nước ngoài, là việc không thể chấp nhận được, tỷ như văn hóa văn minh không cho phép một gia đình gấu ó nhau được làm phiền hàng xóm chung quanh, thậm chí bằng quát tháo to tiếng hay ngăn chặn lối đi trong ngõ ngách.

Tự do-dân chủ, do đó, là quyền lợi và môi trường văn minh mà những công dân văn minh có văn hóa cao tại một quốc gia văn minh có văn hóa cao và có quyền lực trấn áp bảo vệ tính văn minh văn hóa cao của nước nhà được hưởng trong những hoàn cảnh thuận lợi của quốc gia.

Không có sự suy nghĩ thấu đáo về tự do-dân chủ, không có cái chánh tâm về tự do-dân chủ, không có cái chánh đạo về tự do-dân chủ, thì những cái loa kêu gào về tự do-dân chủ chỉ thuần xách động bạo loạn với tà tâm và tà đạo.

Quyền lợi và hy sinh quyền lợi là hai mặt của chỉ một vấn đề duy nhất: tư cách công dân thực thụ của bất kỳ quốc gia nào tự xưng có tổ tiên cao đẹp và lịch sử hào hùng. Nếu không có bao vạn người con trai duy nhất của bao vạn giòng họ Việt Nam hy sinh quyền lợi được miễn nghĩa vụ quân sự thì đất nước này có tồn tại được trước sự xâm lược của Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và tay sai của chúng là Khmer Đỏ trên toàn tuyến biên giới Tây Nam để ngày nay Việt Nam có cảnh thanh bình, phát triển kinh tế đẹp giàu, để những người còn sống và con cháu của họ ngày đêm tìm hiểu về quyền lợi công dân?

Đó là suy nghĩ của tôi, một công dân bình thường, không đảng tịch, của Việt Nam, mà rất tiếc anh đã không có thời gian nán lại để nghe tôi nói.

Thôi thì biến loạn của Thái Lan có kéo dài đến đâu cũng không thể nào gọi là miên viễn. Tôi chỉ mong sao anh khỏe mạnh, bình an, làm tốt công tác cận vệ cho các đời Thủ Tướng nước anh, để may ra có ngày chúng ta còn gặp lại, không phải để tôi tranh luận tiếp về “freedom và democracy”, không phải để nhìn trán của anh xem anh trẻ hơn tôi nhưng có ít nếp nhăn như tôi không, và cũng để lặng im nhìn lại xem ngần ấy thời gian đã qua, những gì đã xảy ra ở Thái Lan đã có làm cho anh trở nên ngang hàng với bậc thầy hùng biện Marcus Tullius Cicero của Cổ La-Hy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết sắp đăng:

1)      Báo Tuổi Trẻ

2)      Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đệ Trình Quốc Hội Dự Thảo Dự Án Luật Biểu Tình

3)      Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ

4)      Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)

5)      Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

6)      Quyền Lực Lê Như Tiến

7)      Công Trạng Nguyễn Minh Thuyết

8 )      Kiến Thức Trương Trọng Nghĩa

9)      Khẩu Khí Đặng Ngọc Tùng

10)  Nhà Tư Vấn Chính Sách Hoàng Hữu Phước Phân Tích Về Sự Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Của Thành Phố Hồ Chí Minh

11)  Báo Người Lao Động

12)  Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

13)  Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ

14)  Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga

15)  Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University

16)  Thế Nào Là Nhân Quyền

17)  “Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước

18)  Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ

19)  Thế Nào Là Thời Trang

20)  Sức Mạnh Lạ Lùng Của Khách Hàng Việt Đối Với Thế Giới Công Nghệ

21)  Giới Thiệu Blog Mới: Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước và Thế Giới Kinh Doanh

22)  Giới Thiệu Blog Mới: Giáo Sư Hoàng Hữu Phước và Tiếng Anh

23)  Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Trân trọng kính mong được độc giả đến tìm đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc.

Các bài viết có thể sẽ không theo thứ tự trước-sau hoặc sẽ có thêm các bài viết khác ngoài danh mục chen vào mà không được thông báo trước.

Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên

Vào ngày Quốc tế Phụ nữ năm 2012 tôi có đăng trên Emotino một bài về phụ nữ Việt Nam. Hai năm đã trôi qua, và trong tháng 3 này của năm 2014 tôi nghĩ sẽ không phải là điều không thích hợp nếu chép lại nguyên văn bài viết ấy trên chính blog này.

Kính mời các bạn đọc qua và hãy nghĩ nhiều hơn, chính đáng hơn, và đúng hơn về người phụ nữ mà chúng ta cũng như xã hội cứ hay dùng lễ lộc kèm các lời nói quen thuộc đơn thuần lập đi lập lại xưng tụng hàng năm. Xin hãy nghĩ khác đi một chút, để làm khác đi một chút, để cuộc sống được tốt đẹp nhiều hơn.

Phụ Nữ Việt Nam: Vấn Đề Tân Cổ Giao Duyên

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

08-3-2012

Tôi Và “Phụ Nữ Việt Nam”

Tôi được mấy đấng mày râu Âu Mỹ thuộc giới lãnh đạo các công ty nước ngoài kính nể vì mỗi khi có dịp trò chuyện là tôi thể hiện một cách gián tiếp mềm mỏng cái cá tính dân tộc chủ nghĩa tích cực cứng rắn (không phải “cực đoan”) và bài ngoại tích cực cứng rắn (không phải “cực đoan”). Không dễ đâu các bạn ạ vì thể hiện dân tộc chủ nghĩa cứng rắn một cách mềm mỏng không phải đơn giản như nhiều người cho rằng chỉ cần la toáng lên các khẩu hiệu chống đối vô nghĩa lý và gào thét các câu thóa mạ mà nội dung cùng chủng loại từ ngữ không có trong từ điển sử dụng của những người trên trước là chứng tỏ được ngay rằng mình ái quốc hay bài ngoại. Chỉ có sự hùng biện áp đảo và thắng thế mang tính phân tích, phê phán thật đúng đắn không chút thiên vị, thật đầy đủ dẫn chứng thông tin chính xác, gây được cơn địa chấn đối với những thành trì lý luận vững chắc của ngoại nhân về đất nước của họ, chính sách chính kiến chính phủ của họ đối với chính sách chính kiến chính phủ của mình, khiến niềm tin đầy tự hào của họ phải hoặc đổ sụp, hoặc chao đảo, hoặc lung lay nền móng không còn vững chãi, mới đúng là sự thể hiện khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa tích cực và bài ngoại tích cực nơi ta. Phải nêu bật được cái hay trỗi vượt của đất nước mình, dân tộc mình, văn hóa mình, nói chung là mọi thứ của mình, thuyết phục đến nỗi ngoại nhân phải công nhận là hóa ra cái “hay” của họ chẳng bằng mình, thì đó mới chính là bài ngoại tích cực của thời đại mới, thời đại của văn hóa toàn cầu hóa đòi hỏi văn hóa tri thức cao hơn để vươn lên ấn cái văn hóa Âu Mỹ xuống vị trí lẽ ra nó đã phải ở đấy từ rất lâu. Một trong rất nhiều điều tôi nói với mấy “ông Tây” ấy là về Phụ Nữ Việt Nam.

Trong lần ăn trưa riêng với Ông Bill Clow, người Canada, Phó Tổng Giám Đốc Manulife phụ trách Kinh Doanh (tức Agency Operations), tại Nhà Hàng An Nam năm 2002, tôi có mang theo hồ sơ đất đai mới công chứng xong, định trước khi về Diamond Plaza sẽ ghé nhà đưa bà xã. Bill nhìn thấy và tò mò hỏi xem tên người lạ bên cạnh tên tôi trên bìa hồ sơ là của ai. Khi nghe nói đó là tên của vợ tôi, người đàn ông da trắng cao 1m85, nặng 86 k‎ý 40, không ria mép, hiền hậu, có 20 năm thâm niên tại tập đoàn Manulife Financial và rất được lòng của 7.000 đại lý Việt Nam ấy tròn xoe đôi mắt xanh ngạc nhiên hỏi tôi “how is it posible” (“sao lại thế được”) vì tên vợ tôi sao không có chữ Hoàng. Tôi lập tức giải thích rất nhiều cho Bill, rằng Vietnamese women retain their own maiden names, rằng for the wedding the bridegroom must come to the bride’s home to humbly request her family to allow him to take their daughter to the church or to his house for the solemn ritual, rằng these have been like this throughout the history of the country, rằng the flowers, the gifts, the well-wishing, and the flirtation we reserve for Vietnamese ladies on 08 March are just to make their favours accumulated now, then, and ever, rằng vv. và vv. Nghĩa là người phụ nữ Việt Nam lập gia đình vẫn giữ nguyên tên thời con gái của mình trên giấy tờ cá nhân chứ không mất tiêu giòng họ của cha như phụ nữ lấy chồng Âu Mỹ, thậm chí phụ nữ Âu Mỹ lấy chồng mấy lần là đổi họ mấy lần, có khi ghép họ chồng mới vào tên mà không bỏ họ của chồng trước. Nghĩa là phụ nữ Việt rất “có giá”, rất được tôn trọng, khi làm đám cưới thì chú rể phải đến tận nhà cô dâu mà đón dâu, rước dâu, chứ không bị đối xử “dưới cơ” như ở Âu Mỹ nơi mà chú rể trịch thượng đứng chờ bên trong nhà thờ, chờ bố hay chú hay cậu hay anh hay một người đàn ông trong thân tộc cô dâu đưa cô dâu đến nhà thờ, vào trong nhà thờ, dẫn đến tận bàn thờ “dâng” cho chú rể. Nghĩa là phụ nữ Việt Nam “độc lập” trong đám cưới khi đàng gái in thiệp cưới Vu Quy riêng và đàng trai in thiệp cưới Tân Hôn riêng, trong khi phụ nữ Âu Mỹ bị đối xử trịch thượng vì đám cưới thì chỉ có bên đàng gái in thiệp cưới mời chung hai họ và tất nhiên đài thọ chi phí in ấn (và…đãi tiệc). Nghĩa là phụ nữ Việt Nam sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa thật bình đẳng và cao thượng vì bên đàng trai tuy trên nguyên tắc sẽ lo trọn hoặc phần lớn chi phí nhưng nếu bên đàng trai khó khăn về tài chính thì bên đàng gái sẽ giúp lo toan, không như phụ nữ Ấn Độ luôn luôn là gánh nặng của mẹ cha và không thể có chồng nếu không có của hồi môn, chưa kể giá trị của hồi môn phải tương xứng với nghề nghiệp của người mà mình muốn…cưới về làm chồng. Nghĩa là phụ nữ luôn được người đàn ông của mình gánh vác các việc đòi hỏi cơ bắp như xách va-li nặng, v.v., không “độc lập trái khoáy” như phụ nữ Tây phải mang ba-lô cồng kềnh nặng nề đẩy xe nôi trong khi ông chồng mặc quần đùi đeo ba-lô nhỏ xíu lửng thửng vừa đi vừa nhàn hạ đọc quyển Vietnam khi cùng gia đình du lịch thành phố Hồ Chí Minh theo kiểu sòng phẳng độc lập ai ăn gì thì trả tiền nấy và đồ ai nấy mang nấy vác. Nghĩa là ở Việt Nam có ngày Phụ Nữ Quốc Tế và ngày Phụ Nữ Việt Nam, và nhiều ngày khác để phụ nữ được vinh danh. Nghĩa là…và nghĩa là…

Tôi đã làm Bill choáng ngợp, không thể nói nên lời vì lượng thông tin ngồn ngộn mà tôi cung cấp. Ông nói quả thật Ông chưa từng biết các chi tiết ấy. Ông đã cho rằng phụ nữ của các chế độ phi tư bản rất cần được… “giải phóng” để được tự do, được tôn trọng, được bình đẳng như phụ nữ Âu Mỹ, chứ Ông đâu có ngờ phụ nữ Việt Nam có nhiều hơn cả sự bình đẳng. Ông cũng chưa từng biết về cái  gọi là dowry issue tức vấn nạn nhức nhối về của hồi môn ở Ấn Độ. Chỉ có một điều Bill vẫn không hiểu nổi là nếu vợ mình không đổi sang họ của mình thì làm sao người ta biết đó là vợ của mình. Ông kết luận rất trẻ thơ làm tôi bật cười (may mà lo nói chẳng ăn uống gì được nên chẳng có gì trong miệng để phải mắc cổ do nuốt trọng hay mắc cở do phun ra) rằng Ông không mong ở Canada sẽ giống như ở Việt Nam vì nếu thế thì đàn ông bên ấy hết làm chồng do vợ mang họ của bố vợ. Tôi có thể nói rằng phụ nữ Việt Nam khi vẫn giữ nguyên tên họ của mình lúc trở thành vợ đã chứng minh ngay từ xa xưa đến nay chưa bao giờ là tài sản hay vật sở hữu của người chồng, vì nếu thay tên theo họ chồng ắt khiến biết đâu có vài ba người nào đó trong số bao tỷ con người trên hành tinh này liên tưởng đến Miền Viễn Tây Hoa Kỳ nơi bò phải được đóng dấu vào mông để xác định chủ quyền của một trang chủ…

Tôi Và “Phụ Nữ Việt Nam Thành Đạt”

Vài năm trở lại đây tôi rất dị ứng với mấy chương trình Tivi về “Phụ Nữ Thành Đạt”, nào là phỏng vấn Phụ Nữ Thành Đạt, nào là giới thiệu y phục dành cho Phụ Nữ Thành Đạt, nào là giới thiệu nữ trang dành cho Phụ Nữ Thành Đạt, v.v., mà đối tượng được các phóng sự nhắm đến tất nhiên toàn là các nữ doanh nhân. Nếu mỗi đài truyền hình lớn của nhà nước đều có phòng tuyên giáo (tuyên truyền và giáo dục) thì ắt phòng này đã không cho rằng nội dung của các phóng sự do phòng khác thực hiện không cần phải mang nội hàm tuyên truyền giáo dục chăng?  Các nữ sinh bị định hướng lệch lạc rằng chỉ có là nữ doanh nhân mới có hy vọng thành Phụ Nữ Thành Đạt, và như thế thì sẽ không còn những nữ giáo viên, những nhà hóa học nữ, những nhà vật lý nữ, những nữ y tá, những nữ cảnh sát, những nữ kế toán, v.v. Đó là chẳng ai còn nghĩ đến một sự thật mang tính chân lý của muôn đời là bà-mẹ-nội-trợ-buôn-gánh-bán-bưng-nuôi-đàn-con-thành-nhân-chi-mỹ-trở-thành-nhân-tài-đất-nước mới là người phụ nữ đáng tôn kính hơn gấp vạn lần người phụ nữ được tôn vinh thành đạt chỉ vì làm tổng giám đốc một tổng công ty lớn của Việt Nam. Giải phóng phụ nữ lẽ ra phải là: trao cho người phụ nữ quyền quyết định đi làm việc hay làm nội trợ, thay vì chỉ có vế trước. Người phụ nữ chỉ có thể thực thi quyền tự do làm nội trợ chăm sóc con cái, nuôi dạy con cái nên người, nếu người chồng nhận được phụ cấp cho người vợ nội trợ (trước 1975 các công ty ở Sài Gòn thực hiện chế độ lương và phụ cấp như thế). Người phụ nữ sẽ buộc chấp nhận một quyền tự do duy nhất là phải đi làm để có thể cùng chồng nuôi ăn con hay đàn con, đóng học phí cho con hay đàn con chứ không chăm sóc và nuôi dạy con cái nên người, chưa kể trực tiếp gây ra gánh nặng thất nghiệp, vấn nạn việc làm cho chính phủ khi người phụ nữ phải tự do làm việc nhưng lại không có việc làm. Tế bào gia đình không còn vững chắc khi con cái được giao cho nhà trẻ hay người giúp việc. Gánh nặng tổ chức nhà trẻ trở thành vấn nạn quốc gia. Và con cái nhà nghèo lớn lên với tính nết của các bà chủ nhà giữ trẻ, còn con cái nhà giàu lớn lên với tính nết của các bà giúp việc. Còn xã hội ngày càng có nhiều lời than vãn về giới trẻ.

Sẽ là điều kỳ diệu tuyệt vời nếu những Phụ Nữ Thành Đạt (và những doanh nhân thành đạt là đấng lang quân của các phụ nữ thành đạt) đang quản lý doanh nghiệp đồ sộ với nhiều trăm nhiều ngàn nữ công nhân bớt giờ làm việc của các công nhân này để họ có thêm một ít thời gian cho hạnh phúc lứa đôi, một ít thời gian cho những chăm sóc yêu thương dành cho những đứa con quý như báu vật của họ, vì chỉ cần một ít thời gian như thế thôi, xã hội Việt Nam có cơ may có được những công dân hạnh phúc vì lớn lên từ sự gần gũi nhiều hơn với cha mẹ. Và người Phụ Nữ Thành Đạt sẽ mang ý nghĩa mới: người thành công trong đem lại cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn cho nhiều người phụ nữ hơn.

Công-Dung-Ngôn-Hạnh là bốn nội dung trụ cột tự nhiên trong vô số điều tự nhiên, bình thường trong vô số điều bình thường, ngày xưa người nữ trau giồi, và người nam dùng đặt chuẩn, với chữ Công trước đây hàm chứa nghĩa của sự quán xuyến nội trợ và nuôi dạy con thơ còn ngày nay mang luôn ý nghĩa giỏi việc nước (tức việc…công ty) đồng thời đảm việc nhà.

Phụ Nữ Thành Đạt là một nội dung bộc phát ngoài khuôn khổ tự nhiên, tự dưng thành điều liên quan duy nhất đến thương trường ngày nay được tung hê ồ ạt trên các phương tiện truyền thông đại chúng và phim ảnh, tách khỏi nội dung ngày càng dày đặc của chữ Công, lấn át chữ Công, che khuất mất chữ Công.

Giá như có Tân Cổ Giao Duyên để người Phụ Nữ Thành Đạt đồng thời là người xem trọng Công-Dung-Ngôn-Hạnh để trở thành tấm gương thực sự của mọi người.

Một Phụ Nữ Thành Đạt của sản phẩm Collagen kỳ lạ đã vắng mặt lạ kỳ trong ngày Phụ Nữ 08 tháng 3 kỳ vĩ này. Mong sao Bà sẽ khỏe trở lại và quay trở lại để duy trì trở lại sự quảng cáo kỳ lạ về Collagen lạ kỳ, duy trì cái lý do tốt đẹp nào đó mà Bà đã vin vào đấy để tổ chức đám cưới cực kỳ đẹp tốt đến độ trên cả xa xỉ xa hoa cho con trai, và duy trì được danh vị vinh dự một Phụ Nữ Thành Đạt đang được nhiều trăm công nhân và nông dân mòn mõi ngóng trông ở miền Tây Đô một thời vang bóng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Về Cái Sự Trăn Trở Của Sinh Viên Ngô Di Lân

Hoàng Hữu Phước, MIB

Như cái cố tật luôn tồn tại ở bất kỳ người Việt Nam nào có phẩm hạnh phẩm giá phẩm chất cao, tôi tự hào đứng trong hàng ngũ rất đông những người Việt có may mắn sở hữu đức tính cao ngạo của các nhà nho hiện đại thuần Việt. Đó là lý do tôi không đọc những email hay thư tín được gởi đến từ bọn chống Cộng, lũ bị Phạm Công Thiện [1] của Việt Nam Cộng Hòa giận dữ gọi mắng mỏ là “trí thức ba xu” còn bị các nhà ái quốc chính đạo chính nghĩa chính danh của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam hí hước gọi kiểu tát yêu là “chấy thức” hay chấy rận gì đấy trên thế giới mạng, và đám “tù nhân lương tâm”.  Song, bạn hữu khắp nơi có tâm Phật với lòng từ bi hỉ xả hơn tôi vạn lần đã lại rộng lượng ban cho bọn trong danh sách kể trên một đặc ân là bỏ chút thời gian đọc qua cho biết, và do đó thỉnh thoảng phát hiện có chi tiết nào có thể cho tôi biết để viết bài giáo dục làm phước cho bá tánh là họ báo ngay. Đó là lý do tôi biết có vụ nhóc sinh viên nào đó tên gọi Ngô Di Lân đã viết cái gọi là thư trăn trở gởi Bộ Trưởng Giáo Dục Phạm Vũ Luận, và trước sự trăn qua trở lại của nhóc ấy, tôi thấy mình nên viết bức thư trở trăn của tôi như sau:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 3 năm 2014

Thân gởi cháu Ngô Di Lân:

Xin tự giới thiệu với cháu Ta là Hoàng Hữu Phước, công dân trưởng thành trưởng thượng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thuộc các quốc gia khu vực Đông Nam của Châu Á gọi là nhóm ASEAN. Do cha mẹ cháu ắt là rất lớn tuổi (qua việc họ mệt mõi và lú lẩn không thể dạy bảo cháu đúng được điều gì) hoặc ắt rất trẻ tuổi (qua việc chẳng biết gì về sự thật liên quan đến giáo dục Việt Nam để cung cấp thông tin đúng cho cháu) nên Ta phải xưng là “Ta” với cháu chứ không biết nên xưng là Chú hay Bác cho thích hợp, còn xưng là Thầy cũng không xong vì Ta không bao giờ công nhận kẻ kém cỏi là học trò, lại nhân thấy phim bộ Hàn Quốc bộ nào bộ nấy dài lê thê hàng trăm tập ở Việt Nam thì nhân vật nào là bậc trưởng thượng từ ông/bà Chủ tịch công ty đến ông bố/ông nội/ông ngoại/bà mẹ/bà nội/bà ngoại giàu sang của các diễn viên chính luôn xưng “Ta”, nên Ta nghĩ ắt từ “Ta” là cách xưng hô thích hợp cho bức thư này.

Trước hết, Ta xin nói về phép tắc của người dưới đối với bậc trưởng thượng, vì con nít luôn được dạy điều này trước tiên, mà nếu lớn già đầu rồi mà vẫn vô tư vô phép tắc thì người đời nói là “mất dạy.”  Từ khi cháu còn oe oe trong nôi Ta đã viết rất nhiều thư [2] kiến nghị (góp ý, chê bai, phàn nàn, xây dựng, cáo giác, v.v.) gởi bằng nhiều phương tiện khác nhau đến các lãnh đạo Nhà Nước, gần đây nhất là đến các Ông/Bà Trương Tấn Sang, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Tấn Dũng, cùng các vị lãnh đạo khác của Quốc hội và các Bộ – trong đó có cả Bộ trưởng Giáo dục, v.v. Nhưng phép tắc dạy Ta rằng họ phải là người nhận trước tiên, rằng họ phải là người có quyền công bố hay không công bố các thư ấy của Ta, rằng Ta không được tung lên mạng nội dung nguyên văn các bức thư ấy trong khi thiên hạ chớ biết những quan chức ấy có đã thực sự nhận được trước các bức thư ấy chưa, và rằng nếu muốn “tung” thì phải sau một thời gian không ngắn và trong đa số các trường hợp thì tác giả hay chọn đăng các trích đoạn có trọng tâm nhằm cung cấp thêm kiến thức mang tính làm sáng tỏ vấn đề nào đó cho độc giả tham khảo. Cái chính đạo chính nghĩa chính danh ở đây là: Ta là công dân, Ta có quyền gởi các kiến nghị ấy đến các lãnh đạo để họ tham khảo, và Ta không phải là Ông Trời hay Ông Kẹ Ông Trùm Ông Thánh để bắt buộc họ phải là theo ý Ta vì Ta biết rõ mười mươi rằng Ta không có một tí cỏn con gì về kinh nghiệm trị quốc để mà dẫy nẩy làm loạn lung tung khi thấy các ý kiến của mình không được đem ra áp dụng dù từ thiện ý của Ta luôn vì nước vì dân. Ta không rõ cháu có đã gởi trước đến đúng Bộ Trưởng Giáo Dục hay không, chỉ biết vnexpress đăng thư của cháu. Và Ta có đủ trình độ tiên tri thấu thị cùng kinh nghiệm nhìn người biết người hiểu người của một tay tổ về nhân sự để có thể phán cháu vô phép tắc và đây là điều cho biết cháu sẽ thất bại nếu không nghe lời Ta chấn chỉnh lại ngay bằng cách gởi thư hay email xin lỗi Bộ Trưởng Giáo Dục và từ nay không phạm lỗi sơ đẳng như thế, nhất là vì nó động đến phép lịch sự ở trời Âu. Công việc quan trọng có thể được giao cho người trẻ tuổi chứ không bao giờ được trao cho đứa con nít. Cháu chắc đủ lượng từ tiếng Việt để hiểu sự khác biệt giữa “trẻ tuổi” và “con nít”, nghĩa là người ta quý cháu hơn vàng nếu cháu là “ông trẻ già dặn kinh nghiệm” chứ không dại gì giao việc lớn cho cháu nếu cháu là “ông già ngây ngô như trẻ nít.”

Thứ đến, Ta xin nói về những sự thật, trong đó có sự thật về lịch sử Việt Nam, sự thật về thế mạnh con người Việt Nam, và sự thật về sự kém cỏi của cháu cùng mưu đồ của cháu.

Theo sự thật lịch sử thì những cái mà cháu cho là rất hay về giáo dục của Âu Tây đã luôn ưu việt, luôn tiến triển, luôn phát triển, và luôn tốt từ nhiều trăm năm nay chứ không phải đợi cháu qua “bển” du học rồi mới “phát hiện”, mừng quá cởi truồng chạy bay ra ngòai đường hét toáng lên “Eureka! Eureka!” như nhà toán học kiêm nhà vật lý học kiêm kỹ sư cơ khí kiêm nhà phát minh kiêm nhà thiên văn học Hy Lạp Archimedes của những năm 200 trước Công Nguyên. Rất nhiều người Việt Nam du học và tất nhiên họ biết thế nào là cái hay của nền giáo dục ở Âu Mỹ. Ở Việt Nam Cộng Hòa (là nước mà chưa chắc cha mẹ cháu đã được sinh ra tại đó), thiên hạ hàng hàng lớp lớp du học (ở Mỹ và Anh là chủ yếu) và trở thành các nhà quản lý quốc gia, các giảng sư đại học, các giáo sư trung học, v.v., tập trung nhiều nhất ở Sài Gòn, tức là nơi mà nay là Thành phố Hồ Chí Minh. Thế mà chẳng ai trong số họ từng ra sức truyền bá cái hay ho đó để đòi áp dụng tại Việt Nam Cộng Hòa cả. Phải chăng những nội các dưới quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đứa bầy tôi cúc cung tận tụy của Mỹ, lại muốn chống Mỹ nên đã ra sức chống lại các cải cách giáo dục theo hướng Mỹ hóa?  Sự thật là: họ biết cái ưu thế của người Việt và muốn duy trì phát huy cái ưu thế đó. Ta vốn là người Việt duy nhất biết những sự thật về có hay không có cái gọi là “đa đảng” của Việt Nam Cộng Hòa [3] nên nay Ta tiết lộ luôn cho cháu và những cháu du học sinh hay chuẩn (bị) du học sinh rõ thế mạnh ấy, tức điều đơn giản kiểu quả trứng của Columbus mà chưa người Việt nào trên thế gian này từng nghĩ đến, đó là: người Việt mạnh về suy nghĩ tường tận, thấu đáo, chi tiết rất sâu và rất sắc; còn người Âu Mỹ mạnh về nhận biết và xử lý trên quy mô rất bao quát và rất nhanh. Hai thế mạnh khác nhau nhất thiết cần đến hai phương pháp học tập khác nhau. Kiểu đề thi trắc nghiệm mà đem áp dụng ở Việt Nam thì chỉ là tai họa vì người Việt không có khả năng thiên phú để học thật rộng cộng với thi thật tốc độ ở bậc tiểu học và trung học. Kiểu đề thi viết lập luận dông dài sâu sắc ngập tràn ý tứ mà đem áp dụng ở Mỹ thì chỉ là tai họa vì người Mỹ chỉ phải rèn cho có khả năng này ở bậc thạc sĩ trở lên mà thôi. Đây là lý do vì sao du học sinh Việt Nam luôn học giỏi hơn thiên hạ vì nhờ kiểu học ở Việt Nam họ đã tôi luyện và trau giồi biến khả năng tự nhiên của dân tộc tính trở thành siêu tuyệt ngay từ tiểu học và trung học, thích ứng với các yêu cầu của bậc thạc sĩ và tiến sĩ, tức là cái kỹ năng mà học sinh-sinh viên Âu Mỹ chưa hề có ở bậc tiểu học và trung học. Làm gì có chuyện “nhờ học bên Tây với phương pháp Tây mà học sinh Việt trở nên giỏi giang ở lớp cao cấp” mà tưởng bở! Đây cũng là lý do vì sao cách nay 20 năm, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã phải yêu cầu Bộ Giáo Dục Mỹ phải cải cách thi cử, gia tăng phần viết sau khi phải mãi đích thân đứng phát phần thường hoài cho toàn học sinh gốc Việt, dẫn đến các thay đổi sâu sắc ngay trong các kỳ TOEFL trên thế giới vốn trước đó chỉ tập trung cho nghe và nói. Khi cháu ca cẩm về kiểu giáo dục ở Việt Nam và ra vẻ như Chính phủ Việt Nam là thủ phạm đã làm cho nền giáo dục Việt Nam trì trệ, Ta cần cho cháu biết một sự thật khác là trong khi Nhà Nước Việt Nam luôn đầu tư lớn vào giáo dục, luôn tha thiết hiện đại hóa giáo dục, luôn nổ lực khuyến khích cải cách giáo dục theo gương các cường quốc Âu Tây, thì chính Ta mới là người đơn độc lẻ loi muốn duy trì cái “thế mạnh đặc trưng ưu việt” của người Việt chẳng hạn qua việc Ta phủ nhận giá trị của cách ra đề thi trắc nghiệm và khinh miệt gọi nó là cách ra đề của những trường học biếng lười, kém cỏi, và không năng lực; cũng như Ta khai sinh định đề “muốn giỏi tiếng Anh (tức ngoại ngữ), trước hết phải thật giỏi tiếng Việt” từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước để các sinh viên của Ta lấy đó làm kim chỉ nam, và để ta đả phá kiểu phát ngôn hoàn toàn sai của những kẻ không biết gì và chẳng có trình độ đủ cao về tiếng Anh luôn mồm rêu rao rằng muốn giỏi tiếng Anh phải học từ lúc lên năm lên sáu, v.v.[4]

Nói đến sự thật về cái sai ngây ngô kém cỏi của cháu, Ta xin nêu năm vấn đề sau:

1- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về Khổng Giáo vì cháu chỉ là sinh viên đại học và chưa biết thế nào là trình độ còn rất thấp của một cử nhân [5] trong khi cháu vẫn còn xa mới đến ngày đội mão nhận bằng cử nhân. Khi học leo được đến bậc thạc sĩ thí dụ về ngành kinh doanh quốc tế, rất có thể cháu mới sẽ được biết rằng Việt Nam và tất cả các siêu cường kinh tế Âu Mỹ đều có chung một quan điểm kinh doanh về “nhập gia tùy tục”. Bất kỳ du khách Âu Mỹ nào đến thăm các đền thờ Hồi Giáo đều không dám mang giày dép bước vào. Bất kỳ người đàn ông nào trên thế giới đến các điểm công cộng như sân bay, bến cảng các nước Hồi giáo đều không dám ngồi vào các băng ghế, vì đó là nơi dành riêng cho phụ nữ là giới mà đàn ông Hồi giáo cực kỳ tôn kính tôn trọng tôn vinh. Bất kỳ doanh nhân Âu Mỹ nào đến thị trường khổng lồ Trung Quốc đều phải học, biết, và phải thực hiện các việc như “quà cáp”, “lì xì”, “Mianzi”, “Guanxi”, quỳ lạy khấu đầu, chọn cho mình một tên tiếng Hoa thay vì dịch nghĩa tên tiếng Anh của mình, và … Confucianism tức Đạo Khổng để biết thế mạnh kinh doanh của đối tác Trung Quốc là từ đâu để theo đó mà đáp ứng để tồn tại trong cạnh tranh, thậm chí Confucianism tồn tại luôn trong hoạt động kinh doanh của siêu cường Nhật Bản và Hàn Quốc. Là một chú nhóc chưa học xong đại học, cháu đừng ngu dại mở miệng nói bất kỳ điều gì mang tính công kích những điều vĩ đại thuộc trí tuệ miên viễn của nhân loại. Cháu đã sai vì ở Việt Nam, Ta là người duy nhất dám nói (trong phần tự giới thiệu chính kiến trên các trang xã hội như LinkedIn) rằng Ta theo khuynh hướng chính trị cộng sản chủ nghĩa thiên Khổng, thậm chí còn viết blog rằng giá như Đảng Cộng Sản Việt Nam trọng Khổng thì đất nước đã tốt hơn – nghĩa là ta biết sức mạnh tinh thần khủng khiếp của tư tưởng Khổng giáo và tiếc ở Việt Nam nó đã trở thành quá khứ. Cháu thấy đó, ở một xứ sở có tự do ngôn luận tuyệt vời chính danh chính đạo chính đáng như Việt Nam thì ý kiến cá nhân của Ta là của thiểu số nhưng vẫn được nêu lên bình thường và được tôn trọng.

2- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về tư duy phê phán và về sách giáo khoa. Cháu chỉ cần đọc bài Ta viết về các vị Thầy Cô của Ta (như Cô Trương Tuyết Anh [6]) sẽ hiểu cái tư duy phê phán của Ta ở đại học năm 1977 cao vời vợi và bùng nổ hơn hỏa sơn như thế nào dưới sự ủng hộ của các nhà giáo tài hoa đó. Nhà Nước Việt Nam không ngăn cản tư duy phê phán (xin nhấn mạnh: năm 1977 là thời gian mới thống nhất đất nước, không là thời gian của cái gọi là “mở cửa”, vậy mà Ta đã được đánh giá cao về các bùng nổ ấy). Như Ta đã nói trong nhiều bài viết khác [7], chính những nhà-giáo-không-thích-hợp-với-nghề-giáo đã làm cho chất lượng giáo dục không ra làm sao cả vì họ không có trình độ cao như Cô Trương Tuyết Anh của Ta, không dám bùng nổ như Ta, không dám có tư-duy-phê-phán-trong-giáo-dục-và-sư-phạm như Ta và các nhà giáo chân chính khác, và do đó không có cái tinh thần trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp như Ta và các nhà giáo chân chính khác. Những kẻ không thích hợp như thế luôn đổ lỗi cho đồng lương thù lao thấp. Còn bọn chống chế độ thì luôn đổ lỗi cho Nhà Nước. Cháu hãy đọc hết mấy bài viết của Ta ở http://hoanghuuphuocteachers.blog.com để biết rằng đối tượng cháu nên gởi lời khuyên về giáo dục không phải là Ông Bộ Trưởng Giáo Dục, và hãy tự hỏi rằng liệu cháu khi học “thành tài” ở nước ngoài có dám tình nguyện về Việt Nam làm nhà giáo, chấp nhận đồng lương ít ỏi, dành tất cả cho sự nghiệp giáo dục của nước Việt Nam hay không. Nếu không dám, thì cháu lại ngu đến độ nghĩ rằng cháu có quyền nói về lĩnh vực giáo dục à? Hay là cháu giống như bọn con nít [8] sẵn sàng làm ngành giáo dục chỉ trong trường hợp được thỉnh về làm Bộ trưởng Giáo dục để vinh thân phì gia cho xứng với bằng cấp hải ngoại của cháu? Khi đã không thể có một lý tưởng cỏn con hay tâm huyết tí tẹo nào về giáo dục, cháu đừng làm trò cười cho thiên hạ với những trăn trở của cháu nữa.

3- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về Steve Jobs vì cháu lẫn lộn giữa chính sách giáo dục quốc gia với quyết định thuần túy cá nhân của bất kỳ ai muốn quyết định con đường sự nghiệp riêng của mình. Steve Jobs quyết định, và Steve Jobs thành công. Hàng trăm triệu người Mỹ khác quyết định, và hàng trăm triệu người Mỹ ấy thất bại. Chỉ khi nào có hàng trăm triệu người Mỹ thành công như Bill Gates và hàng trăm triệu người Mỹ khác thành công y như Steve Jobs, cháu mới có thể quy chụp rằng đó là nhờ vào nền giáo dục Mỹ. Nhờ sao được mà nhờ đối với kẻ như Bill Gates đã từ bỏ con đường đại học? Nếu cháu cũng từ bỏ việc học đại học thì hãy nói đến tinh thần tự do của cháu và cái tinh túy giáo dục của Âu Mỹ – nhưng hãy nhớ rằng ngay cả khi cháu quá khôn để không theo Bill Gates và chỉ dám nêu tên Steve Jobs thì kiểu lập luận của cháu chỉ dẫn đến nội hàm rằng cái tinh túy giáo dục của Âu Mỹ là…đừng đi học làm gì!

4- Cháu nói tầm bậy tầm bạ về Trung Quốc vì việc họ có cái “thế kỷ ô nhục” gì đó là chuyện của họ, và chỉ có kẻ ngu mới la toáng lên rằng Trung Quốc nó có cái thế kỷ ô nhục như thế nên Việt Nam phải học mà tránh cái thế kỷ ô nhục ấy. Mỹ có cái chiến bại ô nhục ở Việt Nam thì đó là chuyện của họ, và chỉ có kẻ đần mới la toáng lên rằng Mỹ nó có cái chiến bại ô nhục như thế nên Việt Nam phải học mà tránh cái chiến bại ô nhục ấy. Đừng nên lập luận chuyện đại sự vì nó đòi hỏi (a) thuật hùng biện, (b) kiến thức, (c) tri thức, (d) kinh nghiệm sống, (e) sự khôn ngoan, (f) sự tinh thông tâm lý và phân tâm, và (g) nền tảng vững chãi của hành trạng tư duy nghiêm túc. Cháu chưa có bất kỳ thành tố nào trong bảy thành tố phải có này của nhà biện thuyết. Ta đã nhờ may mắn mà có những thành tố này từ nhỏ nhờ làm lãnh đạo lớp liên tục tử năm đầu tiên bậc tiểu học, nhưng ta vì “khiêm nhường nội tại”[9] mà chờ đến khi gần 60 mới bắt đầu “phát biểu chính kiến”về giáo dục[10] , và ta ngạc nhiên khi cháu chả có gì sất mà lại cả gan lập luận với lãnh đạo nhà nước kiểu nhơi lại đồ phế thải của kẻ cùng đinh mạt hạng thất học ở hải ngoại.

5- Cháu nói tầm bậy tầm bạ để tự tôn vinh cháu: đây là chân lý, là sự thật toát lên từ bài viết trăn qua trở lại trên giường của cháu. Nhiều người thân trong gia đình Ta ở Mỹ, nhiều người tốt (người Mỹ gốc Việt) mà Ta quen bên Mỹ, và nhiều phụ nữ người yêu của Ta mà số phận đã đưa họ rời xa Việt Nam, đều nói với Ta rằng hãy cho thân nhân nhỏ tuổi qua Mỹ du học vì giáo dục tốt lắm, ai qua “bển” học cũng giỏi cả. Ta luôn hỏi họ một câu, và tất nhiên tất cả đều không trả lời được. Câu hỏi của Ta là: xin hãy cho Ta những cái tên người Việt nào học ở Mỹ đã trở thành danh nhân, vĩ nhân. Không bất kỳ ai cho Ta được ngay cả một cái tên. Song, Ta lại cho họ một cái tên: Trần Chung Ngọc. Cháu hãy hỏi Ông Google sẽ biết vị tiến sĩ Trần Chung Ngọc ấy đã là gì ở Việt Nam Cộng Hòa, đã là gì ở Mỹ, đã là gì ở Singapore, v.v. Và con người lớn lao này trong hàng ngàn bài viết blog của mình đã luôn bảo vệ Việt Nam, chưa bao giờ lên tiếng phê phán hệ thống giáo dục Việt Nam, chẳng bao giờ chê bai chính phủ cộng sản Việt Nam. Cháu là một sinh viên, chưa biết có lấy được bằng cử nhân không, chưa biết có sức học lên thạc sĩ không, chưa biết có lấy được cái bằng tiến sĩ hay không, và suy ra, cháu hoàn toàn không có đủ trình độ tri thức, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc, kinh nghiệm nghiên cứu, để có quyền cho bất kỳ lời khuyên nào về giáo dục của đất nước Việt Nam với giọng điệu kẻ cả mà nghe ra thì rất quen thuộc, cứ như của loài nhai lại từ bã ọe ra của bọn chống Cộng, và cứ như để thế giới biết hai điều rằng (1) Chính phủ Việt Nam dỡ ẹc nên một nhóc tì học chưa đến nơi đến chốn cũng phải ra tay dạy cho Chính phủ ấy biết thế nào là giáo dục, và rằng (2) tôi, Ngô Di Lân, là ngôi sao sáng vì đang đi du học mà đã có khả năng dạy một Chính phủ về chính sách giáo dục, ca ngợi Âu Mỹ để bảo đảm lấy điểm cao từ nay cho đến lúc tốt nghiệp.

Lời khuyên của Ta dành cho cháu là hãy cố gắng ngậm miệng lại, dành thời gian nghiên cứu học thuật thâm sâu để tận dụng năng lực trời sinh dành cho đa số người Việt để mà có cái thâm thúy trong cạnh tranh học tập với lớp để luôn đứng đầu lớp; và hãy cố gắng ghi nhớ một điều rằng ngay cả khi cháu có mười hai bằng cấp tiến sĩ thì cháu vẫn là con số zero to tướng với mọi người, vì rằng dự một khóa gì đó ở Liên Hợp Quốc, đứng chụp hình trước tòa nhà Liên Hợp Quốc, thì có ra chi, so với người có khả năng trở thành vị đại sứ Việt Nam đứng uy nghi dõng dạc đường bệ trong tòa nhà Liên Hợp Quốc để đanh thép và hùng biện với nắm đấm vung lên bảo vệ thành công danh dự Việt Nam, quyền lợi Việt Nam, chính phủ Việt Nam, chính sách Việt Nam, đập tan nát bất kỳ sự xúc xiểm xúc phạm xảo biện nào của bất kỳ đại siêu cường nào đối với Việt Nam. Hãy ngậm miệng lại và dành thêm hai mươi nhăm năm để trở thành con người như vậy cho đất nước này. Còn đi ra nước ngoài học rồi khen ngợi cái hay của người thì chỉ giống như tất cả mọi người nghèo hèn ở tất cả các nước nghèo khổ đói khát khi nhìn thấy cái hotdog hay hamburger rồi nước bọt nhểu xuống ướt cả cằm và ngực áo mà thôi. Trước cháu đã có vô số người đi du học và đã biết quá rõ về cái hay, cái đẹp của hệ thống giáo dục ở các nơi đó rồi. Còn nếu cháu biết mình sẽ vì kiếm job mà xin nhập quốc tịch nước ngoài thì bây giờ đừng lên mặt dạy Chính phủ Việt Nam điều cũ rích nữa vì cháu sẽ đâu được xem là người Việt [11] và e là người nước ngoài có học thức cao hơn cháu sẽ đánh giá thấp về cháu.

Nếu bức thư trăn trở đó là do chính cháu viết chứ không phải do một tên chống Cộng hèn hạ nào mớm ý cho, thì cháu hãy viết lại nguyên văn bằng tiếng Anh rồi gởi lại cho Ta để Ta sẽ cho cháu biết cháu cần phải học lại tiếng Anh như thế nào để có thể với lên bằng được Ta, để Ta tin là cháu sẽ có bằng cử nhân và sẽ đủ giỏi để kiếm được một giốp (job) ở hải ngoại, và nhờ vậy may ra với lên được cái bằng cấp giống như của danh nhân Trần Chung Ngọc, để rồi chính phủ Singapore cũng sẽ mời cháu làm cố vấn như họ đã từng mời danh nhân Trần Chung Ngọc vậy.

Hãy làm cho toàn thế giới biết rõ rằng nhờ có cái gốc Việt vững chãi và cái gốc gia đình vững chãi mà cháu đã phát huy được cái sở trường dân tộc tính, tiến ra hải ngoại tiếp thu cao nhất học thuật nước ngoài để đứng trên đầu của họ để họ biết kowtow lễ độ trước cháu và trước Việt Nam.

Còn la toáng lên để thế giới biết cháu lớn lên từ một đất nước có nền giáo dục chả ra chi,  trong một gia đình yếu (do không có học vấn để cung cấp thông tin đúng, thông tin đủ, thông tin sâu, thông tin sắc về thế mạnh người Việt), dẫn đến nghi vấn về những lỗ khuyết tri thức nhận thức nơi cháu – vì những gì thu nhận được lúc tuổi còn thơ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hình thành nhân cách và bản lĩnh sau này của một con người – thì e đó là việc làm của kẻ đại ngu, cháu ạ.

8 năm ở Việt Nam.

Ngay cả một đứa con nít cũng biết nếu cháu ở Việt Nam lúc còn bé tí tẹo, với thời gian chỉ có 8 năm mà đa số các năm trong tổng số 8 năm này còn phải nhờ cha mẹ quấn tã, mặc quần, xi tiểu xi tiêu, lau chùi mông đít, ở truồng tồ bậy trước cửa chưa biết mắc cở, thì không bao giờ cho cháu có đủ tư cách và đủ hiểu biết để nhận ra đâu là cái dở ẹc của nền giáo dục Việt Nam để phán dạy phán bảo Việt Nam.

10 năm ở nước ngoài.

Ngay cả một đứa con nít cũng biết cháu ra nước ngoài lúc còn bé tí teo, và thờì gian 10 năm không bao giờ cho cháu có đủ tư cách và đủ hiểu biết để nhận ra cái hay của hải ngoại để đem truyền bá cái hay ấy cho Việt Nam.

Không có first-hand knowledge nào về Việt Nam: cháu đừng dại dột nói về Việt Nam, vì đó không bao giờ là hành động đúng đắn của người đi học, vì cung cách học có văn hóa luôn là “nói có sách, mách có chứng”.

Chưa có đủ first-hand knowledge về Âu Mỹ: cháu đừng dại dột đem cái chưa biết rõ để khuyên Việt Nam noi theo [11], vì đó không bao giờ là hành động đúng đắn của người đi học, vì cung cách học có văn hóa luôn là “nói có sách, mách có chứng”.

Hãy coi chừng không lấy được cái bằng sơ đẳng cử nhân đấy cháu ạ.

Thư bất tận ngôn.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] Hoàng Hữu Phước. 2011. Bút Chiến Luận với Phạm Công Thiện. Bài sắp được đăng lại.

[2] Hoàng Hữu Phước. 21-7-2013. Báo Sài Gòn Giải Phóng. http://hhphuoc.blog.com/?p=182

[3] Hoàng Hữu Phước. 16-5-2013. Mỹ Có Đa Đảng Không? Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? http://hhphuoc.blog.com/?p=173

[4] Hoàng Hữu Phước. Các bài viết về học tiếng Anh và bài viết bằng tiếng Anh. Sắp được tập hợp để đăng lại trên Blog mới.

[5] Hoàng Hữu Phước. 07-02-2014. Thế Nào Là Nhà Trí Thức. http://hhphuoc.blog.com/?p=290

[6] Hoàng Hữu Phước. 22-3-2012. Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. Bài đăng trên Emotino, đăng lại tại http://hoanghuuphuocteachers.blog.com

[7] Hoàng Hữu Phước. 07-9-2012. Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai. http://hhphuoc.blog.com/?p=81

[ 8 ] Hoàng Hữu Phước. Con Nít Và Tổng Thống. Bài sắp được đăng.

[9] Hoàng Hữu Phước. 12-3-2013. Khiêm Tốn. http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/2013/03/12/khiem-t%e1%bb%91n/

[10] Hoàng Hữu Phước. 04-8-2013. Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại học Và Các Biện Pháp Cách Tân. http://hhphuoc.blog.com/?p=195

[11Hoàng Hữu Phước. 14-02-2014. Nước Mỹ Bất Hạnh. http://hhphuoc.blog.com/?p=292

Các bài viết sắp đăng:

1) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Đệ Trình Quốc Hội Dự Thảo Dự Án Luật Biểu Tình

2) Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)

3) Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

4) Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ

5) Lê Như Tiến

6) Nguyễn Minh Thuyết

7) Trương Trọng Nghĩa

8 ) Nhà Tư Vấn Chính Sách Hoàng Hữu Phước Phân Tích Về Sự Thất Bại Của Đề Án Chính Quyền Đô Thị Của Thành Phố Hồ Chí Minh

9) Báo Người Lao Động

10) Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

11) Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ

12) Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga

13) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University

14) Thế Nào Là Nhân Quyền

15) “Nhà Sử Học” Hoàng Hữu Phước

16) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ

17) Thế Nào Là Thời Trang

18) Sức Mạnh Lạ Lùng Của Khách Hàng Việt Đối Với Thế Giới Công Nghệ

19) Giới Thiệu Blog Mới: Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước và Thế Giới Kinh Doanh

20) Giới Thiệu Blog Mới: Giáo Sư Hoàng Hữu Phước và Tiếng Anh

21) Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng

Hoàng Hữu Phước

Nhân sự việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cấm động đến Cầu Long Biên, tôi nhớ đến bài Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng tôi viết trên Emotino lúc 23g58 ngày 11-5-2010 (để tặng Anh Barrie Đỗ, Giám đốc Westox Vietnam), có nêu vài nhận định về cách nhìn của người Việt đối với bảo tồn; và nay xin đăng lại nguyên văn trên blog này.

Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương – Luận Về Bảo Tồn & Bảo Tàng

Hoàng Hữu Phước, MIB

11-5-2010

Mục Lục

1) Dẫn Nhập: Gốc

2) Phân Tích Những Nét Đặc Thù Việt Nam

a- Lịch Sử

b- Con Người

c- Di Tích Lịch Sử Việt Nam

d- Kiến Trúc Cổ & Kiến Trúc Tân

e- Triết Lý Sống Việt Nam

3) Kết Luận: Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương

1) Dẫn Nhập: Gốc

 

Trong bài A Phòng Cung Phú, Đỗ Mục viết rằng Cung A Phòng là công trình nguy nga xây bằng gỗ quý và trang trí nội thất toàn gấm vóc, ngọc châu, cao như thể không còn cách trời là mấy, cách năm bước có một lầu, cách mười bước có một tòa gác, lâu đài tiếp nối lâu đài liền nhau một dãy từ phía Bắc núi Ly Sơn cho đến Hàm Dương dài hơn 300 dặm; rằng Hạng Vũ khi xua quân đánh Tần đã làm cỏ thành Hàm Dương, giết vua Tần đã đầu hàng là Tử Anh, đốt cung A Phòng cháy liền ba tháng lửa vẫn còn ngùn ngụt. Có thể cái đại ngu của Hạng Võ là chỉ biết kết tội Doanh Chính Tần Thủy Hoàng Đế đại ác xa xỉ nên đốt bỏ cái xa xỉ xây trên xương máu nhân dân các nước chư hầu ấy, chứ không đủ trình độ ý thức rằng hành động phóng hỏa còn xa xỉ vạn tỷ lần bản thân công trình xa xỉ; song, nhờ Cung A Phòng thành tro bụi nên người Tàu mới hể hả nêu uy danh của Đỗ Mục phối hợp cùng những công trình kiến trúc vĩ đại, hoành tráng, khác đang thi gan cùng tuế nguyệt như Vạn L‎ý Trường Thành, Đằng Vương Các, hay Tử Cấm Thành, v.v., để khuếch trương thương hiệu quốc gia, khiến người ta khó thể hồ nghi tính thậm xưng, phóng đại về quy mô thực tế của Cung A Phòng – vì chỉ nghe không thôi cũng thấy nó quá kỳ vĩ, ví bằng tất cả các kỳ quan thế giới cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại gộp lại rồi nhân cho mười lũy thừa bảy trăm tám mươi chín – đồng thời tin tưởng vào sự vĩ đại của đất nước, tổ tiên, con người Trung Quốc. Tỷ như sự trưng bày hình ảnh tổ tiên chứng minh một cây đại thụ gia đình thực sự trường tồn, các vật thể đối tượng của bảo tồn-bảo tàng cho thấy cái gốc của một dân tộc ra sao: có thật sâu, có thật rộng, có thật to, có thật vững, có thật lành – hay chỉ lèo tèo vài nhánh rễ ruỗng mục, èo uột, nông cạn, co rúm, không thể là gốc của một dân tộc chủ nhân của một niềm kiêu hãnh lớn. Bảo tồn & bảo tàng không là công việc khảo cổ. Bảo tồn & bảo tàng không là giữ gìn những vật thể của quá khứ để học hỏi và/hay khai thác cho hiện tại và/hay tương lai. Bảo tồn & bảo tàng là công việc nghiêm túc của hiện tại nhằm tích lũy những miếng chắp nối cho bức tranh hoành tráng của tương lai. Bảo tồn & bảo tàng là công việc vì cái gốc, cái nền móng quyết định quy mô kiến trúc tương lai trong hiện tại.

2) Phân Tích Những Nét Đặc Thù Việt Nam

Bảo tồn luôn phải gắn bó với bảo tàng, với đặc điểm (a) cả hai đều chăm chút cho những tài sản hiện có trong tay, (b) cái trước bảo-vệ-phát-triển gốc vật thể và phi vật thể cho tương lai, còn (c) cái sau giữ gìn vật thể mang dấu ấn chứng tích. Bảo tồn và bảo tàng quan trọng là vậy, song Việt Nam có rất nhiều những yếu tố cản trở rất đặc thù, và các phân tích sau nhằm l‎ý giải vì sao có những nghịch lý và thậm chí cực kỳ phi l‎ý khi một dân tộc vĩ đại có một lịch sử vĩ đại nhưng thiếu các vật thể minh chứng những nền gốc vĩ đại đã từng có thật.

a- Lịch Sử

Người Việt trên đường truân chuyên khổ ải nhưng anh dũng để sinh tồn đã không thể lưu các gốc khởi thủy. Lãnh thổ của các tộc người Việt rộng lớn mênh mông từ Động Đình Hồ vùng Đông Bắc tỉnh Hồ Nam trải xuống các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu‎, đến tận Chiêm Thành. Bị Tần Thủy Hoàng xâm chiếm, dân Lạc Việt đã kháng chiến lâu dài từ năm 214 đến 208 trước Công Nguyên, gây thiệt hại to lớn cho Nhà Tần, khiến Tần Nhị Thế phải rút quân khỏi Văn Lang (Quýnh et al. 2002). Song, những biến động lịch sử to lớn sau đó kéo dài hơn một ngàn năm với sự xâm lược đánh chiếm và đô hộ của các triều đại Triệu, Tây Hán, Đông Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường, từ năm 179 trước Công Nguyên khi Triệu Đà tiêu diệt An Dương Vương, chiếm nước Âu Lạc, cho đến năm 905 sau Công Nguyên khi Khúc Thừa Dụ đánh đuổi quân Nhà Đường giành lại độc lập, đã khiến người Việt ngày càng rời xa lãnh thổ khởi thủy, lánh nạn lùi dần về phương Nam. Đây là là l‎ý do người Việt đã không có những di tích hay di chỉ hoặc di vật lịch sử Văn Lang, Lĩnh Nam, Âu Lạc, v.v. của tổ tiên để bảo tồn. Ngay cả khi đã thoát ách đô hộ của Tàu, các vua Việt vẫn phải vơ vét kho tàng và tài nguyên quốc gia để hàng năm triều cống vua Tàu với vàng ngọc, lụa là, sừng tê, kỳ nam, trầm hương, nghệ nhân bậc thầy trong mỹ thuật, điêu khắc, xây dựng, v.v. Đây là việc khôn ngoan, hoàn toàn đúng đắn, y như các vua Hàn, nhờ vậy Việt Nam trường tồn, Hàn Quốc trường tồn. Việt Nam có đủ thời gian thắt lưng buộc bụng ém sức ém quân để trừng trị và trừng trị có hiệu quả những lần thiên triều Trung Hoa nổi cơn điên dại xua quân tràn xuống phương Nam. Việt Nam ngăn chặn vĩnh viễn sự bành trướng lảnh thổ Trung Quốc xuyên qua Việt Nam xuống tận Kubang để nhìn qua Darwin cho kế hoạch tiếp theo nuốt chửng lục địa Úc Châu. Hàn Quốc ngăn chặn “thiên triều” vĩnh viễn không sao làm chủ được Thái Bình Dương. Đó là sự khôn khéo của tất cả các vị minh quân tự cổ chí kim. Nhưng cũng chính vì thế, sự phòng thủ – tuy không đến thái cực như tiêu thổ kháng chiến – trở thành triết l‎ý sống chủ đạo xuyên suốt quá trình lập quốc Việt Nam, khiến việc xây dựng thành quách nguy nga đồ sộ không những không đủ sức thực hiện do quốc khố không thể còn đủ dồi dào, mà còn không thực tế trước vấn đề thiên triều xâm lược trở nên thường lệ, thường xuyên, và thường trực, như một chủ đề thường đàm thường nhật. Phòng thủ và đầu tư di dân xa hơn về phương Nam để an toàn hơn trước các sự tấn công của thiên triều, các triều đại và con người Việt Nam thiên nhiều hơn về lý trí và ý chí – không phải kiểu Wille zur Macht của Friedrich Wilhelm Nietzsche – và từ đó hình thành một ý thức không đặt lên hàng đầu những chứng tích lịch sử cần phải bảo tồn cho bảo tàng, vốn chỉ thích hợp hơn cho một dân tộc trong tình trạng ổn cư ổn canh thường xuyên. Trong cuộc phòng thủ hàng trăm thế kỷ phối hợp với vạn lý trường di, người Việt chỉ mang theo mình vũ khí, thực phẩm, hồi ức tổ tiên, và ký ức lịch sử dân tộc – những gì đoàn quân xâm lược bá quyền nước lớn không thể cướp đi. Lịch sử Việt Nam, vì vậy, là những gì được thể hiện nhiều hơn trong sử sách đầy bi tráng – dù sử liệu có nhiều dị biệt và bất nhất – và qua sự tồn tại vững vàng đương nhiên hiện nay của người Việt – dù bản thân người Việt có nhiều bất tương thích, bất tương đồng và bất tương hợp trong chính cộng đồng của họ – thay vì qua số lượng đồ sộ những di tích hoành tráng, nguy nga, những di chỉ, di vật tràn ngập bảo tàng.

b- Con Người

Vết tích của Hoàng Thành Thăng Long được phát hiện ở Hà Nội trong quá trình đào đường đã cho thấy một sự thật khủng khiếp: ở vùng đất thiên nhiên ưu đãi đến độ “thiên triều” Trung Quốc nhiều ngàn năm nay thèm muốn ngay cả trong chiêm bao mộng mị, không có vụ nổ núi lửa tương tự như Vesus chôn vùi Pompei tráng lệ dưới cả trăm mét tro bụi dung nham, không có trận đại hồng thủy nào nhấn chìm châu thổ Hồng Hà để cư dân Việt lánh nạn trên chiếc tàu Ark như của Noah vướng đỉnh Hoàng Liên Sơn, và cũng chẳng có trận động đất nào xé toang áo đá địa cầu như ở Tân Cương, mà chính đôi bàn tay trần của người Việt đã chôn vùi Thăng Long dưới ba thước đất thịt. Sau khi có quyết định của triều đình – thuộc loại thiếu sáng suốt nhất trong tất cả các vương triều Việt từ thời lập quốc – dời đô về miền Trung Việt Nam, và cũng tương tự như đối với bất kỳ “thành quách” nào bất kỳ đâu suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, người dân đã làm biến mất hoàng thành – có lẽ qua việc tháo dỡ, chuyển tải về nhà đến từng viên đá tảng, từng phiến gạch lát, từ nóc đến sàn, và thậm chí những kẻ chậm chân còn đào sâu xuống nền móng để tận thu gạch đá, xóa sạch dấu tích Hoàng Thành Thăng Long một thời sừng sững, đến độ gần đây chỉ nhờ máy xúc máy cào bóc tách mới thấy được vài chân móng của cái hoàng thành một thời là biểu tượng của sự kiêu hùng kiêu dũng làm run sợ thiên binh.

c- Di Tích Lịch Sử Việt Nam

Những cổ vật thời tiền sử được phát hiện tại Ban Chiang, tỉnh Udon Thani, Thái lan, một phần được đưa về viện bảo tàng quốc gia, một phần lưu lại nơi hang động để bảo tồn thành bảo tàng để dựa vào đó hất mặt cao đầu khẳng định văn hóa tổ tiên Thái đã có từ nhiều ngàn năm trước Công Nguyên, sánh ngang với thời đại các di chỉ Trung Hoa và Ấn Độ. Con số 4000 năm văn hiến của Việt Nam trở nên nhỏ nhoi trên thực tế số liệu không chính xác, tài liệu thiếu đủ đầy, và vật liệu minh chứng đa số bị hủy hoại bởi chính người Việt chứ không hoàn toàn do thiên tai hay địch họa.

 

Trong khi các di tích ở các nước khác trở thành những thánh tích kỳ vĩ hay những điểm tham quan du lịch choáng ngợp hoành tráng, ở Việt Nam chúng hoặc biến mất (như Hoàng Thành Thăng Long, Loa Thành, v.v.), hoặc thành phế tích – như các Tháp Chàm – không toát được khí thế hùng thiêng như Đền Angkor Vat mà chỉ vừa nhỏ bé đến vô nghĩa về hình thể vật chất, vừa minh họa cho ý nghĩa của cụm từ ngẫu lục tang thương. Chính sự chăm chút bảo tồn của con người đối với một di sản mới có thể biến nó thành bảo vật quốc gia, một bảo tàng sống vốn nói lên rất nhiều điều về con người và văn hóa dân tộc của con người ấy.

 

Hầu như do đặc điểm lịch sử và con người của người Việt mà lòng tự hào dân tộc trở nên phổ quát nhưng thiếu đặc trưng. Bạch Đằng Giang là cái tên lừng lẫy; song, khúc sông – hay những khúc sông – nào của Bạch Đằng Giang gắn liền với những trận thủy chiến tang thương nhất lịch sử Trung Hoa vĩ đại mà trận Xích Bích ở Trường Giang tuy quan trọng sống còn trong hình thành hai nhà nước Thục Hán và Đông Ngô vẫn không phải là nỗi niềm nhục nhã đớn đau thiên cổ cho tỷ tỷ dân Trung Quốc cho đến ngày tận thế, thì đa số người Việt không hề biết được, thậm chí thời thiên hạ thái bình cũng chưa từng có công trình quy mô hoành tráng nào được dựng xây chốn cũ Bạch Đằng Giang. Trong khi đó, công trình Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến lại là một công trình dành cho các thế hệ Việt Nam của vài thế kỷ sắp đến, khi Lạc Cảnh sinh nhật kỷ niệm 200 hay 300 năm, như một minh chứng người Việt đã có công trình vĩ đại đến dường ấy, đã làm tốt công tác bảo tồn trong ngần ấy thế kỷ, để hậu thế Việt Nam tự hào có một bảo tàng 200 tuổi cấp quốc gia.

 

Trong khi đó, Đền thờ Quốc Tổ Hùng Vương vẫn khiêm nhường tĩnh lặng, còn Chùa Hương ngay cuối thế kỷ 20 đã không còn là nơi mà đa số người Việt ở phía Nam cho là xứng đáng để tham quan vì những tạp nhạp phơi bày trên các phóng sự truyền hình đã cho mọi người thấy đó chỉ là một nơi chốn nhỏ bé, không thanh tịnh, mất vệ sinh, hỗn loạn, đầy uế tạp, và do đó không thể nào còn là nơi chốn linh thiêng.

d- Kiến Trúc Cổ & Kiến Trúc Tân

Do những đặc điểm hoàn cảnh lịch sử và con người, đa số các công trình di tích lịch sử đều nhỏ bé và không có tính sử dụng thực tiễn. Chùa Một Cột – phiên bản nhỏ bé hiện nay tại Hà Nội – khó thể là nơi các sư trụ lại tu hành để được gọi là “chùa”, còn hình ảnh Chùa Thiên Mụ ở Huế thật ra chỉ là tòa tháp không lớn, trống trơn, không phải thực chỗ tu hành tụng niệm của bất kỳ ai của ngôi chùa thấp nhỏ, cách hơn 50 mét phía sau. Niên đại của các kiến trúc như Chùa Một Cột, Lăng Lê Văn Duyệt, Cổ Thành Quảng Trị, hay Chùa Thiên Mụ, v.v., có thể gắn kết bản thân kiến trúc vào một hay những thời khắc lịch sử nước nhà, khiến các công trình ấy trở thành di tích. Song, đặc điểm tiêu cực của các di tích ở Việt Nam là đa số không là thành phần của danh thắng, như Lăng Lê Văn Duyệt và nhiều chùa cổ được xếp hạng di tích ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lại bị vây chặt giữa chốn thị tứ cửa nhà san sát hay bị vây chặt lấn chiếm bởi nhà dân, cho thấy sự nghiệp bảo tồn di sản lịch sử vừa chưa được đầu tư đúng, đủ, vừa không bao gồm khái niệm bảo tồn không gian chung quanh các di sản được bảo tồn ấy; cũng như vừa không có các quy định pháp l‎ý chặt chẽ, nghiêm minh và nghiêm khắc về bảo vệ di sản văn hóa và di tích lịch sử, khiến hầu như những di tích có khoảng không gian thích hợp lại tập trung ở Kinh Thành Huế, nơi may nhờ những yếu tố lịch sử khách quan mà bàn tay người dân không thể chạm tay vào được để xây dựng lấn chiếm.

Tư duy thực dụng còn thể hiện ngay trong giới tu sĩ khi ngày càng nhiều những ngôi chùa “cũ” có nét đẹp “cổ” bị phá bỏ để xây mới, thậm chí nhiều ngôi chùa như Kỳ Viên Tự ở góc Nguyễn Đình Chiểu – Bàn Cờ, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh, lâm vào tình cảnh giống y nhau khi (a) đập xong chùa là thông báo nhiều tỷ đồng của chùa bị mất cắp sạch, dù ai cũng biết không l‎ý gì chùa lại giữ số tiền mặt quá lớn mà không gởi ngân hàng lấy lãi cứu giúp bá tánh, (b) không trình báo với cơ quan công an, (c) xuất hiện quầy bàn kêu gọi quyên góp của thiện nam tín nữ giúp xây chùa tiếp, và (d) chùa vẫn nằm ngổn ngang, lấy vải bạt che nắng che mưa qua nhiều năm tháng. Số phận các ngôi chùa cũ như vậy đã không còn cơ hội thành chùa cổ để thêm số lượng di sản văn hóa và lịch sử nước nhà.

e- Triết Lý Sống Việt Nam

Nghĩa tử là nghĩa tận. Người Việt không oán thù dai. Người Việt hướng về phía trước, tích cực, như tổ tiên đã nhiều ngàn năm thiên thiên bách vạn lý trường di. Di tích: nếu còn, rất tốt; đã mất, không xấu bằng ngày tận thế. Đoàn quân xâm lược tàn ác bị đánh bại, nhưng những tướng giặc rơi đầu tử trận được chôn cất tử tế, được lập đền khói hương không ngớt. Một cách hành sử đặc thù phong cách Việt: thương hại cấp lương thực thuốc men cho tù hàng binh trả về bên kia Ải Nam Quan, và thương hại cấp khói hương cho tướng sĩ giặc trận vong hồn phải ngàn thu lưu lạc nơi này không thể về cố quốc với người thân. Không ai muốn lưu giữ hiện trạng của một khu phố Hà Nội bị bom B52 Mỹ san thành bình địa, vì việc xây dựng những tòa nhà mới, cao hơn, to hơn, đẹp hơn, trên vị trí cũ mới là sự thể hiện tư thế chủ nhân thật sự, sức mạnh đích thực, thành công vượt bậc, và chiến thắng vẹn toàn.

Người Việt không bảo tồn những bình pha lê hứng đựng nước mắt của khổ đau. Người Việt, có chăng, là lưu giữ những chứng tích đủ để hậu thế nhận thức về những tàn khốc của chiến tranh cùng các tội ác nó đem lại, chỉ để người ta yêu quý cuộc sống này hơn, biết trọng hòa bình, và biết cần phải làm gì để bảo vệ một cuộc sống trong hòa bình của chính mình, và hiểu ước muốn tương tự của các dân tộc khác.

 

Người Việt không xem việc phô bày nhục thể nơi công cộng là thích hợp với sự trang nghiêm, nên không có những di sản tương tự tượng Bahubali vạch lá nhú chìa dương vật tự nhiên để khẳng định mình.

 

Trong hoàn cảnh lịch sử bị xâm lược và bị đe dọa xâm lược thường xuyên, người Việt không có nhiều các di sản và di tích lịch sử để bảo tồn, nhưng đang nâng niu các di-tích-lịch-sử-cho-tương-lai như Hang Pắc Pó, địa đạo Củ Chi, địa đạo Vĩnh Mốc, Dinh Độc Lập, v.v. Điều quan trọng mang ý tư duy cần được nêu bật là bảo tồn môi trường và bảo tồn thiên nhiên cũng phải được hòa quyện vào trong nội dung bảo tồn văn hóa và lịch sử, vì rằng không gian sống lành và mạnh mới giúp các di tích, di chỉ, di vật văn hóa và lịch sử thành bảo vật mà chính thời thái bình thịnh trị như ngày nay mới là thời cơ tuyệt diệu để hậu thế Việt Nam không phải chịu cảnh thiếu thốn các minh chứng cho một gốc tích Việt vinh diệu, tự hào.

 

3) Kết Luận: Nền Cũ Lâu Đài Bóng Tịch Dương

Do những tác nhân mang tính đặc thù riêng biệt kể trên, Việt Nam là xứ sở của những nghịch lý người ngoại quốc khó thể hiểu tường tận. Một đất nước có lịch sử quá đỗi hào hùng gần như độc nhất vô nhị tự cổ chí kim: bị Trung Hoa đô hộ cả ngàn năm vẫn còn nguyên vẹn tinh thần dân tộc riêng biệt, không trộn lẫn, chẳng lẫn lộn, khó bị đồng hóa với tác nhân ngoại lai, theo phong cách sống dĩ hòa vi quý nhưng lại quật khởi, thậm chí còn chặn đứng vĩnh viễn sự bành trướng của Nguyên Mông xuống vùng Đông Nam Á khiến vó ngựa đã từng ngạo nghễ chinh phục suốt chiều ngang kỳ vĩ của toàn lục địa Á-Âu phải khuỵu gối muôn đời trước cửa Ải Nam Quan. Một đất nước có lịch sử quá đỗi hào hùng gần như độc nhất vô nhị tự cổ chí kim như thế, làm chủ bản thân mãnh liệt như thế, với tinh thần dân tộc cao vời như thế, luôn nêu gương ngay cả trong tôn sư trọng đạo và thiên về tình cảm tâm linh nhiều như thế, lại gần như thực dụng đến độ chẳng để lại gì nhiều những vật chất cụ thể để chứng minh cái hào hùng, mãnh liệt, cao vời, tình cảm, tâm linh ấy không chỉ là truyền khẩu, dệt thêu.

Thôi thì “Thời lai: phong tống Đằng Vương Các”(Nếu gặp thời thì dẫu Lầu Đằng Vương có cao đến thế gió cũng sẽ đưa ta lên tận nơi, chứ còn không gặp vận thì dẫu có vững vàng như Bia Tấn Phúc sét cũng đánh ngã nhào), nước Tàu kia tuy vẫn còn lầu Đằng Vương nhờ làm tốt “bảo tồn” cả bằng biện pháp vật thể (xây năm 653, trùng tu lần thứ 28 năm 1870 và lần thứ 29 vào năm 1989) và phi vật thể (văn học, thơ ca), vẫn chịu mất di tích lịch sử bia Tấn Phúc vì thiên tai; nhưng nhờ vậy người ta khi đến thăm Đằng Vương Các, đọc bài thơ của Tử An Vương Bột đương nhiên tin Bia Tấn Phúc đã từng tồn tại. Hoặc như xứ sở Afghanistan kia có hai tượng Phật Bamyan mỗi tượng cao 53 mét cực kỳ vĩ đại, do các sư sãi tạc khắc vào hai núi đá những 700 năm trước khi Jesus Christ của Ki-tô Giáo giáng sinh, cũng bị…nhân tai khi thủ lĩnh tối cao của Taliban là Mullah Mohammad Omar vào ngày 26/02/2001 đầy nắng gắt đã hạ lịnh cho các khẩu đại bác trên các tháp pháo xe tăng nã đạn liên hồi trong hơn một tuần, biến kỳ quan thiên cổ thành đá vụn, và nhân loại nhờ có hình ảnh lưu trữ mà biết được ở thung lũng Bamyan mênh mông A Phú Hãn ấy đã từng có hai tượng Phật sừng sững kỳ quan.

 

Do đó, người Việt vẫn có thể tự an ủi một cách đầy triết lý rằng vạn vật sắc sắc không không, thương hải biến vi tang điền (biển cả hóa ruộng dâu), di tích hoành tráng nếu có cũng phải chịu tác động ngày nay của sự ấm lên toàn cầu đang đe dọa nhấn chìm nhiều đảo quốc, thu hẹp diện tích lắm quốc gia, và chỉ có sự sinh tồn của người dân Việt mới là quan trọng hơn cả. Song, khi lâu đài không còn tồn tại, người ta vẫn có thể nâng niu nền cũ vững chải như một chứng tích của thời hoàng kim một lâu đài từng sừng sững – và thậm chí khi cả cái nền cũng bị xâm thực thì người Việt vẫn có thể “bảo tồn” cái “bóng tịch dương” trừu tượng đã từng soi rọi nơi chốn ấy, nghĩa là “bảo tồn, bảo tàng” ngay cả cái nguyên khí, văn hóa, văn học, nghi lễ, tập tục, phong hóa của nước nhà. Bảo tồn di chỉ, di tích, muông thú, thực vật, nếp sống, phong hóa cũng là để chứng minh Người Việt thực sự Tổ Tiên, Nòi Giống, Lịch Sử. Có tổ tiên nên ắt được dạy bảo về tình đoàn kết. Có nòi giống nên ắt nhận thức được trên thế gian này chỉ có một dân tộc Việt Nam. Có lịch sử nên ý thức được rằng trên thế gian này chỉ có một đất nước Việt Nam.

Người Tàu khắp thế giới tự hào về đất nước Trung Quốc vĩ đại của các kỳ quan và kỳ tích, bất kể họ là người Trung Hoa Lục Địa của Cộng Sản Đảng, Đài Loan của Quốc Dân Đảng, hay tại các China Town toàn cầu.

Người Hàn trên toàn thế giới kiêu hãnh về dân tộc Hàn duy nhất, hùng mạnh, có ý chí kiên cường, của đất nước có các kỳ quan và kỳ tích, bất kể họ là người Triều Tiên, người Hàn Quốc, hay Hàn Kiều.

Khi người Việt trên toàn thế giới đoàn kết vì một dân tộc Việt Nam duy nhất, một đất nước Việt Nam duy nhất, khi ấy người Việt mới có thể chứng minh được với phần còn lại của nhân loại rằng họ có chung một cội nguồn lịch sử thật sự vĩ đại, một gốc thật sự vững chắc do một tổ tiên thật sự đáng kính vun đắp dựng xây thành công và giáo huấn thành công về tinh thần bảo tồn những giá trị bản sắc Việt thật sự tinh túy đặc thù, những giá trị mà thiếu hoặc không có những giá trị ấy, mọi lời nói có sử dụng các cụm từ như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tổ quốc, đồng bào, hay vì màu cờ sắc áo sẽ chỉ là sáo ngữ, thiếu nghiêm túc, đưa Người Việt ra làm đối tượng để kính cẩn mời gọi ngoại nhân cười cợt và nhạo báng.

Bảo tồn văn hóa Việt và xây dựng văn hóa Việt chính là sự bổ sung đầy thuyết phục lịch sử vàng son có thật của nước Việt ta.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

A) Hình ảnh:

Deutschland Germany Allemagne. nd. Schaffmann & Kluge

Finlay, H., T. Wheeler, B. Thomas, M. Coxall, L. Logan, G. Cole, and P.A. Raj. 1996. India: a Lonely Planet Travel Survival Kit. 6th ed. Victoria: Lonely Planet Publication.

Hebberd, L. and M. Kamdar. 1998. Cultural Portraits of India. New Delhi: Cultural Portraits Production, Inc.

Hechenblaikner, L. and F. Schwarzenauer. nd. Vietnam. München: Verlag C.J. Bucher.

Mehra, S. 1993. Rajasthan: an Enduring Romance. New Delhi: Lustre Press Pvt. Ltd.

Sharma, J.C. 1997. Hindu Temples in Vietnam. New Delhi: Rakesh Taneja

Thailand in the 90s. 1995. Bangkok: Amarin Printing and Publishing Public Co. Ltd.

Tường, Võ Văn. 1992. Việt Nam Danh Lam Cổ Tự. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội

B) Chi tiết về các niên đại:

Hưu, Lê Văn, Phan Phù Tiên và Ngô Sỹ Liên. 1697. Đại Việt Sử K‎ý Toàn Thư. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội (1993).

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. 1881. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục (1998).

Khuyết Danh. nd. Đại Việt Sử Lược. TP HCM: Nhà Xuất Bản TP HCM (1993).

Quýnh, Trương Hữu, Đinh Xuân Lãm, và Lê Mậu Hân. 2002. Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – Toàn Tập. Tái bản lần 5. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Giáo Dục.

Tức Ảnh Đề Thơ

Hoàng Hữu Phước

Nhân vào thăm blog http://antichina.blog.com , xin đăng lại vài đoạn thơ tức ảnh thay vì tức cảnh:

O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu.

Ra thế! To gan hơn béo bụng,

Anh hùng đâu cứ phải mày râu!

                           Tố Hữu Nguyễn Kim Thành, 1967

O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu.

Ai về nhắn với anh “Xơn-Ních”

“Thần Sấm” ra “Ma”, hết dạng ngầu!

                          Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2012

Anh dân quân quát:“Ê tên mọi!”

Thằng Chệt thất kinh, xuống tấn quỳ

Ra thế! Thiếu Lâm run chịu trói

Anh hùng Đại Hán? Có ra chi!

                      Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2012

Chị dân quân xã giương cao súng

Bọn giặc Trung Hoa cúi gục đầu.

Ra thế! Quần thoa nhưng uy dũng

Chà chà! Thất thểu đám nhụi râu!

Ai về nhắn với Trung Nam Hải

Qua Việt mần chi? Xấu xứ Tàu!

                   Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, 2012

Đem đại nghĩa đánh nát hung tàn

Lấy trí nhân đập tan cuồng bạo.

 

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài viết tiếp theo:

1) Báo Tuổi Trẻ

2) Thế Nào Là Nhân Quyền

3) Hội Chứng Dê Tê Cu và Hội Chứng Dê Trớt Quớt (The DTQ Syndrome)

4) Giá Như Còn Đó Những Người Nghèo Xưa

5) Lời Cảnh Báo Nghiêm Trọng Dành Cho Các Du Học Sinh Việt Nam Tại Anh-Mỹ

6) Nhà Tư Vấn Kinh-Thương Hoàng Hữu Phước Nói Về Xe Tay Ga

7) Tiếp Lời Phó Thủ Tướng Vũ Đức Đam Về University

8 ) Lê Như Tiến

9) Nguyễn Minh Thuyết

10) Dương Trung Quốc Và Kỳ Án Liên Quan Đến Trụ Sở Tòa Soạn Tạp Chí  “Xưa Và Nay” Tại Thành Phố Hồ Chí Minh

11) Báo Người Lao Động

12) Nhà Sử Học Hoàng Hữu Phước

13) Nghị Sĩ Hoàng Hữu Phước Báo Cáo Với Nhân Dân Về Nửa Nhiệm Kỳ Đầu Phục Vụ

14) Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Đặt Vấn Đề Đâu Là Sự Thật Về Sự Cố Ở Cần Giờ

Trân trọng kính mong được độc giả đến tìm đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc. (Các bài viết có thể sẽ không theo thứ tự trước-sau hoặc sẽ có thêm các bài viết khác ngoài danh mục chen vào mà không được thông báo trước)

Nước Mỹ Bất Hạnh

Hoàng Hữu Phước, MIB

Trong thời đại văn minh hiện đại của nhân loại, chỉ có con-người-dã-thú mới ra tay tàn diệt một dân tộc dù bằng vũ khí quy ước hay hạt nhân, nhằm đưa dân tộc ấy trở lại thời kỳ đồ đá.

Trong thời đại văn minh hiện đại của nhân loại, chỉ có con-người-dã-man-mọi-rợ mới ra tay tàn diệt một dân tộc bằng cấm vận kinh tế chỉ vì xấu hổ, muốn gỡ gạc thể diện do bị đại bại trên khắp chiến trường chiến đấu chiến tranh, thứ võ đài chuyên nghiệp không dành cho trẻ nít chạy đi mách mẹ vì chơi tạt lính thua nhóc hàng xóm, và cũng chẳng dành cho bọn lưu manh giở trò hạ cấp với người được trao cúp vô địch.

Trong thời đại văn minh hiện đại của nhân loại, chỉ có con-người-dã-nhân tức gorilla-like human mới ra tay tàn diệt một dân tộc bằng những chiêu thức phá hoại khác chẳng hạn như chăm chăm ngụy tạo thông tin nhằm phá hoại sự thanh bình an cư ổn định của dân tộc ấy và cho cùng một mục tiêu và mục đích.

Và cũng trong thời đại văn minh, cũng thật là chả ra người ra ngợm gì nếu bật cười ha hả khoái trá khi thấy sự suy vi của một dân tộc nào đó mà không có cái trí thấu thị về vận mệnh chung (nhà Phật gọi là “cộng nghiệp”), cũng chẳng có được cái hùng tâm cứu giúp chúng sinh khỏi bờ vực tàn ác u mê, hay cái hùng trí tìm kế sách xa gần trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm truyền được sự thấu thị ấy đến dân tộc đó để may ra cứu được mươi người nào biết nghe theo thì đỡ cho mươi người nấy. Do đó, noi gương một người Việt đã từng viết thư riêng cho Tổng Thống Saddam Hussein để vấn kế sinh tồn cứu nguy dân tộc Iraq, tác giả bài này xin nói về Nước Mỹ với thiện tâm và hoàn toàn dựa trên sự thật, với không gì khác hơn ngoài sự thật, để chứng tỏ bản thân vừa có ra người ra ngợm hẳn hoi, khác xa loài người-dã-thú hay khỉ dã nhân..

NHÂN ĐỊNH

Chân lý ở muôn đời và muôn nơi luôn là: một dân tộc không bị gọi là bất hạnh khi có thể tồn tại vững bền nhờ (1) có ý chí đồng tâm, (2) có trí tuệ sáng suốt, có đủ sự tinh khôn tỉnh táo tinh tường, và nhất là (3) có tinh thần yêu nước được cụ thể hóa bằng hành động hay hành vi “tất cả cho tổ quốc quyết sinh[1]. Thiếu vắng cả ba yếu tố này, dân tộc ấy được xem như bất hạnh, tất phải suy vi, suy thoái, suy tàn và suy vong.

Nước Mỹ hoàn toàn không có cái ý chí đồng tâm của dân tộc Mỹ.

Trong bài viết dài 3.404 từ mang tựa đề “30-4-1970 – 30/4/2010: 40 Năm Từ Cuộc Đàn Áp Của Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ Tiểu Bang Ohio Thảm Sát Sinh Viên Tại Trường Đại Học Kent”, đăng trên Emotino.com lúc 4 giờ sáng ngày 29-4-2010, tôi có viết rằng đã có những ngày 30 tháng 4 của lịch sử nhân loại gồm (1) ngày 30-4-1945 khi tên chống Cộng điên cuồng điên dại nhất của thế giới tư bản là Quốc Trưởng Đức Adolf Hitler đã cùng đường tự sát, đem lại danh tiếng cho Liên Xô như quốc gia đã kết thúc Thế Chiến II qua việc kết liễu khối Trục Quốc Xã Đức-Phát Xít Ý-Quân Phiệt Nhật, trả thù cho 20 triệu quân dân Liên Xô đã hy sinh dưới gót giày quân xâm lược bạo tàn, và ban cho Tây Âu cùng Mỹ cái danh tiếng giải phóng được vài nước Châu Âu và danh tiếng chính thức tiếp nhận sự đầu hàng nhanh-chóng-vì-khiếp-sợ-Liên-Xô-trừng-trị của Nhật; (2) ngày 30-4-1970 khi Tổng Thống Mỹ Richard Nixon ngu xuẩn kết liễu vĩnh viễn giềng mối tự do, dân chủ, đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc Hoa Kỳ qua thông điệp chống Cộng sản Việt Nam, dẫn đến cuộc thảm sát cùng ngày tại Đại học Kent lúc sinh viên tụ tập bên trong khuôn viên trường để chống lại bức thông điệp gia tăng cường độ cuộc chiến tranh của Mỹ chống lại Cộng sản Việt Nam; và (3) ngày 30-4-1975 là ngày siêu cường Hoa Kỳ, người anh cả của thế giới chống Cộng đã tháo chạy tán loạn bằng đường hàng không và đường biển, bỏ mặc quân đội của chế độ Sài Gòn tháo chạy tán loạn bằng đường bộ, cởi bỏ quân phục vẻ vang vất ngập ngụa suốt đường quốc lộ, dẫm đạp lên quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa thiêng liêng nhũn bùn đầy xa lộ, đẩy vùng đất cờ-vàng-ba-sọc-đỏ đến chỗ bị xóa sạch tên ngay lập tức và mãi mãi trên tất cả các bản đồ thế giới cùng với sự sụp đổ vĩnh viễn cái thế giới chống cộng mà tên gọi khác là thế giới tự do khiến cái danh xưng thế giới tự do này cũng bị diệt vong, biến mất hoàn toàn trên tất cả các diễn đàn toàn thế giới cho đến tận ngày nay, do không bất kỳ ai trong nhóm các nước đồng minh của Mỹ còn đủ độ dày của da mặt để dám tự hào về cái danh xưng ấy. Sự ranh mãnh của Mỹ trong tranh giành danh dự chấm dứt Đệ Nhị Thế Chiến bằng 2 quả bom nguyên tử đã giúp Mỹ hình thành nên “thế giới tự do” với vai trò lãnh đạo của Mỹ và sự đồng tâm tự hào của toàn dân tộc Hoa Kỳ. Nhưng chính sự leo thang chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, việc nuôi dưỡng bọn tay sai tàn ác vô nhân tính Nguyễn Văn Thiệu, các cuộc thảm sát thường dân vô tội Việt Nam, và việc đẩy bao người con ưu tú tương lai của dân tộc Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam chỉ để có tên khắc chi chít trên tường đá đen tưởng niệm, đã nhanh chóng hủy phá sự đồng thuận của cả dân tộc Mỹ, dẫn đến sự tháo chạy nhục nhã của Mỹ khỏi Việt Nam đúng 5 năm sau ngày Richard Nixon đọc thông điệp gởi quốc dân biện minh cho quyết định của Mỹ phối hợp với quân đội Việt Nam Cộng Hòa xâm lược Cambodia hòng đánh phá các căn cứ địa của cộng sản Việt Nam, rốt cuộc lại gây ra cuộc thảm sát cùng ngày tại Đại Học Kent trên chính đất nước Hoa Kỳ.

Nước Mỹ đã vĩnh viễn mất danh tiếng “nhà giải phóng Châu Âu” vì hành động chống đối Mỹ ở tất cả các nước Âu Châu không thể là hành động trả ơn của người chịu ơn đối với người ra ơn “giải phóng”.

Nước Mỹ đã vĩnh viễn mất danh tiếng “cha đẻ và là nhà lãnh đạo thế giới tự do”, đơn giản vì không còn nghe bất kỳ nơi đâu trên trái đất này nói về cái thế giới ấy.

Nước Mỹ đã vĩnh viễn mất vị trí người anh cả của phe đồng minh, và thậm chí cái gọi là “phe đồng minh” cũng âm thầm biến mất cùng với cái gọi là “thế giới tự do”.

Và cuối cùng – song lại là điều quan trọng nhất – là Nước Mỹ không bao giờ còn có thể có lại được sự đồng thuận dân tộc vốn đã đưa Mỹ quốc trở thành siêu cường, và đây là sự bất hạnh thứ nhất khi mà vị trí của Mỹ chẳng còn ở – và sẽ chẳng bao giờ có thể trở lại – ngôi cao của uy vũ, và do đó đã bị mọi quốc gia lấn lướt, từ người xưa kia là “đồng ninh” đến kẻ trước đây là “kẻ thù”.

Chỉ vì ngu xuẩn điên rồ dại dột chống lại Cộng Sản Việt Nam, Mỹ đã mất tất cả.

Nước Mỹ hoàn toàn không có cái trí tuệ sáng suốt, có đủ sự tinh khôn tỉnh táo tinh tường.

Khi nói nước Mỹ hoàn toàn không có cái trí tuệ sáng suốt, có đủ sự tinh khôn tỉnh táo tinh tường, v.v., ấy là nói về Nhà nước Mỹ, mà không về dân tộc Mỹ hay nhân dân Mỹ tức đại đa số người dân Mỹ thuộc tất cả các giai tầng xã hội đã luôn sáng suốt đấu tranh ủng hộ và tôn trọng Việt Nam cộng sản, tức một cách lịch sự tôn trọng tự do, độc lập, dân chủ, dân quyền, tự quyết của dân tộc Việt Nam.

Sáng suốt sao được khi Nhà Nước Mỹ đã

1- quên gốc tích của cha ông mình ban đầu gồm chỉ những tên tội phạm nguy hiểm đầu trộm đuôi cướp đào thoát khỏi Châu Âu, những kẻ lang bạt kỳ hồ bất tài vô dụng không thể kiếm được ngay cả chén cơm trên chính quê hương Âu Châu của mình, và những tín đồ tôn giáo bị ruồng bỏ, truy sát, đuổi xô, v.v., đã tự gắn hào quang lên chính đầu của mình với việc đẻ ra cái gọi là Ngày Lễ Tạ Ơn cứ như duy chỉ nhúm người đó mới được Thượng Đế ban ơn riêng, từ đó sinh ra bản tính tự tôn tự cao tự đại tự cho mình có trách nhiệm dẫn dắt, uốn nắn, nặn ra, quát nạt, khống chế toàn thế giới, trở thành một thứ Bố của Thiên Tử, vượt xa cả bọn bá quyền Tàu tức out-China China (quá cha Tàu), khiến thế giới ngày càng thêm ghét bỏ;

2- không nắm lấy cơ hội tỷ năm có một để trở thành bá chủ hoàn cầu nhờ vào việc kết thân bình đẳng với Hồ Chí Minh, người đã chìa tay ban hồng phúc qua việc kiên trì viết thư cho các tổng thống Mỹ như Harry Truman, Lyndon B. Johnson, và Richard Nixon [2]; lại cất công đi nhào nặn ra bọn tay sai Nhu-Diệm, Thiệu-Kỳ cho dễ sai dễ khiến vì đầu óc Nhà Nước Mỹ vẫn còn mông muội nông nô tưởng thế mới là “oách”, để rồi thất bại đến độ ngày nay ai cũng có thể nắn gân Mỹ tùy thích, nhạo báng Mỹ tùy hứng, và dọa nạt Mỹ tùy cơn;

3- không nhận ra tầm quan trọng mang tính quyết định của Việt Nam tại khu vực quan trọng ASEAN để rồi bị Tàu lấn lướt ở Biển Đông.

Và nước Mỹ hoàn toàn không có cái gọi là lòng yêu nước được cụ thể hóa bằng hành động hay hành vi “tất cả cho tổ quốc quyết sinh”.

Do gốc tích xa xưa tổ tiên người Mỹ đa số là dân tha phương cầu thực trốn khỏi hoặc bị đày ải từ Châu Âu, còn hiện nay thì hoặc từ các nước khác vì lý do kinh tế (như Việt Nam, Mễ Tây Cơ, v.v.) hoặc vì lý do chính trị (như Cuba) hay vì chẳng-vì-lý-do-gì-nghe-lọt-lổ-tai cả (như Ấn Độ vì nạn nhân mãn hoặc tệ hồi môn và giai cấp, Hàn Quốc vì…tránh tình yêu, Tàu vì…giàu quá, v.v.), nên hầu như lòng yêu nước hay lòng ái quốc của người Mỹ thường không dính dáng gì đến nước Mỹ, trở nên thứ hàng hóa xa xỉ hiển hiện duy chỉ trong phim ảnh Hollywood mà thôi. Ai cũng chỉ lo cho bản thân, nhất là không ai trong số họ còn tin tưởng vào sức mạnh kinh tế của nước nhà, cộng thêm đời sống tinh thần nghèo nàn bị lấn lướt bởi chủ nghĩa mua sắm và lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh kim tiền.

Sẵn sàng làm nhục đến quốc thể và gây hại cho danh dự quốc gia, có thể kể đến:

1- Chuyến đào thoát “tỵ nạn” ở Nga năm 2013 của nhân viên Cục Tình Báo Trung Ương Mỹ Edward Joseph Snowden, người đã đánh cắp vô số tài liệu tối mật của Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ, đặt an ninh nước Mỹ và sinh mạng của mạng lưới điệp viên của Mỹ trên toàn thế giới vào tình thế hiểm nguy, đồng thời làm ngoại giao Mỹ muối mặt với các nước “đồng minh” qua các chương trình do thám và nghe lén như PRISM, Xkeyscore và Tempora. Snowden được nhân dân các nước Âu Tây ngợi ca, tôn vinh, và thậm chí còn được gợi ý cho một giải Nobel. Người Mỹ chơi xỏ cơ quan Mỹ, bất kể sự an nguy của quốc gia, vì những ngưởi Mỹ như Snowden nào biết gì về hai từ “tổ quốc”, sẳn sàng đánh cắp thông tin để bán, và khi bán không được sẽ tuyên bố khẳng khái rằng do bản thân không chấp nhận cái sai của Nhà nước Mỹ nên cung cấp thông tin miễn phí cho toàn thế giới biết bộ mặt thật của Chính phủ Hoa Kỳ.

2- Chiếc máy ảnh “riêng” của Ronald L. Haeberle, phóng viên quân đội Hoa Kỳ, người đã tham gia đoàn quân Mỹ gây ra cuộc tắm máu ở Mỹ Lại vào tháng 3 năm 1968. Gọi là “riêng” vì trong chiếc máy ảnh chính quy chụp phim đen-trắng của quân đội cấp cho anh tác nghiệp mà anh nộp lại cơ quan sau cuộc hành quân chỉ cho thấy những cảnh đổ bộ khí thế từ trực thăng, chiến xa tham gia hành quân hàng hàng lớp lớp hùng hậu, binh sĩ dũng cảm xông lên tấn công, lửa cháy các mái tranh của “phiến quân”, và màn thẩm vấn dân làng. Còn chiếc máy ảnh giấu kín của anh thì lại gắn phim màu với những bức ảnh anh sau đó bán cho tờ Life lại cho thấy cảnh quân Mỹ tàn sát sát dân thường vô tội với chất chồng  hàng trăm xác chết mà chủ yếu là phụ nữ, trẻ em, và cả hài nhi, được phát hành trên toàn thế giới, gây ra sự phẫn nộ tột cùng và xuống đường rầm rộ chống Mỹ trên toàn thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ. Người Mỹ qua mặt cơ quan chủ quản Mỹ và bất kể thanh danh hay uy tín của quân đội nước nhà mà mình phục vụ, vì những ngưởi Mỹ như phóng viên Haeberle sẽ không tìm cách can ngăn cuộc thảm sát, thay vào đó, họ chuẩn bị phim ảnh tốt hơn để lén ghi lại những hình ảnh có thể giúp họ vang danh thế giới, sẳn sàng ủng hộ việc tàn ác để mình có thể ghi lại những tác phẩm để đời có giá mua cao.

3- Vết nhơ của Lance Edward Armstrong, tay đua xe đạp chuyên nghiệp vô địch Tour de France bảy năm liên tiếp từ 1999 đến 2005, trong việc sử dụng doping trong ngần ấy năm với sự giúp sức che dấu của đồng đội, những tay đua năng lực y như Armstrong nhưng luôn được phân công đeo bám để che chắn các đối thủ của các nước, hầu giúp Armstrong đoạt giải, và chính họ đã “cung cấp” thông tin cho các nhà báo, đến độ Cơ Quan Chống Doping Hoa Kỳ USADA năm 2012 buộc phải cấm Armstrong thi đấu trọn đời, chưa kể các danh hiệu vô địch và tiền thưởng cũng bị các tổ chức quốc tế thu hồi. Người Mỹ chơi xỏ người Mỹ và bất kể thanh danh hay uy tín thể dục thể thao nước nhà, vì những ngưởi Mỹ như các đồng đội của Armstrong nào biết gì về hai từ “tổ quốc”, sẳn sàng ủng hộ việc sai để có người sai và mình có thể bán thông tin về cái sai đó.

4- Hoặc như anh em nhà Tsarnaev đã gây ra vụ đánh bom trong giải Marathon ở Boston, Hoa Kỳ, tháng 4  năm 2013. Người Mỹ giết người Mỹ, vì những ngưởi Mỹ như anh em Tsarnaev không coi những vận động viên Mỹ tham gia và những người dân Mỹ đứng xem hai bên đường là những người cùng tổ quốc.

5- Và gần đây nhất là vào đầu năm 2014 có một đám người Mỹ (vì có quốc tịch Mỹ, sống tại Mỹ, và là dân Mỹ) tụ tập giương tấm vải màu vàng có ba sọc đỏ (mà những người có ăn học đàng hoàng trên toàn thế giới đều biết rõ mười mươi là nó chẳng phải là lá cờ của nước nào, do đó suy ra chẳng biết nó là cái tấm drap trải giường hay là lá bùa chú vớ vẩn gì của thổ dân) để kêu gào đấu tranh cho nhân quyền của Việt Nam, tố cáo chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền, đòi tước bỏ vai trò của Việt Nam trong cơ quan nhân quyền thế giới.

Người Mỹ mà không lo phụng sự nước Mỹ, tích cực làm giàu (mà làm giàu nhanh nhất là đến làm ăn ở Việt Nam) để đóng thuế cho chính quyền tiểu bang và chính phủ liên bang, lại bỏ thời gian “đấu tranh” cho cái vớ vẩn gọi là “vi phạm nhân quyền” ở Việt Nam vì  quá thương yêu Việt Nam, quá thương yêu dân Việt Nam, quá lo âu cho tiền đồ tương lai nước Việt, đòi các nghị sĩ phải mắng Việt Nam vi phạm nhân quyền mới tiếp tục bỏ phiếu bầu vào Hạ Viện nhiệm kỳ tới, thì đâu cần phải là “nhà trí thức” mới biết nước Mỹ bất hạnh!

Người Mỹ mà không lo phụng sự nước Mỹ, tích cực làm giàu để đóng thuế cho chính quyền tiểu bang và chính phủ liên bang, lại bỏ thời gian “đấu tranh” cho cái vớ vẩn gọi là “vi phạm nhân quyền” ở Cuba vì quá thương yêu Cuba, quá thương yêu dân Cuba, quá lo âu cho tiền đồ tương lai nước Cu, đòi các nghị sĩ Mỹ phải mắng Cuba vi phạm nhân quyền mới tiếp tục bỏ phiếu bầu vào Hạ Viện nhiệm kỳ tới, thì đâu cần phải là “nhà trí thức” mới biết nước Mỹ bất hạnh!

Người Mỹ mà không lo phụng sự nước Mỹ, tích cực làm giàu để đóng thuế cho chính quyền tiểu bang và chính phủ liên bang, lại bỏ thời gian “đấu tranh” cho cái sự gọi là “phải thông thoáng về nhập cư cho dân Mễ Tây Cơ” vì quá thương yêu dân Mễ Tây Cơ, quá lo âu cho tiền đồ tương lai nước Mễ, đòi các nghị sĩ Mỹ phải đòi chính phủ Mỹ thông qua cơ chế cho nhập cư thả dàn đối với dân Mễ mới tiếp tục bỏ phiếu bầu vào Hạ Viện nhiệm kỳ tới, thì đâu cần phải là “nhà trí thức” mới biết nước Mỹ bất hạnh!

Người Mỹ mà không lo phụng sự nước Mỹ, tích cực làm giàu để đóng thuế cho chính quyền tiểu bang và chính phủ liên bang, lại bỏ thời gian “đấu tranh” cho cái sự gọi là “ủng hộ việc xây dựng khu định cư Israel tại Bờ Tây” vì quá thương yêu nước Israel, quá yêu dân Israel, quá lo âu cho tiền đồ tương lai nước Is, đòi các nghị sĩ Mỹ phải mắng Palestine và phe Ả-rập mới tiếp tục bỏ phiếu bầu vào Hạ Viện nhiệm kỳ tới, thì đâu cần phải là “nhà trí thức” mới biết nước Mỹ bất hạnh!

Thiếu vắng ba điều cốt lõi của sự trường tồn trong thế giới văn minh thời nay của một dân tộc, Nước Mỹ tất phải suy vi, suy sụp, suy tàn, và sự suy vong là điều không thể nào không thành sự thật. Tất cả đều do chính Nước Mỹ đã tạo ra cái mà Nhà Phật gọi là biệt nghiệp vậy.

THIÊN ĐỊNH

Phần này xin được nói ngắn gọn, vì như ý ở trên thì khi đó là đại họa cho một dân tộc thì không thể liên hệ đến một cách tùy tiện tùy nghi tùy hứng. Vã lại, thông tin về khoa học thì có thể được kiểm chứng đầy đủ và rõ ràng trên internet nên những người Mỹ gốc Việt nếu đã biết được tiếng Mỹ và nếu thực sự quan tâm có thể tự tìm hiểu thêm rất dễ dàng chỉ với vài cái click chuột. Còn sau đây là những thông tin cực kỳ quen thuộc về các thảm họa thiên nhiên mang tính diệt vong sẽ xảy đến cho nước Mỹ.

Mọi người ắt không quên trận động đất năm 2004 mang tên Trận Động Đất Ấn Độ Dương, hoặc Trận Động Đất Sumatra-Andaman, mà người Việt gọi vắn tắt là Trận Động Đất ở Indonesia xảy ra ngày Chủ Nhật 26-12-2004, ở mức 9,3 độ Richter, gây ra trận sóng thần cao 30 mét quét qua các quốc gia Indonesia, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, v.v., làm chết hơn 230.000 người. Điều khủng khiếp là sự rung lắc chấn động quá dữ dội của nó đến độ vừa làm trái đất bị lệch trục xoay 1cm, vừa làm tất cả các vết nứt của toàn bộ địa cầu dù trên bề mặt hay sâu thẳm dưới các địa tầng và đáy biển bị ảnh hưởng, sụt lún, chuồi trượt, sụp đổ, mà tất cả sẽ dẫn đến những thảm họa liên hoàn liên tục nhiều nơi trên thế giới. Nếu sự lệch trục khiến một phần mới ở địa cực phơi mình ra ánh nắng mặt trời dẫn đến gia tăng thêm sự tan chảy của băng vùng địa cực, khiến trầm trọng hơn sự dâng cao của mực nước biển, mà hậu quả là sự biến mất của những đảo quốc hay những vùng châu thổ sản xuất và cung cấp lương thực cho con người; thì sự nứt rách va tách của các địa tầng sẽ gây ra những trận động đất liên hoàn trên phạm vi toàn cầu gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đến sự sinh tồn của nhân loại, mà nước Mỹ được cho là sẽ gánh chịu phần thảm khốc nhất. Ba cái tên cần được lưu ý gắn với các trận động đất nghiêm trọng có tác động đến Mỹ gồm:

1) Núi lửa Cumbre Vieja ở Đảo Canary trên biển Đại Tây Dương. Lịch sử về những trân động đất do Cumbre Vieja gây ra trong nhiều trăm năm qua kinh hoàng như thế nào, đều có trong các tài liệu. Trận động đất khủng khiếp ở Indonesia năm 2004 chấn động cả địa cầu có thể đã khiến Cumbre Vieja rùng mình thức giấc sớm hơn, sẽ tạo nên cơn sóng thần cao đến 90 mét quét sạch bờ biển phía Đông Hoa Kỳ phá tan New York, Boston, Miami, v.v. , làm 1 triệu người chết trong vòng 30 giây [3]. Những chi tiết này hoàn toàn không phải là điều phóng đại, vì ngày 09-7-1958 trận động đất ở 8,3 độ Richter tại Vịnh Lituya, Bang Alaska, Hoa Kỳ đã gây ra trận sóng thần cao đến 516 mét, được xem như cao nhất mà con người biết đến trong thời hiện đại.

2) Đường Nứt San Andreas ở California, Hoa Kỳ. Đây là một cảnh tượng đáng sợ của thiên nhiên [4]  và dù có sự trấn an của các nhà địa chất, vẫn có sự quan ngại rằng sự rung lắc của trận động đất Indonesia 2004 rất có thể đã làm trầm trọng thêm vết nứt khủng khiếp này và khi xảy đến thì California sẽ tách ra và chuồi trượt chìm xuống biển sâu. Sự hình dung này có thể đã ảnh hưởng đến việc tạo hình tương tự như trong bộ phim Hollywood mang tên  Ngày Tận Thế 2012.

3) Công Viên Quốc Gia Yellowstone [5] với suối phun nước nóng lừng danh Old Faithful. Điều tương tự như đã nêu trên có thể gây ra thảm họa tại đây, dù nhiều người trấn an rằng những trận siêu động đất kinh hoàng trong quá khứ của Yellowstone đã xảy ra với khoảng cách 800.000 năm giữa hai trận. Điều đáng lo vẫn còn đó, vì trái đất đã không còn vững chắc như trước trận động đất 2004 ở Indonesia.

Nước Mỹ bất hạnh vì chất chồng những điều thật tồi tệ và đáng sợ từ thiên nhiên cằn cổi. Tân Thế Giới chỉ là cách gọi thậm xưng cho điều mới phát hiện, chứ không phải nó trẻ hơn Lục Địa Già.

Nước Mỹ sẽ bớt bất hạnh nếu mọi người nhập cư vào Mỹ, có quốc tịch Mỹ trở thành dân Mỹ đều có ý thức tu thân để thành công dân Mỹ tốt, yêu nước Mỹ, yêu thương người dân Mỹ, chung tay cùng dân Mỹ giúp chính phủ Mỹ điều nghiên các biện pháp quản lý rủi ro, phòng chống thiên tai hiệu quả, hoặc kết thân với quốc gia nào là “gốc” của mình để còn nơi chốn lui về tránh họa.

Người Mỹ mà cầm cái nùi giẻ màu vàng có ba sọc đỏ để la hét về nhân quyền này nọ của Việt Nam, đó không phải là người công dân của nước Mỹ vậy.

Ở Việt Nam, người dân gọi kẻ nào hay tụ năm tụ ba đứng ngoài đường kêu réo chửi rủa gia đình người khác là quân mất dạy, đồ vô giáo dục, và phường vô lại. Nước Mỹ chỉ cần biết dạy dân nhập cư về đạo đức và trách nhiệm công dân trước khi cấp phát quốc tịch là đã có thể có được những người dân Mỹ mới tuyệt vời có khả năng giúp Mỹ ngoi dậy được từ bùn lầy đại bại.

Nam mô a di đà Phật.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1] tất cả cho tổ quốc quyết sinh: đây là nhóm từ lập theo mẫu câu “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” thuộc bản quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam

[2] Các bức thư của Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh có đăng tại nguồn: www.historyisaweapon.com/defcon2/hochiminh/

[3] Nguồn: http://www.quakecasts.com

[4] Nguồn: http://SanAndreasFault.orghttp://geology.com

[5] Nguồn: http://edition.cnn.com/2012/08/30/us/wus-supervolcanoes-yellowstone/

Thế Nào Là Nhà Trí Thức

Hoàng Hữu Phước, MIB

Hoàng Hữu Phước, Mùng 1 Tết Giáp Ngọ 2014

Nhận thấy từ ngữ “trí thức” đã bị lạm dụng – dù cố ý hay vô tình – trong mấy chục năm nay kể từ ngay ngày đầu giải phóng 1975 với “Hội Trí Thức Yêu Nước” ở Thành phố Hồ Chí Minh tức tổ chức quần chúng đầu tiên do Ủy Ban Quân Quản thành lập để quy tụ những người có bằng cấp cử nhân hay thạc sĩ hoặc tiến sĩ của chế độ Sài Gòn có xuất thân chủ yếu là nhà giáo, hoặc bị hiểu chưa đúng khi mà cho đến nay là năm 2014 tức đang ở bậc thềm chuẩn bị kỷ niệm 40 năm quân giải phóng dũng mãnh dẫm chân dẫm đạp dẫm nát “ngụy quân và ngụy quyền” Sài Gòn mà Nhà nước vẫn có chủ trương đưa “trí thức trẻ” – tức các thanh niên vừa tốt nghiệp đại học với tấm bằng cử nhân – về vùng sâu vùng xa làm công chức hành chính, tôi xin có các ý kiến sau để nói rõ và chính xác về “trí thức” để chấn chỉnh sự lạm dụng, sự hiểu chưa đúng, và sự tự phong tào lao của bọn phản loạn tự phong “trí thức và nhân sĩ”.

Trong một bức thư năm ngoái góp ý về giáo dục gởi Thủ Tướng – tôi thường xuyên viết các thư tràng giang góp ý xây dựng đại hải gởi các lãnh đạo Việt Nam và thì thoảng tranh nhau bấm nút phát biểu ngắn ngủn trong 7 phút quy định ở nghị trường – tôi có nêu các định nghĩa sau về các học vị:

“…Ý nghĩa của các học vị: Người Việt Nam thường ít quan tâm đến ý nghĩa thực chất của các học vị nên thường mặc định rằng thạc sĩ cao hơn cử nhân, và tiến sĩ cao hơn thạc sĩ. Thực chất là: văn bằng

- Tú tài: cho biết một người đã được “dạy” tức “giáo dục” đầy đủ để làm một công dân có hiểu biết về mọi tri thức căn bản cho một cuộc sống có bản lĩnh và trách nhiệm. Do đó, trung học thuộc phạm vi của “giáo dục” tức “education”.

- Cử nhân: cho biết một người đã được “đào tạo” xong cho một nghề chuyên môn thuộc một lĩnh vực cơ bản có kèm theo một số những kiến thức phụ trợ có liên quan cùng những kiến thức phụ trợ  không liên quan đến chuyên môn ấy, để có thể làm việc với chuyên môn đó một cách hiệu quả hơn cho cuộc sinh nhai cho chính bản thân. Do đó, đại học (gồm cả cao đẳng) thuộc phạm vi “đào tạo” tức “training”.

- Thạc sĩ: cho biết một người đã học xong những kiến thức chính và phụ trợ theo diện rộng nay tập trung sâu hơn và có liên quan đến một lĩnh vực chuyên môn – mà người ấy đã được đào tạo trước đó để đạt bằng cử nhân –  và sau khi đã làm việc cho chuyên môn đó một thời gian để có kinh nghiệm thực tế hầu đáp ứng các yêu cầu mà chương trình thạc sĩ đặt ra.

- Tiến sĩ: cho biết một người đã có một luận án đạt yêu cầu về một chủ đề từ rất nhỏ đến siêu nhỏ trong một chuyên môn sâu của một lĩnh vực thường liên quan đến chuyên môn người ấy đã theo học thành công ở bậc thạc sĩ. Thí dụ tiến sĩ y khoa với luận án về khu vực x1 của tiểu vùng tâm thất trái, hay tiến sĩ thần học Công Giáo với luận án về Thượng Tọa Bộ của Phật Giáo, hay tiến sĩ văn học sử ở Liên Xô với luận án chứng minh ngày sinh chính xác của Pushkin để chấm dứt một tranh cải lịch sử về việc ông đã được sinh ra 5 phút sau nửa đêm, hoặc Việt kiều yêu nước Trần Thế Độ ở Nhật Bản là tiến sĩ với luận án về một chủng sinh vật thuộc ngành giáp xác, v.v.

Ai trong số những vị có các văn bằng trên được gọi là “trí thức”?

Một người cố lấy cho được bằng tiến sĩ để trở thành tổng giám đốc ngân hàng hay chủ tịch quỹ đầu tư hoặc bộ trưởng hay quan chức, v.v, người ấy không phải là “nhà trí thức.”

Một người cố lấy cho được bằng tiến sĩ để trở thành tấm gương hiếu học cho gia đình dù tuổi đã cao, người ấy không phải là “nhà trí thức.”

Một người cố lấy cho được bằng thạc sĩ hay tiến sĩ – nhất là theo phân công và bằng tiền của nhà nước – để đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa của nhà nước nhằm trở thành cán bộ quản lý đại học với một ít giờ lên lớp giảng dạy cho có với người ta, người ấy không phải là “nhà trí thức.”

Tiến sĩ là người muốn nâng cao trình độ chuyên môn của một chuyên môn bản thân đã theo đuổi từ bậc cử nhân, thạc sĩ, nhằm mục đích duy nhất là trở thành chuyên viên, chuyên gia của một vấn đề nhỏ hoặc cực nhỏ cực sâu thuộc một chủ đề chuyên biệt bên trong một lĩnh vực rộng hơn của một đại dương tri thức đa ngành, chứ không là người đã ôm hết cả đại dương ấy qua tấm bằng “tiến sĩ”, và tất nhiên đó không là tờ hộ chiếu để tự do tự tiện xông vào vương quốc của những “nhà trí thức”.

Một người được gọi là nhà trí thức chỉ khi hội đủ cùng lúc năm điều kiện sau:

1- được đào tạo về một ngành chuyên sâu – tạm gọi là ngành X – với kết quả học tập trên cả khả quan tốt đẹp;

2- trở thành chuyên viên của công việc chính quy chủ yếu có liên quan chặt chẻ với ngành chuyên sâu X ấy và đạt kết quả làm việc trên cả khả quan tốt đẹp;

3- liên tục có các công trình nghiên cứu chuyên sâu có giá trị hàn lâm và/hay ứng dụng có liên quan chặt chẽ với ngành chuyên sâu X ấy và đạt kết quả nghiên cứu trên cả khả quan tốt đẹp nhất là có danh tiếng trong giới thuộc ngành chuyên sâu X ấy trên các tạp chí chuyên ngành của thế giới;

4- là giảng viên chính thức của trường đại học trong và/hay ngoài nước về ngành chuyên sâu X; và nhất là

5- đem những kiến thức thuộc ngành chuyên sâu X ra phổ biến để đào tạo ra đội ngũ kế thừa nhằm vinh danh ngành X, phát triển chính ngành X ấy, cũng như đem chuyên môn ngành X ra cống hiến, phục vụ nhân dân và đất nước để vinh danh đất nước và dân tộc.

Những ý kiến trên tôi đã tỏ bày trong một lần trò chuyện với Thầy Trần Đông A và nhà trí thức ấy đã rất đồng tình.

Như vậy, những “em” vừa tốt nghiệp đại học chưa có việc làm để làm việc thi thố những gì đã được đào tạo tại đại học để tự lo thân cho một “kế sinh nhai”, chưa có tí kinh nghiệm làm việc đối với nội dung chuyên ngành đã được đào tạo ở đại học, chưa có nghiên cứu chuyên sâu có giá trị nào để được nhiều người biết đến, chưa tỏ được lòng yêu nước thương dân qua việc đã đem chuyên môn đã được đào tạo ra phục vụ có hiệu quả, v.v., nay được nhà nước mời về làm công chức hành chính thì làm sao mà là “nhà trí thức” được để mang danh “trí thức trẻ”. Làm gì có chuyện cái gì cũng “trẻ”, có doanh nhân trẻ nên cũng phải có nhà trí thức trẻ cứ như một sự ban phát danh từ danh xưng danh hiệu?

Như vậy, những “cụ” đã tốt nghiệp đại học, đã học xong cao học, hay đã học xong sau đại học, có bằng cấp nhờ tiền của nhân dân, có chức vụ quản lý nhờ phân công của nhà nước, và hưởng các phúc lợi mà nhân dân có đóng thuế không được phép hưởng, trong khi thiếu cả điều 1 điều 2 điều 3 điều 4 điều 5 như liệt kê ở trên, lại có quyền tự phong – với sự vô tư lập lại của báo giới – là trí thức nhân sĩ rồi kiến nghị kêu gào lung tung về nhân quyền, về dân chủ, về tự do, về đủ thứ hằm bà lằng vô thiên lủng thứ ngoại trừ thứ thuộc về lĩnh vực chuyên môn luôn là bí mật quốc gia vì người dân chớ từng nghe đến tên, chẳng hề biết đến ngành mà các “cụ” đã được đào tạo, các công trình nghiên cứu kỳ vĩ các “cụ” đã thực hiện, dù các “cụ” đã ở ngưỡng cửa hoặc ở sau cửa hoặc ở sau bức tường cuối căn nhà mang tên HT (hưu trí hay hết thời nên muốn một lần hét to, hoành tráng, hửi “thơm”).

Ở Sài Thành có kẻ sĩ nọ không rõ tên họ là chi, con cái nhà ai, chỉ biết tu theo Phật pháp lấy hiệu Lăng Tần tuy được các thầy cô kiệt xuất vĩ đại như Nguyễn Quang Tô, Lê Văn Diệm và Trương Tuyết Anh ngợi khen ca tụng, còn được hàng ngàn sinh viên tôn làm thần tượng cho đến tận ngày nay, và tuy bản tính khinh thế ngạo vật có thói quen vỗ bụng trắng hếu kêu bành bạch mà nói “I am second to no one” kiểu Trạng Quỳnh ôm hết mấy bồ chữ, vẫn luôn cúi mặt tủi hổ e thẹn đỏ bừng đôi gò má hóp gầy gò răn reo vì biết sẽ khó đáp ứng được tất tần tật các yêu cầu từ 1 đến 5 để được cái danh nhà trí thức, vậy mà các bầy các đàn các nhóm các nhúm tiểu tốt vô danh bất tài vô dụng và vô hạnh lại cứ tự phong trí thức nhân sĩ thì quả là ngạo mạn còn hơn cả Lăng Tần – mà tiếng Anh có thành ngữ hàn lâm cổ điển là “out-Langtan Langtan” tức… “quá cha Lăng Tần” –  vậy.

Mong sao các “trí thức trẻ” làm công chức hành chính ở các địa phương sẽ trở thành người tiên phong trả lại cho Nhà nước cái danh “trí thức trẻ”, vừa để tỏ mình khiêm nhường có sự hiểu biết đúng đắn về chữ “trí thức”, vừa tỏ sự kính trọng cao nhất đối với nhà trí thức, và vừa giáo dục các bầy đàn trí thức-nhân sĩ biết thế nào là lòng tự trọng.

Trí thức mà chả hiểu ất giáp mô tê khỉ khô gì về ý nghĩa của trí thức, yêu cầu cao vời vợi của nhà trí thức, thì chả khác gì kẻ ăn mày danh hiệu mà thôi.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Kính mời tham khảo blog về Thầy Cô Kính Yêu của Hoàng Hữu Phước: http://hoanghuuphuocteachers.blog.com  (blog duy nhất trên thế giới của một học trò xây dựng riêng về thầy cô yêu kính của chính mình và cho lĩnh vực giáo dục của riêng đất nước kính yêu của chính mình)

Các bài viết tiếp theo trong tuần sau, trân trọng kính mong được độc giả đến đọc và giới thiệu cho nhiều người cùng đọc:

1) Nước Mỹ Bất Hạnh

2) Báo Tuổi Trẻ

3) Thế Nào Là Nhân Quyền

Thế Nào Là Sử Gia

Hoàng Hữu Phước, MIB

Tôi đã có bài viết Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Lịch Sử  đăng trên blog của tôi viết về các Thầy Cô kính yêu của tôi và về giáo dục hồi tháng Ba năm ngoái do thấy tình hình học Sử bi đát như thế mà các người có trách nhiệm cũng như những người có dính dáng đến môn Lịch Sử hoặc tự phong là nhà sử học chẳng thể nêu lên được sách lược gì hữu hiệu hữu dụng hữu ích.

Nay nhân thấy thời gian qua có đấng mày râu nọ tự phong là nhà sử học nhưng toàn làm điều càn quấy, nói toàn điều điêu ngoa, nghĩ toàn điều…điêu đứng; và thấy dường như ý nghĩa của các từ ngữ có liên quan đến “sử” chưa được ghi nhớ cặn kẽ bởi gã ấy và các cháu thiếu nhi, tôi xin cung cấp các thông tin sau về bản chất và thực chất của những gì liên quan đến từ “sử” để giúp các cháu hiểu rõ và chính xác ngôn ngữ tiếng Việt mình, trong đó có kho tàng đồ sộ từ Hán-Việt vốn đã là phần không-bao-giờ-tách-rời của tiếng Việt ta.

Trước hết, những từ như Quan Ngự Sử hay Quan Đô Ngự Sử chỉ những vị quan chẳng dính dáng gì đến môn Lịch Sử. Các vị này tương đương với tên gọi Gián Nghị Đại Phu, có nhiệm vụ duy nhất là can gián khuyến nghị nhà vua nếu nhà vua có hành vi hành động nào có thể không phù hợp với đạo lý và luật pháp, hoặc báo cáo các việc được cho là không phù hợp với đạo lý và luật pháp của các quan lại khác.

Kế đến là các Sử Quan làm việc tại Sử Quán, là chức quan có dính đến môn Lịch Sử vì công việc thường xuyên duy nhất của các vị này là ghi chép những diễn biến hàng ngày của vương triều đương nhiệm để lưu truyền hậu thế, và công việc đột xuất duy nhất của các vị này là thực hiện chiếu chỉ của vua viết nên pho sử của các vương triều quá khứ của đất nước mình. Có bốn điều cần lưu ý là các vị sử quan (1) đều là “tiến sĩ” (2) đều ghi chép cập nhật sự thật diễn tiến mỗi ngày sinh hoạt của vương triều; (3) đều không bao giờ bình luận, đánh giá các biến động lịch sử vì đó là công việc của hậu thế chứ không của sử quan; và (4) không bao giờ lấy các sự việc của lịch sử để “khuyên” vua vì đó vừa là việc của Quan Ngự Sử vừa là việc rồ dại do không vương triều nào chấp nhận “noi gương” vương triều trước đó mà chính họ đã ra tay tiêu diệt.

Thử lấy các chuẩn mực xưa để xem nay như thế nào để nghiệm ra cái xưa và nay.  Hóa ra ở phương Tây – như tôi đã viết rõ trên blog khác – tính chuyên nghiệp cực cao nên (1) về chuyên môn họ có nhiều loại historian tức “sử gia” với nào là sử gia hàng không, sử gia hàng hải, sử gia hàng không mẫu hạm, sử gia vũ khí cổ đại, sử gia vũ khí cận đại, sử gia Thế Chiến I, sử gia thế chiến II, sử gia Chiến Tranh Lạnh, sử gia kiến trúc, v.v.; và (2) họ cũng chỉ lo nghiên cứu, viết sách, và giảng dạy đại học. Không bất kỳ ai trong số họ “khuyên bảo” chính phủ nên theo chủ nghĩa này, theo chế độ kia, có luật này, soạn luật nọ, trên cơ sở bởi tại vì do mấy nước khác theo thế, có thế, và soạn thế. Thậm chí họ không bao giờ đem cái “lịch sử” trị quốc của tổng thống trước đây của chính nước họ để “khuyên” tổng thống đương nhiệm của chính nước họ, huống hồ lấy mấy cái của ngoại bang về làm kim chỉ nam cho nước nhà. Như vậy, sử gia thời phong kiến và sử gia ở tất cả các cường quốc Âu Mỹ đều giống y hệt nhau ở chỗ cái mồm không nói linh tinh, không tư vấn lấn sân, không làm nghề gì khác – nghĩa là nếu làm “nghề chính trị” chẳng hạn làm nghị sĩ quốc hội thì chỉ có thể ghi trên danh thiếp mình là “tiến sĩ” chứ không được ghi là “tiến sĩ sử học” hoặc “sử gia”, và không còn được xã hội và giới truyền thông gọi là sử gia hay… “nhà sử học”.

Cứ như trên mà luận thì mới biết thảo nào Trung Quốc là cường quốc và Mỹ-Anh-Pháp-Đức là cường quốc.

Nhìn lại Việt Nam ta, “nhà sử học” là tên gọi tự phong (cá nhân tự phong hoặc tập thể đàn em tay chân bộ hạ tự phong cho “sếp” theo gợi ý của chính sếp ấy) chứ không do học vị “tiến sĩ sử học” tức có nghiên cứu thật sự thâm sâu về lịch sử thật sự. Mà lịch sử tức là ghi nhận sử liệu của quá khứ, không bao giờ là hiện tại, chẳng bao giờ chắc chắn của tương lai, chỉ dành cho nghiên cứu hoặc tham khảo hoặc củng cố dân tộc tính, do đó chỉ có kẻ điên mới dám luận rằng cách nay cả trăm năm có đoàn người như thế tụ tập như thế ở thành phố như thế ở cái nước như thế để biểu lộ tình cảm như thế nên nay Việt Nam ta phải nên như thế mới là dân chủ tự do, chẳng khác nào nói rằng hàng trăm năm trước các vị vua của ta hay của Tàu dù là minh quân hay bạo chúa đều có lệ các địa phương phải vơ vét bắt gom hết gái đẹp dâng về kinh đô cho vua hưởng lạc thú dâm tình thì nay cũng nên cứ thế mà theo vậy.

Nhìn lại Việt Nam ta, “nhà sử học” là tên gọi khác để né chữ “sử gia” nhưng do tiếng Anh vẫn chỉ có mỗi từ “historian” nên “nhà sử học” vẫn phải cho các đồng nghiệp trên thế giới biết rõ hơn là mình chuyên về “sử” nào, sử Việt hay sử Mỹ, sử máy bay hay tàu chiến, hay sử chính trị của thời nào, v.v. Cứ cái trò chơi khôn láu cá gọi là “nhà sử học” rồi luận bàn đủ thứ, lôi đủ thứ chi tiết của quá khứ từ nước này nước nọ nước kia để phát biểu vung vít thì ắt là nên chỉnh lại danh xưng là “nhà đủ-thứ-sử học” mới có thể sánh vai cùng các sử gia của bốn bể năm châu, đồng thời dằn mặt thiên hạ chốn trần gian rằng thì là mà ở Việt Nam không có nạn tôn trọng “từ chương” đâu, nên ta tuy chưa mon men đến bực thềm của giới hàn lâm “tiến sĩ” như các vị Sử Quan thời phong kiến nhưng vẫn có “nhà” hẳn hoi.

Nói tóm lại cho các cháu học sinh dễ nhớ: đã là “historian” tức “sử gia” hay “nhà sử học” chính quy chính thức chính đạo thì chỉ dạy môn Sử, viết sách sử, tham gia nghiên cứu sử, chứ không bao giờ lôi “sử” ra để dạy đời, phục vụ cho động cơ chính trị của cá nhân, vì rằng mục đích hàn lâm của môn Lịch Sử là tìm cho ra và cung cấp các ghi nhận chính xác về những sự thật có kiểm chứng đã xảy ra trong quá khứ của một dân tộc, của một ngành, hay của một vấn đề nào đó – kể cả tôn giáo, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu sử của các thế hệ hiện nay và mai sau. Nhà sử học mà mở mồm nói miên man qua lĩnh vực khác môn sử và/hay phục vụ mục đích khác môn sử thì đích thị chỉ là kẻ mạo danh, không bao giờ là nhà sử học.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Nhân Quyền Việt Nam

Nhân đọc trang Emotino thấy có bài viết của Cô Lại Thu Trúc về chủ đề dân quyền mà Cô sử dụng nội hàm lồng ghép của nó trong hai từ riêng biệt là “nhân quyền” và “quyền công dân”, tôi nhớ lại bao lần trong mấy chục năm nay đã (và vẫn đang) viết góp ý cho các lãnh đạo Đảng, Quốc Hội, Nhà Nước, và Thành phố, và đã từng đưa nội dung một số công văn trả lời tiêu biểu để minh họa cho các bài viết của tôi trên các blog. Dưới đây là bài viết của Cô Trúc mới đăng sáng nay và tôi chép lại để giới thiệu cách mà tập thể thật đông đảo người Việt yêu nước và có năng lực đã luôn làm để thực thi dân quyền, để hưởng thụ nhân quyền, và để thể hiện đúng đắn nhất quyền công dân: góp ý xây dựng, góp ý xây dựng, và góp ý xây dựng. 

Hoàng Hữu Phước

***********

Lại Thu Trúc, 04-02-2014

Quyền con người và quyền công dân của Việt Nam đã được ngày càng nâng cao và có vị trí trang trọng trong bản Hiến Pháp 2013 vừa được Quốc Hội thông qua.

Với kinh nghiệm cá nhân qua việc gửi hai lá thư ngày 02/10/2006 và ngày 02/02/2007 đến Thủ Tướng và các vị lãnh đạo Đảng và Nhà Nước, tôi biết mình luôn đúng khi tin rằng các ý kiến đóng góp xây dựng đất nước xuất phát từ lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm của bất kỳ công dân Việt Nam nào cũng đều được các lãnh đạo trân trọng tiếp nhận.

Kính mời Cộng đồng Doanh Nghiệp Emotino xem trích đoạn nguyên văn hai lá thư nêu trên với niềm tin vào sự phát triển tất yếu của Việt Nam khi tất cả người dân luôn đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên quyền lợi cá nhân.

Trích đoạn lá thư gửi ngày 02/02/2007 đến Thủ Tướng và các Vị Lãnh Đạo Việt Nam

Chủ đề tham gia: Giải pháp phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam từ năm 2007

Kính thưa Thủ Tướng,

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, kính trình bày cùng Thủ Tướng một số ý kiến và những đề xuất liên quan đến nội dung phát triển nền kinh tế Việt Nam trong năm 2007 và những năm tới.

Vào ngày 02/10/2006 tôi có gửi một thư viết với chủ đề (a) Một số kiến nghị liên quan đến các Chính sách hiện nay, (b) Giải pháp phát triển Kinh Tế Việt Nam, và (c) Tiến cử nhân tài, theo dịch vụ bưu điện đến Thủ Tướng và các vị Lãnh đạo Nhà nước .

Nay tôi rất vui khi Chính Phủ Việt Nam mà tiêu biểu là Thủ Tướng đã tạo cơ hội cho mọi công dân Việt Nam được giao lưu trực tuyến cùng Ngài để có được cơ hội đề xuất những ý kiến vì một mục đích chung nhằm phát triển nền kinh tế quốc gia; do đó, tôi xin được theo gương những công dân khác kính trình lên Thủ Tướng bức thư này để trình bày cùng Ngài các ý kiến sau, xuất phát từ lòng chân thành và tâm huyết của một công dân Việt Nam bình thường luôn tự hào về đất nước, về dân tộc Việt Nam.

A. Giá Trị Thực Của “Cơ Hội”

Sau sự kiện trọng đại Việt Nam gia nhập WTO chúng ta vẫn thường được nghe các cụm từ “mở ra một giai đoạn đầy thách thức và cơ hội cho các Doanh Nghiệp Việt Nam”, v.v. Theo ý kiến cá nhân của tôi ở bất kỳ thời điểm nào và cho dù chúng ta có gia nhập WTO hay không thì một doanh nghiệp kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động thì đã luôn đối đầu với các thách thức để có thể tồn tại và luôn cần phải chọn lựa các cơ hội để phát triển. Điều quan trọng là sau khi đã gia nhập WTO bước vào sân chơi chung với nhiều quy luật mới mẻ của cuộc chơi, tư duy của cấp lãnh đạo các doanh nghiệp Việt Nam có những thay đổi gì để có thể “nghĩ đúng để rồi làm đúng” đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển một cách lành mạnh và bền vững.

Cơ hội thì không chỉ đến một lần, ngay cả một cá nhân đứng ra kinh doanh có thể sẽ có lúc thất bại nhưng nếu có định hướng đúng, có năng lực, có đủ uy tín trên thương trường và cộng với lòng quyết tâm thì vẫn có thể làm lại từ đầu và sẽ thành công. Một doanh nghiệp cũng vậy, nếu không có định hướng đúng thì có thể sẽ phát triển “bùng nổ” trong một giai đoạn ngắn rồi sau đó là sa lầy và thất bại. Do vậy không nhất thiết phải có sự nóng vội vì nếu bỏ qua cơ hội này sẽ có lúc bắt gặp cơ hội khác, còn sự vội vàng lao vào cuộc chơi mà không chuẩn bị kỹ lưỡng thì chỉ cần một lần đối mặt với “rủi ro” là sẽ có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu những doanh nghiệp với quan điểm phải làm sao có thật nhiều lợi nhuận và có lợi nhuận thật nhanh sẽ dẫn đến cách làm ăn chụp giựt dẫn đến những vụ án lừa đảo kinh tế và có thể dẫn đến sự “xem nhẹ” của các đối tác nước ngoài nếu các doanh nghiệp đó có quan hệ với phiá nước ngoài.

Tương tự trên bình diện đất nước, tôi cho rằng nếu chỉ phấn khởi hăng hái lao vào đón các vận hội mới mà không đồng thời tập trung triệt bỏ tiêu cực, thì chẳng khác gì treo đèn kết hoa cho một căn nhà mà nền móng chưa được gia cố. Chính vì thế theo tôi điều cần làm hiện nay là phải cùng nhau dọn rác trong thời gian ngắn nhất trước khi tập trung toàn lực vào việc phát triển nền kinh tế đất nước, nếu không về sau số rác này sẽ hủy phá những nỗ lực dựng xây nền kinh tế. Những biện pháp gia cố hiệu quả cho nền móng phát triển kinh tế quốc dân có thể bao gồm những biện pháp giản đơn như triệt để loại bỏ tiêu cực và trọng dụng nhân tài, với ý nghĩa nhân tài do Đảng và Nhà Nước phát hiện, thỉnh mời, chứ không phải sử dụng tiền của dân để gởi toàn con cháu các quan chức gởi đi du học nước ngoài “đào tạo nhân tài”, đồng thời nhân tài phải không do Đảng Tịch quyết định.

B.  Giá Trị Thực Của “Báo Cáo”

Thực trạng chung của các doanh nghiệp nói riêng và bức tranh toàn cảnh của xã hội Việt Nam nói chung trong thời gian qua vẫn nhiễm trầm trọng căn bệnh báo cáo thành tích. Nếu tất cả các doanh nghiệp, các cơ quan đều có chủ trương không báo cáo hoặc báo cáo ngắn gọn về những thành tích đã đạt được, và tập trung báo cáo về những thất bại, chưa hoàn thành, hay chưa thể làm được kèm theo những viện dẫn các lý do, đề xuất các phương án hay kế hoạch thật chi tiết để khắc phục hay hoàn thành những tồn đọng đã liệt kê ấy,  thì chắc chắn đó sẽ là hướng làm đúng, giúp Thủ Tướng và Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn vì Chính phủ không còn là nơi mọi cơ quan và mọi doanh nghiệp đổ dồn các vấn nạn khó khăn về xin Thủ Tướng chỉ đạo giải quyết từ việc lớn đến việc nhỏ, kể cả những việc thuộc thẩm quyền giải quyết theo chuyên môn của các cơ quan và trên nguyên tắc phân quyền. 

C. Giá Trị Thực Của “Chống Tham Nhũng”

Thời gian qua Chính Phủ đã kêu gọi toàn dân chống tham nhũng, trong ngành giáo dục thì chủ trương nói không với tiêu cực và bệnh thành tích, về mặt xã hội thì có những chính sách xoá đói giảm nghèo, phát triển đất nước. Vì sao chúng ta phải chống tham nhũng? Vì sao chúng ta phải chống tiêu cực? Vì sao phải có những chính sách hỗ trợ dân nghèo? Thực trạng rất đau lòng đất nước ta ngày càng phát hiện ra nhiều vụ án tham ô, đốt tiền dân tiền nước, còn ở ngành này ngành nọ – kể cả ngành giáo dục – thì bị phát hiện ra vô số trường hợp dối trên lừa dưới cũng chỉ vì bệnh thành tích. Trong khi chủ trương của Chính Phủ ta luôn vì dân, vì nước và có những đối sách lành mạnh thì cấp trung gian thực hiện của nhà nước lại không đủ tài, kém năng lực giám sát, hoặc cố ý làm sai , sinh ra lắm điều tiêu cực.

Theo tôi, để nền kinh tế xã hội Việt Nam phát triển một cách lành mạnh và bền vững thì nhất thiết cần có các chính sách “chống tham nhũng, chống tiêu cực” mang tính rốt ráo, triệt để, cụ thể, cứng rắn; đồng thời ghép chung chuẩn mực Khổng-Mạnh vào tiêu chuẩn đạo đức cách mạng khi bố trí cán bộ cao cấp. Ở Singapore đường phố luôn sạch sẽ vì người dân có ý thức không xả rác nơi công cộng. Chính vì thế điều quan trọng đối với Việt Nam là làm sao cho mọi người có ý thức luôn làm chủ hành vi và hành động với lương tâm và trách nhiệm công dân đối với xã hội, vì lợi ích của cộng đồng. Chúng ta không chỉ hô hào, kêu gọi suông, mà phải thể hiện nơi mỗi cán bộ lãnh đạo các cấp đều là những người đã thành công trong “tu thân” và “tề gia” để bản thân là những tấm gương sáng cho toàn dân noi theo. Chính phủ kêu gọi chống lãng phí nhưng nếu người dân vẫn thấy có nhan nhản những vị chức sắc dùng tiền nhà nước để ăn xài phung phí, yến tiệc linh đình, xe công với những trị giá ngất ngưởng, và thường xuyên thay thế trang trí nội thất mua sắm đủ thứ mỗi khi có thay thế lãnh đạo, v.v., thì lời kêu gọi sẽ mãi là sự kỳ vọng, và cứ như vậy thì lòng tin của người dân vào lãnh đạo, vào Chính phủ, vào Đảng, sẽ bị triệt tiêu………. Tôi chỉ nghe ca ngợi gương sáng tiết kiệm và bình dị của nguyên thủ các nước phương Tây, như Cố Thủ Tướng Olaf Plamer, vị lãnh đạo đã hết lòng ủng hộ Việt Nam từ những năm chiến tranh chống Mỹ, chứ chưa thấy báo chí Việt Nam đưa được một cái tên bất kỳ một quan chức Việt Nam nào thanh liêm, công bằng, chính trực, hết lòng vì quốc pháp, mà chỉ thấy nhiều vụ việc cỡ Thứ Trưởng Mai Văn Dâu và con cái của ông ta, người đã không “tu thân” và đã không “tề” được “gia”, nhưng được Chính phủ giao trọng trách “trị quốc” nên đã không sao “bình thiên hạ” được.

D. Giá Trị Thực Của “Giám Sát”

Sau hơn 6 năm hoạt động thị trường chứng khoán gần đây chúng ta thấy báo chí thường đăng tải các thông tin Ủy Ban Chứng Khoán Nhà nước đang thành lập các guồng máy giám sát thị trường chứng khoán Việt Nam. Điều này rất tốt vì sẽ hạn chế được các tiêu cực phát sinh dẫn đến sụp đổ lòng tin của các nhà đầu tư vì đại đa số các nhà đầu tư Việt Nam là đầu tư theo kiểu bầy đàn nên sẽ gánh chịu nhiều rủi ro nếu thị trường có xu hướng phát triển theo kiểu “thao túng”. Tuy nhiên, chính sách cho việc giám sát thị trường chứng khoán nói riêng và của toàn nền kinh tế Việt Nam nói chung vẫn chưa có hiệu quả cao. Chúng ta không thể phát triển tăng tốc nếu cứ theo kiểu bế quan toả cảng, chính vì thế Việt Nam mới gia nhập WTO nhưng chúng ta cũng có thể sẽ bị ở trong tình trạng phải đối phó những thách thức mà lẽ ra đã không có quá nhiều thách thức đến thế nếu như chế độ giám sát của chúng ta được hình thành và vận hành một cách kịp thời, nhanh chóng và hiệu quả.

Điều quan trọng hiện nay không chỉ là làm thế nào để phát triển nền kinh tế Việt Nam trong năm 2007 mà là cần phải làm thế nào để xây được một nền móng vững vàng hơn để có thể cất cánh bay cao và bay xa trong nhiều năm sắp tới. Chúng ta không thể cứ tiếp tục xây thêm thật nhiều tầng lầu cho một căn nhà có một nền móng chưa được gia cố vững vàng, mà hậu quả thì bất kỳ ai cũng có thể lường trước được. Muốn phát triển nền kinh tế nước nhà, những “kêu gọi” hay “hoạch định” phải có tính kiên định và kiên quyết, xây dựng đất nước với tinh thần những ngày toàn quốc kháng chiến. Một nước Nhật tan nát sau Đệ Nhị Thế Chiến đã trở thành một thế lực tài chính toàn cầu, chỉ nhờ họ làm kinh tế với lòng quyết tâm những hậu duệ của các “thần phong”. Không thể mãi để nhục quốc thể khi những người trong chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đã hợp đồng tác chiến tuyệt diệu đẫn đến Chiến Thắng Mùa Xuân 1975 của Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử, lại “chơi trác” nhau, “không nhìn mặt” nhau, dẫn đến ngay chỉ tại TP Hồ Chí Minh mà việc đào phá đường sá và hoang phí tiền bạc của dân tiếp tục diễn ra suốt hơn 30 năm qua của các cơ quan điện, nước, và bưu chính viễn thông, là những cơ quan chẳng bao giờ có “hợp đồng tác chiến”, còn Ủy Ban Nhân Dân TP Hồ Chí Minh thì cũng chẳng có được cái uy một “tổng tư lịnh” để giám sát và quản lý chính những cơ quan trực thuộc này.  Lòng tin của người dân bị xói mòn nghiêm trọng, biến cảnh người dân vi phạm luật giao thông rụt rè biết lỗi mỗi khi bị cảnh sát giao thông chặn xe phạt vi phạm như trong thời gian 1975-1985, thành cảnh gây gổ căng thẳng giữa người dân vi phạm và cảnh sát lập biên bản trên đường phố TP Hồ Chí Minh hiện nay.  Nếu không có được sự nghiêm minh từ trên, thì sẽ khó có được sự yên ổn trật tự trong xã hội, mà không có sự yên ổn đó thì sẽ không có được cơ sở cho sự phát triển kinh tế nước nhà.

E. Giá Trị Thực Của “Hỗ Trợ Doanh Nghiệp”

Việc xuất khẩu ra nước ngoài theo tôi cần tập trung một số ngành chủ lực làm mũi nhọn, không chủ trương xuất thật nhiều mà ở chỗ sẽ có bao nhiêu phần trăm lợi nhuận đem về cho đất nước trong các thương vụ xuất khẩu. Chúng ta chưa đủ tài lực để thực hiện giống như các tập đoàn đa quốc gia tung tiền ra thật nhiều để bằng mọi giá chiếm thị phần và xây dựng thương hiệu. Thế nên trước mắt chúng ta cần đạt được lợi nhuận ở mức tốt nhất có thể được chứ không bắt buộc phải là cao nhất trong các hợp đồng ngoại thương. Khi đã xây dựng được nội lực lớn mạnh, vị thế đàm phán của Việt Nam sẽ được nâng lên tương ứng. Nội lực có được cũng sẽ nhờ vào sự thành công của các doanh nghiệp, mà các chính sách chủ trương của Chính Phủ đóng vai trò cực kỳ quan trọng, trong đó cơ chế hỗ trợ vốn vay thông thoáng hơn của Ngân Hàng Nhà Nước trên cơ sở dự án khả thi và uy tín của cá nhân chủ doanh nghiệp, theo đó, tài sản thế chấp sẽ không còn là điều tiên quyết. Gần đây có công ty quản lý quỹ đầu tư nước ngoài đề ra giải hỗ trợ nguồn vốn “không-lãi-suất-vay” cho cá nhân hay tập thể nào của Việt Nam có kế hoạch kinh doanh thuyết phục bảo đảm đạt doanh số 20 triệu USD sau 5 năm hoạt động, trong khi các cơ quan tài chính của nước ta lại không quan tâm đến việc doanh nghiệp sẽ tạo nên sự nghiệp gì mà chỉ tập trung nắm giữ tài sản hữu hình của doanh nghiệp trước khi cho vay vốn “có-lãi-suất” mà việc trả vốn vay khó thể đảm bảo sự bức phá vượt lên nhanh của doanh nghiệp.  

F. Giá Trị Thực Của “Trọng Dụng Nhân Tài”

Như đã nêu ở trên như một yếu tố quan trọng trong “trọng dụng nhân tài”, vấn đề mà nguyên Thủ Tướng Singapore Lý Quang Diệu đề cập đến trong buổi tiếp kiến gần đây với Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết như nội lực biến Singapore hùng mạnh, tôi xin có ý kiến về những biện pháp hay của ngàn xưa, được Ông Lý Quang Diệu áp dụng thành công, nhưng chưa thấy phát huy ở Việt Nam. Số lượng giáo viên nhân dân và giáo viên ưu tú gia tăng theo số năm tháng qua đi, nhưng chất lượng giáo dục Việt Nam vẫn dậm chân tại chỗ hoặc thậm chí tụt hậu, thậm chí nhiều Cử nhân Anh Văn không nói được tiếng Anh như báo chí đã nêu; số lượng kỹ sư cầu đường và kiến trúc ngày càng tăng, nhưng chất lượng công trình thật đáng xấu hổ; và số lượng dược sĩ ngày càng nhiều nhưng chỉ làm gia tăng giá thuốc và thậm chí thuốc tây nhập về lại là thuốc gỉa. Rõ ràng là đã có vấn đề trong đào tạo, tuyển dụng, và bố trí cán bộ lãnh đạo, hoặc trong việc trao giải tôn vinh “nhân tài”. Tôi chưa thấy Đảng và Chính Phủ đã phát hiện đựợc nhân tài nào trong nhân dân, đã mời thỉnh nhân tài như thế nào. Đến nay, Đảng tịch vẫn là điều tiên quyết, và nếu có sử dụng “người tài” thì cũng chỉ là các bậc uyên bác như các cựu quan chức cao cấp về kinh tế của Chế Độ Sài Gòn.

Không nhất thiết việc “trọng dụng nhân tài” phải gắn với sự tiêu tốn tiền của nhà nước hay  bố trí chức vụ hoặc chức danh. Chỉ cần Thủ Tướng dành thời gian tiếp xúc với các “nhân tài” do cá nhân người dân tiến cử (các đoàn thể đã tiến cử rất nhiều “nhân tài” trong suốt hơn 30 năm qua nhưng dường như vẫn không có hiệu quả gì, vì chưa hề có một công bố nào về một “nhân tài” nào đó đã giúp ích cụ thể gì cho kế sách làm quốc gia hùng mạnh, nên mong Thủ Tướng xem xét không những lắng nghe ý kiến cá nhân người dân mà còn nên quan tâm đến người do cá nhân người dân tiến cử)………

Trích đoạn lá thư gửi ngày 02/10/2006 đến Thủ Tướng và các Vị Lãnh Đạo Việt Nam

v/v:  Đề Xuất Một Số Ý Kiến Về Phát Triển Nền Kinh Tế Việt Nam 

Kính thưa Quý Ngài,

 

Tôi ký tên dưới đây là Lại Thu Trúc, kính trình bày cùng Quý Ngài một số ý kiến và những đề xuất nhằm phát triển nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Trong thời gian gần đây Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực được thể hiện qua tốc độ tăng trưởng kinh tế gia tăng, có thêm nhiều bộ Luật mới được ban hành, cũng như những kết quả khả quan đạt được qua quá trình đàm phán tích cực cho việc chuẩn bị gia nhập WTO, v.v..  Song, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những tiêu cực chưa biết đến bao giờ mới được giải quyết dứt điểm như vụ án PMU 18, hoặc các vụ bê bối trong lĩnh vực giáo dục, hay việc một số viên chức nhà nước lạm quyền, tham nhũng.

Điểm quan trọng ở đây là Chính Phủ đã nêu rõ quyết tâm xoá bỏ tiêu cực, phát triển đất nước. Mục tiêu mà Đảng và Nhân dân Việt Nam hướng đến là làm cho Việt Nam trở thành một “Con Rồng Châu Á”. Là một công dân Việt Nam tôi xin kính trình lên Quý Ngài một số ý kiến đề nghị của cá nhân tôi đối với vấn đề to lớn của đất nước trong phát triển nền kinh tế nước nhà, với  nội dung sơ lược như sau :

 

A. Một số kiến nghị liên quan đến các Chính sách hiện nay.

1.Chính sách thuế

2.Chính sách cấp giấy phép hoạt động các công ty kinh doanh và cấp giấy phép hành nghề

3.Chính sách quản lý con người

4.Chính sách giáo dục

5.Chính sách y tế

6.Chính sách ngoại hối

7.Chính sách hải quan

8.Chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng

B. Giải Pháp phát triển Kinh Tế Việt Nam.

C. Tiến Cử Nhân Tài

………….

Được sự truyền dạy và khuyến khích của Thầy tôi – Ông Hoàng Hữu Phước trong suốt nhiều năm qua tôi đã tích cực gửi nhiều thư đóng góp ý kiến hoặc đề xuất giải pháp đến các vị lãnh đạo Việt Nam. Các bản đóng góp của tôi luôn có lời lẽ đúng mực, chân thành và nội dung bao gồm cả các lĩnh vực mà dư luận vẫn hay cho là “nhạy cảm” nhưng tôi chưa bao giờ gặp bất kỳ hệ lụy hay khó khăn gì sau mỗi lần gửi thư góp ý. Điều này không chỉ là minh chứng Việt Nam thật sự là đất nước nơi không có bất kỳ rào cản nào trong “tự do ngôn luận” miễn là các phát biểu hay thư góp ý phải chân thành, có tính xây dựng, tôn trọng chân lý, tôn trọng đạo lý, và nhất là trên cơ sở đúng bản chất một bản góp ý vốn luôn là nét văn hóa cao nhất mà người công dân bất kỳ quốc gia nào cũng luôn phải thể hiện trong nội dung mình muốn đệ trình cấp có thẩm quyền cao nhất của nước nhà.

Lại Thu Trúc

http://www.emotino.com/bai-viet/19874/nhan-quyen-viet-nam

Tết Mậu Thân 1968

Hoang Huu Phuoc, MIB

Trong lịch sử cận đại Việt Nam có một chương mà Việt Nam Cộng Hòa gọi là “biến cố Tết Mậu Thân”. Là cư dân Sài Gòn từ lúc lọt lòng mẹ tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ năm 1957, đến khi Má tôi hạ sinh em gái thứ sáu của tôi tại Bảo Sanh Viện Hồng Đức trên đường Cao Thắng vào lúc tiếng súng vang rền khắp phố thị Sài Gòn trong s kiện mà Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam gọi là Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Tết Mậu Thân, tôi cùng chị, em gái, và em trai được Ba dẫn vô Bảo Sanh Viện ấy trú ẩn. Khi chiến sự đã yên, chúng tôi trở về nhà với thành viên mới đang khóc oe oe. Và trên tivi những tay tâm lý chiến bắt đầu sử dụng nhạc của bài Exodus làm nền cho các phim phóng sự về cái gọi là “tội ác của cộng quân” trong việc hành hình và chôn sống hàng vạn người dân vô tội tại Huế.

Điều kỳ lạ thứ nhất là sau khi thất trận, dường như vì Mỹ hết hồn hết vía chạy tán loạn, máy bay trực thăng nhắm Biển Đông lao ra để rồi tự rơi xuống biển khi hết xăng do bay vòng vòng quanh các hàng không mẫu hạm mà không có chỗ trống nào để đáp xuống dù mẫu hạm đã xô hết máy bay xuống biển biến hàng không mẫu hạm thành mẫu hạm không hàng, còn hàng hàng lớp lớp soái hạm và chiến hạm cùng hàng không mẫu hạm phóng hết tốc độ trốn khỏi Biển Đông, nên quên phéng hai việc quan trọng là (1) Việt Cộng chỉ có ghe để vung tay chèo truy sát chiến hạm Hoa Kỳ, và (2) từ 1975 cho đến tận ngày nay không nhớ là có cái gọi là “tội ác” của cộng quân trong “biến cố Tết Mậu Thân”.

Điều kỳ lạ tiếp theo là sau khi thất trận, dường như vì quân tướng Việt Nam Cộng Hòa hết hồn hết vía cởi bỏ quân phục, vất bỏ quân trang, chạy tán loạn với chân đất và quần lót, về Sài Gòn chen chúc đu càng máy bay trực thăng nhắm Biển Đông lao ra để đứng chen chúc trên các hàng không mẫu hạm đã bị biến thành mẫu hạm không hàng, qua đến Mỹ mà sự run sợ vẫn còn đến độ quên phéng cho đến tận ngày nay không nhớ là có cái gọi là “tội ác” của cộng quân trong “biến cố Tết Mậu Thân”.

Cũng vì hai điều kỳ lạ trên mà bất kỳ ai đoan chính, có học thức, có trí tuệ, đều phải hồ nghi, lấy làm lạ vì cả Mỹ và nhóm tướng tá Việt Nam Cộng Hòa đều thi nhau chửi Việt Cộng, chẳng hạn như Nguyễn Văn Thiệu chuồn ra nước ngoài xong là ra rả luôn mắng Việt Cộng vi phạm nhân quyền, xâm hại dân quyền, chứ không nhắc gì tới “tội ác Việt Cộng” hồi “biến cố Tết Mậu Thân 1968”, còn giới chóp bu Mỹ thì tự nhiên như gà mắc tóc không dám gọi cộng sản Việt Nam là gây tội ác diệt chủng, chống lại nhân loại, tàn sát nhân dân, để đem vụ việc ra tòa án quốc tế. Chắc chắn không phải vì Mỹ sợ lỡ làm Việt Nam nổi giận đưa quân nhảy ùm xuống nước bơi vượt biển Thái Bình qua tấn công Mỹ quốc, giải phóng Hoa Kỳ, cắm cờ đỏ sao vàng trên nóc điện Capitol. Chắc chắn không phải vì mấy ông tướng tá Việt Nam Cộng Hòa lưu vong ở Mỹ nhát gan, thấy chủ nhân không nhắc đến thì phận tôi đòi sao dám qua mặt chủ. Thế thì sự thật ở đâu, và vì sao Mỹ và đám tướng tá lưu vong ấy từ 1975 đến 2013 không dám nói gì về cái gọi là “tội ác của cộng quân” hồi “biến cố Tết Mậu Thân”?

Sự thật kinh hoàng do nhà báo Mỹ D. Gareth Porter nghiên cứu, phơi bày trong bài viết tựa đề “Vụ Thảm Sát Tại Huế Năm 1968” đăng trên tạp chí Indochina Chronicle, số 33, ngày 24-6-1974, tức một năm trước ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa do Mỹ hậu thuẫn sụp đổ trở thành vết nhơ tủi nhục về quân sự vô tiền khoáng hậu trong toàn bộ lịch sử nhân loại từ lúc khai thiên lập địa đến ngày tận thế. Hồ nghi về số liệu “khủng” do các tay chiến tranh chính trị của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa đạo diễn và biên soạn, Porter đã bỏ công kiếm tìm các nhân chứng gồm các sĩ quan Mỹ và bác sĩ quân y, để đưa ra kết luận từ đó khiến chính quyền Mỹ và phe chống Cộng ở hải ngoại phải câm miệng không bao giờ dám nhắc đến “tội ác cộng sản”. Hóa ra số thương vong của người dân là do bị bom của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa tấn công liên tục cả tháng trời nhằm tiêu diệt quân giải phóng, rằng dân chúng rất nhiều người vì ủng hộ cộng sản đã ở lại Huế giúp quân giải phóng nên đã trở thành đối tượng để bị quân Cộng Hòa sát hại theo lịnh Nguyễn Văn Thiệu khi tái chiếm Huế; rằng các xác chết trong hố tập thể đều có vết tích của bom Mỹ, các dây trói theo kiểu do quân đội Hoa Kỳ chuyên nghiệp đào tạo, và theo pháp y việc trói xảy ra sau khi người đã chết vài ngày do đó không phải do Việt Cộng xử tử hình; còn các hố tập thể phát hiện bên ngoài Huế là do các chiến sĩ Việt Cộng đã không bao giờ bỏ lại xác của đồng đội đã hy sinh mà cố đem theo cho bằng được dù do đạo lý của quân giải phóng hay đơn giản không muốn đối phương làm nhục thi thể đồng đội hay có số liệu về thương vong của quân giải phóng. Porter cho rằng:

“Vấn đề mà các nhà sử học phải cân nhắc về thời gian Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam chiếm giữ Huế không phải là các vụ tử hình có xảy ra hay không, mà là chúng đã là các hành động bừa bãi hay là kết quả của một sự “thanh trừng” có kế hoạch đối với toàn xã hội – như các chuyên gia chiến tranh chính trị (political warfare specialists) của các chính quyền Mỹ và Sài Gòn. Cũng quan trọng tương đương là câu hỏi cái gì đã gây ra cái chết cho hàng ngàn thường dân Huế trong các trận đánh trong thành phố, Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam hay bom và pháo của Mỹ

Các bằng chứng hiện có – không phải từ các nguồn của MTGPDTMN mà là từ các tài liệu chính thức của Mỹ và Sài gòn và từ các quan sát viên độc lập – cho thấy rằng câu chuyện chính thức về một vụ tàn sát bừa bãi những người được coi là không đi theo phía MTGPDTMN là một sự ngụy tạo hoàn toàn. Không chỉ số lượng tử thi được phát hiện ở trong và quanh thành phố Huế đang để ngỏ cho các câu hỏi, mà quan trọng hơn, nguyên nhân của cái chết có vẻ như đã bị dịch chuyển từ chính trận đánh sang chuyện tử hình của MTGPDTMN. Và các tường trình “có thẩm quyền” và chi tiết nhất về các vụ được cho là tử hình được kết nối với nhau bởi chính phủ không đứng vững trước thẩm tra.

Ngày nay, hiểu biết về các kỹ thuật bóp méo và diễn đạt sai mà các nhà tuyên truyền của Sài Gòn và Mỹ thực hành trong khi tạo dựng một chiến dịch chiến tranh chính trị từ thảm kịch của Huế cũng có tầm quan trọng trong kém khi quân Mĩ vẫn còn tham chiến tại Việt Nam. Nó đi vào tận gốc rễ của vấn đề đối mặt với sự thật về cách mạng Việt Nam và các nỗ lực của Mỹ nhằm trấn áp nó bằng vũ lực. Tầm màn sai trái được dựng lên quanh cuộc Tổng tấn công Mậu Thân tại Huế đã và sẽ là một cơ chế phòng vệ khác của chính phủ Mỹ cũng như phần lớn công luận Mỹ để tránh phải đối mặt một cách thành thực với tính chất thực của cuộc đấu tranh ở đó.”

Cũng theo Gareth Porter, Alje Vennema, một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng Ngãi và đã tình cờ có mặt tại Bệnh viện Huế trong thời gian xảy ra sự kiện Tết Mậu Thân, nói tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức.

Đối với người có học vấn cao về ngôn ngữ Anh ở Việt Nam Cộng Hòa, không ai không biết đến Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ trường phái “phái sinh” người Mỹ. Đối với sinh viên Hà Nội ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không ai dễ dàng quên Noam Chomsky, giáo sư ngôn ngữ trường phái “phái sinh” người Mỹ đã đến Hà Nội trong thời gian chiến tranh. Và chính Noam Chomsky đã vì ấn tượng về những con người cộng sản Việt Nam mà lập ra nhóm điều nghiên về cái gọi là “tội ác Việt Cộng” trong cái gọi là “biến cố Tết Mậu Thân”. Trong những công trình của Ông, có đoạn viết sau:

“Thứ Trưởng Không Quân Mỹ Townsend Hoopes viết trong cuốn The Limits of Intervention, trang 141, về quân đội Mỹ và VNCH đã làm gì ở Huế, tàn sát bao nhiêu dân, phá hủy bao nhiêu nhà cửa v…v.. ‘80 phần trăm nhà cửa bị phá hủy thành đống gạch vụn, và dưới những đống gạch vụn đó là 2000 thường dân bị chết (vì bom đạn của Mỹ và VNCH). Ba phần tư dân chúng trở thành vô gia cư và cướp bóc lan tràn, những quân sĩ thuộc quân lực VNCH là những kẻ tệ nhất” (Eighty percent of the buildings had been reduced to rubble, and in the smashed ruins lay 2.000 dead civilians. Three-quarters of the city’s people were rendered homeless and looting was widespread, members of the ARVN being the worst offenders).

Bọn chống cộng hiện nay đang kêu gào về “Tết Mậu Thân” vì bốn lý do:

1- Chúng là bọn sinh sau đẻ muộn không biết gì về Tết Mậu Thân

2- Chúng là bọn người Mỹ gốc Việt dốt tiếng Anh nên không thể đọc-hiểu các công trình nghiên cứu của Noam Chomsky và Porter dù các kết quả nghiên cứu đã ấn hành từ măm 1973

3- Chúng là bọn người Mỹ gốc Việt lầm tưởng rằng giới trẻ ở Việt Nam dốt tiếng Anh như chúng nên chúng định đem vụ “Tết Mậu Thân” ra mà bịp mọi người, đồng thời che đậy tội ác kinh tởm của các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa

4- Chúng là bọn người Mỹ gốc Việt lầm tưởng rằng có thể gây khó khăn cho chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ với cái trò vớ vẩn bù lu bù loa về “Tết Mậu Thân” mà không có đủ ánh đèn pin trí tuệ để hiểu rằng đừng nên động vào nỗi nhục đớn hèn của Mỹ đã muối mặt cố im mồm trong mấy chục năm qua không dám nhắc đén hai chữ “Mậu Thân”, vì đã trót dại hậu thuẫn cho bọn Nguyễn Văn Thiệu vừa tàn ác, vừa làm mất mặt “chủ nhân”.

Để luôn thực hiện phương châm “nói có sách, mách có chứng” vốn là chuẫn mực luôn hiển hiện nơi cung cách nhà trí thức “thứ thiệt”, nhà …nhân sĩ “thứ thiệt”, và người có học vấn cao “thứ thiệt”, người viết bài này xin giới thiệu các nguồn tư liệu sau của các tác giả Mỹ có uy tín và được thế giới kính trọng:

Tiếng Việt:

- Chuyện Hoang Đường Vụ Thảm Sát Ở Huế 1968 của Noam Chomsky và Edward S. Herman. Bản dịch của Lê Hồng Phong. Nguồn: http://sachhiem.net/SACHNGOAI/snL/LeHongPhong.php

- Vụ “Thảm Sát Tại Huế” Năm 1968 của D. Gareth Porter. Tạp chí Indochina Chronicle, số 33, ngày 24-6-1974. Nguồn: http://web.archive.org/web/20060517183715re_/geocities.com/atoiz/porter.html

Tiếng Anh:

- Counter-Revolutionary Violence: Bloodbaths in Fact and Propaganda của Noam Chomsky và Edward S. Herman. Nhà Xuất Bản Warner Modular Publications, 1973. Nguồn: http://www.chomsky.info/books/counter-revolutionary-violence.htm

- The 1968 “Hue Massacre” của D. Gareth Porter. Indochina Chronicle, #33, June 24, 1974. Nguồn: http://www.chss.montclair.edu/english/furr/porterhue1.html

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tiểu phẩm trào phúng Tết: Nhà Sử Học

Hoàng Hữu Phước

Tại một nước văn minh nọ có đời sống văn hóa rất đặc trưng: thiên hạ có gì, ta có nấy, và trên cơ sở đó có tất tần tật mọi thứ, từ vật chất hữu hình mà dân Ăng-lê gọi là tangible cho đến thứ không động chạm sờ mó gì được mà tiếng Mỹ gọi là intangible. Và cứ thế mà cái nước gọi là “nọ” ấy có trí thức, nhân sĩ, nhà khoa học, nhà sử học, v.v., dù người dân chớ biết ở nước họ  ai là nhà khoa học, ai là nhà trí thức, ai là nhân sĩ, v.v. , thế nào là nhà khoa học, thế nào là nhà trí thức, thế nào là nhân sĩ, v.v, vì chưa hề có các danh sách liệt kê thống kê các vị này để truyền lưu sử sách lưu truyền hậu thế.

Và thế là phát sinh tự do ở tất cả các giai tầng.

Báo chí tự do viết “các nhà khoa học cho rằng…”

Nhà nước “đưa trí thức trẻ về các địa phương vùng sâu vùng xa…”

Ai khoái đem tên hùn hạp vào ý kiến của một cá nhân để thành bầy thành đàn thành đám thành nhóm thành nhúm gọi tắt là bầy đàn thì tự xưng “nhân sĩ”.

Cá nhân nào không muốn và không thể học lên cao hơn thì cứ gắn chữ “nhà” vào cho oách như có kẻ tự xưng là “nhà sử học”.

Trước cái oái oăm ấy, có kẻ sĩ nọ thay vì ngữa mặt lên trời mà hét to một tiếng làm lạnh cả bầu trời như Không Lộ Thiền Sư, lại châm biếm châm chọc châm chích trào phúng trào lộng trào dâng cười to thẳng tắp thẳng thừng thẳng ngay vào mặt nhân gian mà tự gọi tự trào là “nhà đủ-thứ-học học” mà tiếng Ăng-lê mới toanh vừa sáng chế gọi là “potaya” tức là “bó tay giời ạ!”.

Câu truyện sau đây là về một người “nhà” ở cái nước gọi là “nọ” ấy. Thiết tưởng do thiên hạ ai cũng sính xài đồ Mỹ, từ việc rêu rao vi phạm nhân quyền đến rao giảng xã hội dân sự , nên trong truyện cũng chơi kiểu Mỹ qua lời chua ở trang thứ nhì trong bản in đóng bìa da cứng nạp lưu chiểu tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ rằng: “tác phẩm này là thuần túy fictional tức tưởng tượng tức không có thiệt và mọi sự trùng hợp với sự việc hay con người có thật là hoàn toàn ngẫu nhiên coincidental” để khỏi bị ai đó vu khống rằng nó không phải sản phẩm của trí tưởng tượng. Truyện rằng:

Nguyên ngày xửa ngày xưa cách nay vài ngàn năm ánh sáng, tại nơi gọi là “nọ” ấy có một người tự xưng là “nhà sử học”. Do không rõ về ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ nên ít đọc sách và tại vì như thế mà tri thức hầu như vườn không nhà trống như bị trúng đòn chiến thuật tiêu thổ kháng chiến vậy.

Có dạo anh ta bảo nước anh ta là “ốc đảo” nếu không có luật tỏ tình, vì anh ta tưởng ốc đảohoang đảo là một, dù anh ta nói đúng ở chỗ chỉ có ở đảo hoang thì ông A-dong trần như nhộng mới không nhất thiết phải tỏ tình vì chẳng có đối thủ cạnh tranh nào bu quanh bà Ê-và thiếu vải cả.

Có lần anh ta hí ha hí hởn hí hửng hí hước khoe với mọi người rằng anh ta là một trong hai người duy nhất đã bỏ phiếu “trắng” khi cả tập thể gần 500 vị trong quốc hội của cái nước gọi là “nọ” ấy bỏ phiếu thông qua đạo luật gốc cơ bản gì đó, cái mà nước khác ở hành tinh này hay hành tinh khác ở thái dương hệ này hay thái dương hệ khác gọi là “hiến pháp”. Chả là anh ta không biết hóa ra mình đã dại dột gào to cho thiên hạ biết rằng:

1) ta đây là nhà sử học, có chân trong ban biên soạn dự thảo đạo luật cơ bản ấy rất nhiều năm qua thế mà cho đến ngày trọng đại bấm nút thông qua vẫn không có tài hùng biện và kiến thức cùng bản lĩnh để thuyết phục thành công toàn ban biên soạn chấp thuận “một” ý kiến của anh ta đối với “một” điểm nào đó trong dự thảo mà anh ta còn…chưa được yên tâm lắm;

2) ta đây là nhà sử học, tức là cùng gia đình với các vị tài ba lỗi lạc được đặc quyền sử dụng chữ “nhà”, vậy mà không biết rằng dự thảo có hàng trăm chi tiết về hàng trăm vấn đề cực kỳ quan trọng, thế mà chỉ vì một điểm chưa được yên tâm (chứ không phải điểm ấy sai) mà gạt bỏ toàn bộ hàng trăm điều khác mà bản thân đã chấp thuận trước đó;

3) ta đây là nhà sử học, tức là cùng gia đình với các vị tài ba lỗi lạc được đặc quyền sử dụng chữ “nhà”, vậy mà không biết rằng trong bất kỳ đất nước văn minh tự do dân chủ tiến bộ hiện đại nào, tất cả đều hoạt động trên cơ sở thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là dù ngay cả có bỏ phiếu trắng hay có còn…một thoáng lo âu đi nữa thì vẫn phải nghiêm túc tuân thủ và nghiêm túc thực hiện tất cả nội dung của đạo luật gốc cơ bản đã được thông qua ấy – trong đó có cả điều mà anh ta còn “chưa được yên tâm lắm”;

4) ta đây là nhà sử học, tức là cùng gia đình với các vị tài ba lỗi lạc được đặc quyền sử dụng chữ “nhà”, vậy mà không biết rằng Sử chỉ xem trọng ý chí tập thể thí dụ như của Hội Nghị gì đó mang tên hình như là Diên Hồng ở cái nước hình như gọi là Việt Nam chứ xem một hai đại biểu quốc hội của nước ấy có ý kiến khác biệt kiểu Trần Ích Tắc hay Lê Chiêu Thống nào có ra chi dù hai vị này là gia đình hoàng tộc chứ nào phải con đỏ dân đen.

Nói đi thì phải nói lại.

Anh ta làm những việc càn quấy như thế có thể do nguyên nhân bịnh lý hoang tưởng hoang đường hoang dại và hoang…đảo.

Song, tự nhận mình bất tài vô dụng (có mồm loa có mép dãi thế mà không thể thuyết phục được bất kỳ ai trong ngần ấy năm tham gia cúc cung tận tụy miệt mài soạn thảo đạo luật gốc cơ bản), đó là cái dũng.

Hét cho nhân gian biết mình là thiểu số thấp tệ hại kỷ lục toàn thiên hà, với ngụ ý “hỡi đa số, hãy nhìn xem ta biết thân biết phận phục tùng đa số và răm rắp thực hiện theo bài bản đã được đa số biểu quyết thông qua”, ấy là cái trí nhằm lấy lòng tuyệt đại đa số nhân dân được đại diện bởi gần 500 đại biểu và tạo cảm thương nơi một vài người dân có ý giống như anh ta mà chính anh ta nằng nặc đòi làm đại diện.

Tuy bảng điện tử cho thấy có hai phiếu trắng và tin tức đã bay đi đến tận Thổ Tinh và Hải Vương Tinh, anh ta vẫn sợ có hành tinh nào đó sắp chui vào lổ đen không được cập nhật kịp thời nên anh đã tận tụy làm cái việc công khai minh bạch ngay lập tức việc chính anh đã bỏ phiếu trắng ấy, và đó là cái tâm, dù nhiều khóa trước cũng làm đại biểu quốc hội song anh ta chưa hề dám công khai minh bạch một trường hợp nhũng nhiễu dân lành nào cả.

Than ôi, người bỏ phiếu trắng mà có cái dũng uy hùng đến dường ấy, cái trí cao vời vợi đến đến dường ấy, cái tâm bự chà bá đến dường ấy, thì ắt người bỏ phiếu thuận còn có cái dũng cái trí cái tâm bự khủng đến dường nào! Quân thù mà kéo đến biên giới, chỉ cần đẩy anh ta ra đứng như phỗng thôi là đã đủ làm chúng phải ngữa mặt lên trời mà than rằng “ôi cái nước này sao mà ngay kẻ có trình độ thấp kém không thể được gọi là sử gia lại có được cái dũng cái trí cái tâm dến dường ấy thì sao mà đánh bại được do người dân cao quý hơn y cả vạn lần; thôi thì phải rút hết quân kéo hết pháo về, sai đại sứ đặc mệnh toàn quyền sang cầu mong giao hảo hiếu hòa vậy”, và nhờ thế tránh được họa binh đao, thiên hạ thái bình, vui cảnh thái hòa, đời đời an lạc.

Thế mới biết người bất tài không thể hùng biện, người thua cuộc phải ngồi chiếu dưới dành cho cực thiểu số, vẫn có thể qua việc đơn giản ủng hộ tỏ tình, giả ngây nói sai từ ngữ ốc với hoang, và giả nai để hớn hở khoe phiếu trắng, mà cũng khiến vũ trụ rộn tiếng hoan ca.

Ô hô, lành thay, thật lành thay vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng

Hoàng Hữu Phước

Gần đây những kẻ bất tài vô hạnh và thất học ở nước ngoài hay rêu rao về cái mà bọn chúng không hiểu cũng như chẳng từng kinh qua và chớ có kinh nghiệm cỏn con nào về nó, đó là “xã hội dân sự” hay những thứ tương cận, tức là cái – hay những cái – đề tài ngõ cụt mà chúng ngỡ là có thể dùng khuấy động Việt Nam cho dậy sóng đục ngầu. Trong khi xem hành vi này chỉ là bằng chứng cho thấy sự thay đổi phương thức đánh phá kiểu tâm lý chiến, lấy mấy cái mô hình hay khái niệm “made in nước ngoài” để thay cho sự “sáng tạo láo xạo tào lao made by chống cộng” đã hoàn toàn thất bại, tôi lại nhớ đến một trong nhiều cái “sáng tạo láo xạo tào lao” mà tôi đã vạch mặt chỉ tên nhằm giúp các người bạn Mỹ gốc Việt hiểu rõ thế nào là “sáng tạo láo xạo tào lao” ấy. Nội dung sự vạch mặt ấy tôi đã đăng trên Emotino ngày 09-6-2008 dưới tựa đề Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng, nay xin đăng lại nguyên văn trên blog này để bạn đọc tham khảo.

NHỮNG LẬP LUẬN KỲ QUÁI  CỦA NGƯỜI TỰ XƯNG LÀ TS TRẦN MINH HOÀNG

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi định viết một bài nhan đề Tôi Và Cu Huy Ha Vu thì sực nhớ đến sự thật là trong nhiều năm qua tôi đơn thương độc mã tranh luận nảy lửa trên các diễn đàn chống Cộng online là nơi tụ tập bốn hạng người gồm (a) những Việt Kiều ngây thơ thuần túy chẳng hiểu biết gì, (b) những Việt Kiều có học thức chống Cộng vì đã lỡ dại vượt biên, (c) những Việt Kiều có học thức chống Cộng vì mất uy thế ăn trên ngồi trước do cha ông chỉ lo tạo danh sách lính kiểng lính ma hay mua cần sa ma túy từ Tam Giác Vàng bán cho binh sĩ đồng minh Hoa Kỳ khiến phải cởi bỏ quân phục ném vất vũ khí ù té chạy khỏi Việt Nam, và (d) những Việt Kiều thất học đói nghèo nhờ có công nghệ thông tin nên sau khi rửa bát cào tuyết ngồi vào máy vô internet miễn phí đến những blog miễn phí để khoe vốn từ ngữ ít ỏi toàn tiếng chửi tục mà mình đã gói ghém lận lưng mang theo trên đường đào thoát khỏi quê hương nay lôi ra thóa mạ vĩ nhân Hồ Chí Minh. Rất nhiều Việt Kiều thuộc hạng a và b đã trở nên thân quen với tôi – dù tôi xưng tên thật còn họ chỉ xưng nickname do sợ bị cộng đồng yêu-tự-do của họ đánh hội đồng vì họ dám tự do không thù cộng sản – và thường chuyển đến tôi những bài công kích để nhờ tôi lý giải cho họ tỏ tường thực hư về đất nước không còn quen thuộc gì với họ. Một thí dụ là năm 2008 tôi nhận được một email chuyển một bài viết nọ và tôi đã đối đáp như sau trong phản bác ở định dạng PDF:

05/6/2008

Anh Phước

Dưới đây là một bài phân tích về tình hình kinh tế VN hiện nay của TS Trần Minh Hoàng. Anh Phước kiểm chứng lại một cách khách quan xem sự thật có đúng như vậy không, vì bên này có rất nhiều báo điện tử bình luận về kinh tế VN hiện nay không được sáng sủa cho lắm. Nếu sự kiện sắp xảy ra như vậy, anh Phước có phương cách gì chưa?

Em J.T.

08/6/2008

Chào mọi người,

Anh thay vì trả lời email của em, viết bài này gởi em để nếu muốn, em có thể forward cho bạn hữu bốn phương đọc cho vui. Anh không khơi lại quá khứ, vì đó là vấn đề nhạy cảm, đau buồn (của đa số Việt Kiều), vừa không phải là chuyện một người đàng hoàng được phép nói động chạm đến. Song, những lập luận như bài của Mr Trần Minh Hoàng thì anh nhận được rất nhiều trong mấy chục năm qua. Hôm nay anh phải viết để các em và những người khác biết là tại Việt Nam, thiên hạ ngay cả nếu còn có người không ưa mấy ông nhà nước cộng sản, cũng sẽ bật cười khi đọc những bài văn chống Cộng của mấy anh Việt Kiều. Nếu biết là ở Việt Nam, người dân chẳng coi mấy bài viết của Việt Kiều ra ký lô gì, thì có khi Việt Kiều sẽ khôn khéo hơn, không viết kiểu chống Cộng sai sự thật như vậy nửa, tức cười lắm. Và rất nhà quê nửa J

Anh Phước

Hoàng Hữu Phước

Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

Ngày 09-6-2008

Trước tiên, cần khẳng định người viết dưới bút danh Trần Minh Hoàng không rõ nhân thân là ai, vì cái kiểu ghi rằng chấp bút tại “Sài Gòn” có nghĩa là tại một địa điểm nào đó không có thực trên bản đồ Việt Nam đang được toàn thế giới chính thức sử dụng, mà chỉ dùng trong phạm vi hẹp của nhóm bạn chứ không ai viết bài báo mà dùng vậy bao giờ. Thêm vào đó, tôi, một người đã sinh ra ở Sài Gòn năm 1957 và ở đấy cho đến nay tức tại Thành phố Hồ Chí Minh, với kinh nghiệm khiêm nhường mà nói thuộc hàng không-đứng-hàng-thứ-hai-sau-bất-kỳ-ai về thực tế giáo dục hàn lâm và kinh nghiệm thương trường, có thể khẳng định Trần Minh Hoàng – nếu thực sự là “tiến sĩ” dù là của chế độ Mỹ-Thiệu hay của chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa – là một kẻ vô danh tiểu tốt, không thể là “sĩ phu” khi không dám ghi rõ về nhân thân đang lẩn trốn ở xó xỉnh nào trên thế gian này. Ngoài ra, “tiến sĩ” Trần Minh Hoàng chắc chả là tiến sĩ vì lập luận tung hê của “ngài” về kinh tế rất hoang đường, những lời “ngài” nói về ngân hàng rất quái gở, đã vậy còn kêu gào mọi người rút tiền ra khỏi ngân hàng để tránh thảm họa thì rõ mười mươi “ngài” đích thị là một gã dốt nát đầu đường xó chợ Thành phố Hồ Chí Minh, một nhóc đánh giày đường phố Boston, hay một tên mông muội hóa thạch thủa hồng hoang. Thậm chí “tiến sĩ” Trần Minh Hoàng cũng không biết tiếng Anh, nên khi đưa BBC hay Bloomberg này nọ ra, y chỉ để “hù” dân Việt Nam ở làng quê Việt Nam mà thôi, chứ không dám đưa ra một đường links nào để chứng tỏ xuất xứ các thông tin của hắn.  Tranh luận với một kẻ cấp thấp như y há tôi chẳng sẽ bị Cụ Nguyễn Đình Chiểu quở cho rằng “giết ruồi ai dụng gươm vàng mà chi” sao? Song, tôi buộc phải vạch mặt y một cách sòng phẳng. Để khỏi làm phiền các nhà trí thức khi mãi viết từ “tiến sĩ” với dấu ngoặc kép đầy diễu cợt, dưới đây khi nói về Trần Minh Hoàng, tôi sẽ dùng từ “tên say” vậy.

A) Khủng Hoảng Kinh Tế:

Mọi người đều biết rằng Khủng Hoảng Kinh Tế là một hiện tượng, một sự cố bình thường khi có tình thế khác thường của một nền kinh tế đặc trưng của các nước tư bản, nên ai đó hí hửng khi Việt Nam đang gặp khó khăn về kinh tế thì hãy coi chừng bị cà lăm trước cái tranh biện tuy ấu trĩ nhưng đầy sức thuyết phục là phải chăng vì đó là bịnh truyền nhiễm của các nước tư bản, nên mới mon men bước vào toàn cầu hóa và tự do thương mại thì Việt Nam đã bị dính ngay vi khuẩn Khủng Hoảng Kinh Tế mà Tên Say lầm tưởng là kết quả duy chỉ của Việt Nam Cộng Sản? Đặc biệt khôi hài ở chỗ: Khủng Hoảng Kinh Tế là cơn sốt của các cường quốc tư bản, và phải chăng Việt Nam bắt đầu trở thành đại gia tư bản nên Tên Say nổi giận nổi khùng nổi điên chửi bới lung tung? Lịch sử của các cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế toàn xảy ra từ những cường quốc kinh tế như Mỹ (1929, 1987), Nhật Bản (1997), Thái Lan (1997), Hàn Quốc (1997), Indonesia (1997), Mã Lai (1997), v.v., và chính vì những cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế là … bình thường nên khi các cường quốc thi nhau ấm đầu sổ mũi trong những năm sóng gió thì Việt Nam vẫn bình an vô sự ngay cả khi còn bị Mỹ cấm vận kinh tế còn khối Liên Xô tan rã và anh bạn Trung Quốc trở nên thù địch, và chẳng có gì để gọi là Việt Nam hấp hối hay trút hơi thở cuối cùng hoặc suy tàn theo mong muốn và cầu nguyện tích cực của những kẻ ác tâm như Tên Say. Ngoài ra tư bản còn thiếu gì những khủng hoảng đặc trưng khác như Khủng Hoảng Ngoại Hối, Khủng Hoảng Nông Nghiệp, hay Khủng Hoảng Tài Chính (và mới tinh khôi đây là Khủng Hoảng Lương Thực toàn cầu vốn bám theo bén gót Khủng Hoảng Tín Dụng ở Mỹ) nên Việt Nam mở cửa chơi với bốn phương thì cũng phải bị ấm đầu sổ mũi do bị lây bịnh nhiễm virus cũng là chuyện bình thường, có khác chăng là ở chỗ vì may mắn đi sau thiên hạ nên sẽ có nhiều thuốc hay để chữa trị hiệu quả hơn, nhanh hơn, an toàn hơn. Làm gì có chuyện người bị sổ mũi sẽ bị chôn sống, và làm gì có chuyện một cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế sẽ xóa sổ một đất nước, một chế độ mà mơ!

Nói tóm lại, Khủng Hoảng Kinh Tế là điều bình thường đối với kinh tế học khi nền kinh tế phát triển quá nóng, hay khi thị trường chứng khoán trải qua giai đoạn BOOMS – BUBBLES – BUSTS, hay như nguy cơ tiềm tàng mới đây tại Mỹ khi khủng hoảng tín dụng nhà đất. Chuyện thị trường chứng khoán Việt Nam đi xuống thì có chi mà ầm ỷ, đến độ phải cười khùng khục một cách bịnh hoạn rằng kinh tế Việt Nam sẽ đi đoong!  Thị trường chứng khoán Việt Nam còn non trẻ, y như túp lều vải bố dùng đi picnic, có bị gió bão làm tốc mái sút dây thì chờ mưa tạnh gió ngơi, vung tay đóng cọc buộc dây dựng lại mấy hồi! Thị trường chứng khoán các cường quốc ví to như tòa nhà chọc trời Trung Tâm Thương Mại Quốc Tế ở New York nếu sụp thì mới là đại họa.

B) Những tin tức của thế giới về “khủng hoảng” kinh tế ở Việt Nam diễn ra dồn dập.

Từ “dồn dập” làm người ta liên tưởng đến Việt Nam như một anh khổng lồ sắp ngã ngựa. Vậy Tên Say Trần Minh Hoàng thật ra muốn gì? Vì yêu đất nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nên Tên Say tự ý phong cho Việt Nam danh tiếng một đại siêu cường, đẩy Mỹ Quốc xuống chiếu dưới làm đàn em, nên cả thế giới phải “dồn dập” đưa tin duy chỉ về Việt Nam? Kiểu nhập nhằng “lôi kéo” mấy đại gia truyền thông như BBC và Bloomberg vào trong lời khai mào mà không dám vạch ra đường link để bà con tham khảo thì đúng là thủ thuật rẻ tiền kiểu ngậm máu phun người. Chưa kể RFA là con chuột nhắt bé tí tẹo bất tài vô dụng đánh đấm võ mồm mạt hạng thì có ra chi đâu mà phải đưa ra dẫn chứng, còn VOA mà nói công kích Việt Nam thì ở Việt Nam chẳng ma nào còn nghe, kể cả ma trẻ, ma sồn sồn hay ma già. Tôi xin đưa các đường links sau để rộng đường công luận thực hư:

1- Đường link mới tinh sau của BBC ngày 02/6/2008 đăng kết quả khảo sát của hãng tư vấn quản lý hàng đầu thế giới A.T. Kearney xem Việt Nam là thị trường đầu tư bán lẻ hấp dẫn nhất trong số 30 nước thuộc nhóm thị trường đang nổi lên và đây là cơ hội hấp dẫn đối với các công ty bán lẻ toàn cầu: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/06/080602_viet_retail.shtml

2- Đường link mới tinh sau của Forbes ngày 08/4/2008 đăng bài “Ai Sẽ Cầm Chịch Sự Kỳ Diệu Của Châu Á” của Tiến Sĩ Kishore Mahbubani, cho rằng chính Đại Hàn và Việt Nam sẽ là các đại gia kinh tế của Châu Á, chứ không phải bất kỳ ai khác: http://search.forbes.com/search/find?MT=Vietnam

3- Đường link mới tinh sau của Bloomberg ngày 07/6/2008 đăng bài “Các Đồng Tiền Châu Á Tuần Qua Mất Giá, Dẫn Đầu Là Đồng Baht Thái Lan””  viết về nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có số liệu dự đoán tới khoảng cuôi năm Đồng Việt Nam có thể mất 10% giá trị như một biện pháp chính phủ áp dụng để tránh một cuộc khủng hoảng tiền tệ “currency crisis” (không phải KHKT như thèm muốn của Tên Say). Và con số tỷ giá có thể là một đô-la Mỹ ăn 18.000 đồng VN cuối năm 2008. Một dự đoán tuy thấp hơn nhưng nằm chung với các dự đoán mất giá đồng loạt các đồng bạc khác trong khu vực đã bị Tên Say tách riêng ra với dụng ý xấu xa, thổi phồng lên thành như thể một tiền đề duy nhất cho một cuộc đại Khủng Hoảng Kinh Tế duy nhất chỉ xảy ra duy chỉ ở Việt Nam Cộng Sản: http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=20601080&sid=a9ag8v7Bj6LA&refer=asia

C) Vị thế của Việt Nam:

Xin không nói về chính trị vì Tên Say đang chơi ngông nguyền rủa Việt Nam Cộng Sản, nên nói về chính trị lúc mép Tên Say đang ứa trào dịch vị thì rõ là không đúng lúc cho cả khứu giác, thị giác, và thính giác. Xin chỉ nói về thực tế nhãn tiền và chính đáng như sau:

1- Việt Nam là vùng đất duy nhất còn sót lại trên hành tinh này đối với giới doanh nhân thế giới. Doanh nhân là giới có tiền. Tên Say không thể có tiền nhiều như những doanh nhân nên mạnh miệng chửi bới do ganh tức vì sao ta là Người Việt mà phải đứng chầu rìa nhòm thiên hạ về Việt Nam làm giàu thế kia! Mà khi những doanh nhân bỏ tiền vào Việt Nam thì họ không cho phép bất kỳ ai từ hải ngoại xía mỏ vào gây rối loạn, mất an ninh, làm phương hại đến công cuộc đầu tư làm giàu của họ tại Việt Nam. Tên Say quên rằng các doanh nhân Mỹ nắm đầu Tổng Thống Mỹ. Nhóm chống Cộng đừng nên chọc giận doanh nhân Mỹ.

2- Việt Nam là Vựa Thóc Của Thế Giới (theo bài viết của Hoàng Hữu Phước về Thương Hiệu Quốc Gia Việt Nam, tiếp theo bài viết về Philip Kotler). Khủng Hoảng Kinh Tế ư? Một nước là vựa thóc của thế giới mà có Khủng Hoảng Kinh Tế thì ắt là cả thế giới đã buộc phải sa chân vào các cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế trước và tan nát hết rồi. Khủng Hoảng Kinh Tế có thể làm dân ai đó điêu đứng, chứ dân Việt tại nước Việt Nam thì vẫn còn gạo nấu cơm, chính phủ Việt Nam có khối gạo xuất khẩu lấy khối tiền đô-la Mỹ nhập thịt bò xịn Mỹ, táo xịn Mỹ, và nước tinh khiết xịn Mỹ đóng chai về cho dân ăn uống tạm, kiên nhẫn chờ cả thế giới vượt qua cơn lạm phát toàn cầu và Khủng Hoảng Kinh Tế tại nước của họ để rồi cùng Việt Nam kinh doanh tiếp, xây dựng kinh tế tiếp, và chờ đón vững hơn cho kỳ Khủng Hoảng Kinh Tế tiếp theo.

3- Globalization là toàn cầu hóa, nghĩa là các nước liên thông, dựa vào nhau cùng kinh doanh, mà sống. Tên Say lạc hậu, chẳng biết là với toàn cầu hóa thì câu tục ngữ “môi hở, răng lạnh” không còn là châm ngôn xử thế mà là sự miêu tả trần truồng một thực tế. Thế giới không cho Việt Nam có cơ hội … Khủng Hoảng Kinh Tế vì nếu để xảy ra Khủng Hoảng Kinh Tế ở Việt Nam thì làm chao đảo cả nền kinh tế Đông Nam Á và Châu Á, tiến đến khủng hoảng toàn cầu, làm Tên Say mất giốp (job) phải đi sắp hàng nhận cháo nấu từ gạo mà Mỹ mua của Việt Nam. Ngày 03/6/2008, tại Hà Nội, Bộ Trưởng Bộ Thương Mại, Doanh Nghiệp & Cải Cách Chính Sách Vương Quốc Anh Ngài John Hutton trả lời phỏng vấn của Reuters khẳng định kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng tích cực, và  Anh Quốc sẵn sàng giúp Việt Nam những tư vấn để kiểm soát kinh tế vĩ mô giải quyết tình hình lạm phát. Ngoài ra, ngày 05/6/2008 nhóm CG tức các đại gia Nhóm Tài Trợ Cho Việt Nam cũng tiến hành hội nghị không chính thức của Nhóm tại Hà Nội. Từ đây suy ra, nếu anh chị có tiền, anh chị sẽ luôn thấy Việt Nam tăng trưởng tích cực (còn cơn sốt tài chính chẳng khác gì cái ấm đầu nơi trẻ thơ lúc mọc răng, hoặc cái đau nhức răng khôn của một người trưởng thành); còn khi anh chị vừa hùng mạnh vừa có kinh nghiệm kiến thức thâm thúy, anh chị sẽ tư vấn giúp Việt Nam từ mức độ đã tự mình leo rất cao không cần ai giúp lên mức độ cao hơn nữa với sự giúp đỡ của anh chị. Bậc trí thức và “tiến sĩ thật” như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Oánh đã trở thành cố vấn kinh tế cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà Nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa. Việc chửi bới Việt Nam là hành động thiếu khôn ngoan, chỉ tự vạch áo cho thiên hạ xem lưng là mình trần trụi, không tiền, không học vấn, không sức khỏe, chẳng ích gì cho quốc gia, dân tộc, xã hội, gia đình, bản thân, nòi giống. Khủng Hoảng Kinh Tế hay thiên tai, dịch bệnh đều là những thảm họa hoặc do sự bất cẩn của từng cá thể một hay pháp nhân một trong sự tham lam đầu tư vung tay quá trán mang hơi hướm đầu cơ nơi nơi lên án, hoặc do thiên địch cùng với cách sống không thích hợp về vệ sinh và môi trường của từng cá thể hay pháp nhân trong xã hội, hoặc do Mẹ Thiên Nhiên bị các siêu cường công nghiệp hùng mạnh phá hủy tàn diệt môi trường gây tai ương cho dân các nước nghèo. Sử dụng Khủng Hoảng Kinh Tế, thiên tai, dịch bệnh, xảy ra tại một quốc gia để chỉ trích chế độ cộng sản của quốc gia đó luôn bị coi là hành vi man rợ, phản văn minh, vô đạo đức, và thất học. Sharon Stone trong một phỏng vấn trên truyền hình Hong Kong bên lề liên hoan phim Cannes đã ngu xuẩn cho rằng vụ động đất xảy ra ở Tứ Xuyên hôm 12/5/2008 chính là quả báo cho những gì Trung Quốc đã đối xử với Tây Tạng trước đó. Sharon Stone đã trở thành một Stupid Shit đớn nhục ê chề khi bị các hãng phim và quảng cáo tẩy chay, phải lên tiếng xin lỗi nhân dân Trung Quốc, tỏ sự ăn năn muốn được tham gia công tác giảm thiểu nỗi đau của các nạn nhân Trung Quốc. Sharon Stone phải chăng nín thin khi thiên tai xảy ra ở Đức hay khi bão Katrina tràn vào tàn phá New Orleans của Mỹ mà chẳng bao giờ nói đó là quả báo cho tội ác Đức Quốc Xã tàn diệt dân Do Thái hay quả báo cho tội ác Mỹ đã sử dụng Agent Orange Chất Độc Màu Da Cam tại Việt Nam? Tên Say đã hèn nhát không dám nói gì đến Khủng Hoảng Tín Dụng hay Khủng Hoảng Kinh Tế của Mỹ, nhưng lại nhanh nhảu chụp ngay thông tin về tình hình lạm phát ở Việt Nam để nói đó là lỗi của chính phủ cộng sản Việt Nam. Nếu Sharon Stone là một Stupid Shit hay một “ả chết tiệt ngu xuẩn” coi hàng tỷ người dân Trung Quốc không là con người vì sống ở đất nước cộng sản kinh tế giàu mạnh, thì ắt Trần Minh Hoàng phải là một Totally Morbid Hoaxer, tức một “tên xỏ lá ba que bịnh hoạn trầm kha” coi 80 triệu người dân Việt Nam là súc vật vì sống ở đất nước cộng sản chính trị vững bền. Sharon Stone đã muối mặt xin lỗi, ngậm miệng ăn năn. Trần Minh Hoàng còn thua cả một mụ đàn bà Stupid Shit vì vẫn còn múa bút viết nên điều bất lương, bất hảo, bất nhân.

D) Đừng nghe những gì nhóm chống Cộng nói và cũng đừng xem những gì nhóm chống Cộng làm.

Theo Tên Say thì trong lúc túy lúy hắn đã hoang tưởng những điều sau:

1- Y đọc được “tài liệu mật” của Đảng Cộng Sản Việt Nam, tức những gì mà CIA cũng không thể rớ tới được. Sao y không bán ngay cho mấy hãng thông tấn để kiếm nhiều triệu đô-la Mỹ mà lại từ bi thông báo “chùa” cho quốc dân đồng bào biết trong cái gọi là “bài số 5” của y vậy?

2- Y lôi ra nào là Công Pháp Quốc Tế, Hiến Pháp, Luật Pháp, WTO, trong khi y chả biết gì về tất cả những ngần ấy thứ. Nếu Việt Nam sai, sao y không nắm đầu Việt Nam lôi xềnh xệch ra Tòa Án Quốc Tế? Y nói về Hiến Pháp mà không biết sức mạnh của Hiến Pháp ở một quốc gia, mà Việt Nam đang sống và phát triển trên nền tảng Hiến Pháp Việt Nam và Luật Pháp Việt Nam, mãi mãi không bao giờ có bất kỳ quốc gia nào dám công khai động đến. Đó không phải hiến pháp và luật pháp của Tên Say hay của quốc gia nào khác. Y nói nhăng nhít về Khủng Hoảng Kinh Tế, đọc lộn “khủng hoảng tiền tệ” thành “Khủng Hoảng Kinh Tế”, và hí hửng rằng tại Cộng Sản Việt Nam mà Việt Nam bị Khủng Hoảng Kinh Tế, nghĩa là Tên Say tước mất quyền làm cha mẹ của các nước tư bản đối với những đứa con ruột thịt mà họ gọi là Khủng Hoảng Kinh Tế ấy.

3- Y viết Cộng Sản Việt Nam “tha thiết” xin vào WTO và xin quy chế Tối Huệ Quốc Mỹ, mà y không hiểu rằng các nước thành viên WTO và Mỹ cần có Việt Nam để “tha thiết” xin vào Việt Nam bán đồ cho Việt Nam, nhận tiền của Việt Nam về nuôi sống dân họ, chi nuôi mấy cái đài RFA và VOA, nhờ vậy gia tăng GDP, cải thiện xuất siêu, phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều giốp (job) cho dân của họ.

Đừng tin những gì nhóm chống Cộng nói, vì tất cả những gì họ nói đều là dối trá, mị dân, hoang đường, thiển cận, và mông muội sảng mê. Tên Say cho rằng phải thay đổi chính trị ở Việt Nam vì Cộng Sản (có thể sẽ) gây ra Khủng Hoảng Kinh Tế ở Việt Nam, theo lô-gich kiểu lập luận như vậy thì có nghĩa là y ắt đang có nhiều bài viết khác kêu gào dân Mỹ lật đổ chế độ tư bản của Mỹ vì chính Mỹ đã để xảy ra những cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế kinh hoàng trong lịch sử cận đại của nhân loại, cũng như kêu gọi nhân dân Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, v.v. và v.v. đứng lên lật đổ chính phủ của họ, thay đổi chế độ chính trị, vì chính phủ các nước này cũng đã thực sự để Khủng Hoảng Kinh Tế xảy ra (có ghi trong sử sách hẳn hoi). Mà y muốn các dân tộc ấy thay đổi thể chế chính trị thì sẽ đổi sang hình thức nào? Hay y sẽ đề nghị họ chuyển thành nước … xã hội chủ nghĩa và cộng sản? Tất nhiên, nếu sự kêu gọi đó là xuẩn ngốc điên rồ, thì cái lô-gíc tương tự là: lời kêu gào cho một sự thay đổi chính trị ở Việt Nam cũng là sự ngốc xuẩn rồ điên. Lậm hơn nữa là Tên Say còn cho rằng chính phủ cộng sản Việt Nam sẽ tịch thu tài sản người dân, kể cả của người nước ngoài, để cứu nguy nền kinh tế bị khủng hoảng. Đây là bằng chứng cho thấy Tên say thuộc loại “non compos mentis” nên tôi miễn bàn. Người nước ngoài tất sẽ phá ra cười trước kiểu tung tin như vậy.

Đừng nhìn những gì nhóm chống Cộng làm vì ta sẽ thấy xấu hổ cho những kẻ vẫn trơ tráo xem mình là Con Cháu Rồng Tiên. Hãy nhìn Con Cháu Nữ Oa của Vạn Lý Trường Thành, vì sợ Cộng Sản nên chạy qua Mỹ và chạy khắp nơi, nhưng luôn tự hào mình là con dân Trung Quốc, sống đoàn kết, nắm quyền lực kinh tế nơi nơi, làm giàu và chuyển đô-la về làm giàu đất nước mà cả thế giới phải run sợ, đến độ Mỹ cũng không dám công nhận Đài Loan là một quốc gia khiến anh đàn em của Mỹ này muôn đời cũng chỉ là “lảnh thổ”. Trong khi đó, Con Cháu Rồng Tiên sợ Cộng Sản chạy qua Mỹ và chạy khắp nơi, sống chia rẻ, đi làm công cho ngoại nhân, và có thói tụ năm tụ ba nhậu nhẹt say sưa lảm nhảm chửi cha đất nước quê hương, mong cho nó sớm bị sụp đổ.

Người đàn ông khỏe mạnh thể chất lẫn tinh thần, yêu đời, thành đạt, sẽ thấy nơi một cô gái đẹp nào là gương mặt khả ái, đôi môi mọng hồng, mắt ngọc say đắm hồn ai, đôi vú căng phồng, đôi mông no tròn, đôi chân khêu gợi; và người đàn ông lịch lãm ấy sẽ muốn chinh phục nàng, được ở gần nàng, được hôn khắp thân thể nàng. Ngược lại, kẻ bịnh hoạn, thất bại, hằn thù sẽ chui vào hố xí để tìm cho ra vật chứng, chứng minh cho toàn thế giới biết rằng cô nàng hoa hậu hoàn vũ có viên phân hình thể ra sao và bốc mùi thế nào, hoặc đàm nhớt của nàng khạc ra có độ đậm đặc ra sao. Mỹ nhìn thấy ở Việt Nam những điều hấp dẫn cho một sự hợp tác kinh tế và địa chính trị bền lâu. Việt Nam nhìn thấy ở Mỹ những điều hấp dẫn tương tự. Và hai bên đã tìm đến nhau vì nhận ra – và chỉ chú tâm vào duy chỉ – những điều tốt đẹp ấy. Việt Nam, vì khỏe mạnh cả thể chất lẫn tinh thần, chấm dứt sự chú mục vào những gì không đẹp của đối tác, cũng để chứng tỏ tấm lòng Việt Nam tôn trọng chủ quyền và tự do của đối tác. Ấy vậy mà nhóm chống Cộng vẫn cố lấy chút hơi tàn bươi móc cho bằng được những điều chưa đẹp của Việt Nam để khai thác, tìm cho ra các câu phát biểu “lỡ lời” của vài quan chức Việt Nam nào đó rồi trưng ra làm bằng cớ, theo cái phương pháp vào hố xí kể trên.

Nói tóm lại, thuyết Nhà Phật thì khác thuyết Nhà Chúa ở chỗ: anh có tội lỗi xấu xa đến đâu đi nữa thì cứ xưng tội và Chúa sẽ xóa tội cho anh để anh thành người vô tội, còn nếu anh tội lỗi xấu xa mà biết tự hối cải và ra tay cứu độ chúng sinh thì anh sẽ trở thành Phật y như Phật! Tế Điên say xỉn, nhậu thịt chó, sát sinh tơi tả, ăn nói quàng xiêng, ấy vậy mà khi biết tu tâm, hào phóng giúp đời là thành Phật ngay mà chẳng phải chờ đợi mấy thế kỷ tu hành. Tôi không cần phô bày cho mấy anh chị nhóm chống Cộng biết tôi yêu nước Việt Nam ra sao và khoái chế độ độc đảng an toàn tuyệt diệu của Việt Nam đến đâu. Tôi chỉ nói đơn giản là cứ tạm cho là anh chị có quyền tự do tưởng tượng và tự do gào thét hùng hồn về chuyện cộng sản Việt Nam xấu xa, thì Cộng sản Việt Nam cũng đã trở thành Phật cả rồi, trước các anh chị lâu lắm rồi, vì họ đã chấm dứt cuộc chiến tranh để tuổi trẻ Việt Nam còn sống và tồn tại để đi lên, họ đã nuôi sống người dân bằng từng ký lô bo bo suốt thời gian dài trong vòng vây cấm vận khủng khiếp của Mỹ muốn tàn diệt dân tộc Việt Nam trong thiếu thốn đói nghèo, họ đã đưa vạn hùng binh “đem đại nghĩa để thắng hung tàn – lấy chí nhân mà thay cường bạo” cứu độ chúng sinh Cambodia thoát nạn diệt chủng kinh hoàng, họ đã giữ vững kinh tế nước nhà trong khi cả Đông Nam Á và Châu Á lâm vào cơn Khủng Hoảng Kinh Tế tồi tệ, họ đã từng bước nghiên cứu cái “hương thơm” của thiên hạ để từ từ đưa vào làm của cải cho dân tộc Việt Nam đi lên trong thận trọng, để được như ngày hôm nay, tức đạt những kỳ tích mà hàng vạn “tiến sĩ” của Việt Nam Cộng Hòa được đào tạo từ Mỹ đã không thể nào giúp gì được cho sự sinh tồn của cả nền kinh tế Việt Nam Cộng Hòa lẫn chế độ chính trị của nó. Vì vậy, chỉ có những ai không có tâm Phật mới tiếp tục nguyền rủa Cộng Sản Việt Nam. Chỉ có giúp ý kiến xây dựng kinh tế cho cộng sản Việt Nam để nước Việt Nam an bình, thịnh vượng, công cuộc xây dựng đất nước thắng lợi, người dân Việt Nam được sống trong niềm tự hào về dân tộc (thay vì phải xót xa khi thấy người Việt chống Cộng vẫn sống lầm than thống khổ u mê nghiệp chướng trong gông cùm xiềng xích ngục tù tự tạo từ ngay trong tâm trí của chính họ), thì mới có thể thành Phật y như Phật. Chống Phật thì không thể nào thành Phật.

Quyền tự do là quyền tối thượng. Đừng bao giờ xúc phạm vào quyền tự do của người khác. Anh chào hàng hóa của anh thì anh cứ nói tốt cho nó. Quyền lựa chọn là quyền tự do của người nghe. Và cái tồi tệ vô đạo đức là cái kiểu chào hàng bằng cách chửi rủa bôi nhọ hàng hóa của công ty khác. Hô hào tự do dân chủ, nhưng chống đối những người thân cộng, triệt hạ cộng sản. Hãy biết thân phận của một salesperson: người bán hàng cho chủ. Chiêu bài tự do, dân chủ, đa đảng, đa nguyên là những hàng hóa không phải của Tên Say chế ra, mà là của một nhà sản xuất nào đó, mà Tên Say chỉ làm động tác rao hàng, mồi chài, bán lẻ, kiếm chút hoa hồng. Hãy đọc sách thánh hiền và sử sách để biết các triều đại tiếp nối nhau là việc bình thường của muôn kiếp. Đinh. Lê. Lý. Trần. Lê. Vương quyền Bảo Đại sụp đổ, chẳng ai bỏ nước mà đi hay chửi cha đất nước dù thể chế chính trị bị thay đổi. Diệm sụp đổ, chẳng ai bỏ nước mà đi hay chửi cha đất nước. Thiệu sụp đổ, nhiều người vì vừa bị Thiệu “hù”, đâm ra sợ Cộng Sản, vừa được đàn anh chờ đón ở hải phận quốc tế, nên bỏ nước mà đi kèm với việc chửi cha đất nước. Đó là việc không thể là bình thường, về nhân cách thì thua xa dòng họ Mạc đã trốn khỏi Trung Hoa, giong buồm về vùng cực nam của Việt Nam góp phần xây dựng địa phương giàu mạnh, phát huy mạnh mẽ văn hóa Trung Hoa trong tiết tháo vẻ vang, giúp vang danh đất tổ quê cha nơi đất khách quê người, chứ nào có việc đồi phong bại lý “chuyển lửa về quê”, hậm hực đắng cay ngay cả khi trong tay không nắm gì chân lý. Lấy tâm Phật ra để thay đổi thái độ với đất nước, quê nhà, dân tộc, đồng bào, đó là đại phúc cho bản thân, dù muôn vàn hổ ngươi vì các dân tộc khác đâu cần đến sự kêu gọi, bảo ban, khuyên lơn, thuyết phục, mới chịu tha cho đất nước! Còn chửi bới nước nhà, gây xáo trộn dân sinh, tự đắm chìm trong tham-sân-si, hận thù, ác độc, chỉ để tự chống chế trong vô vọng rằng mình ra đi không vì khiếp sợ mà vì đại cuộc nào đó, thì chỉ là điều vô nghĩa, vô lý, vô bổ, vô duyên, vô lương tâm và vô phúc.

Tóm lại, khi trưởng thành, ai lại không phải ít nhất một lần phải chịu cảnh đau đớn khủng khiếp khi bị nha sĩ đục bỏ một chiếc răng khôn bị sâu. Có những chàng trai khi trưởng thành lại phải chịu đau đớn cắt bao quy đầu vì lớp da không thể tuột lại khi dương vật căng cứng muốn bung ra. Có những nền kinh tế khi phát triển phải trải qua những lần y như nhổ răng khôn hay cắt da bao quy đầu để sau đó là hưởng thụ cuộc sống tốt hơn và sướng hơn. Chiếc răng khôn bị sâu thì nha sĩ nhổ bỏ chiếc răng sâu, không ai moi tim hay chặt đầu người bị sâu răng. Bao quy đầu quá chật thì bác sĩ phẫu thuật cắt phần bao ngoài để dương vật nhú ra thuận lợi mặc sức tung hoành, chứ ai lại thiến luôn dương vật và thủ cấp của chủ nhân dương vật! Khủng Hoảng Kinh Tế nếu đến sẽ được xử lý bởi các chuyên gia kinh tế hóa giải cái Khủng Hoảng Kinh Tế ấy bằng những sách lược ứng phó kinh tế, loại bỏ hoặc điều chỉnh những thành tố kinh tế nào không có lợi cho nền kinh tế, chứ sao một Tên Say lại được phép hô hào gào thét đòi loại bỏ cả chế độ chính trị cộng sản nào có cơn Khủng Hoảng Kinh Tế?  Ông Alain Cany, Chủ Tịch Phòng Thương Mại Châu Âu EUROCHAM, khi trả lời phỏng vấn tại Hà Nội ngày 02/6/2008, đã nói rằng những gì đang xảy ra (đối với nền kinh tế Việt Nam) chẳng qua là do sự trượt dốc của kinh tế toàn cầu, rằng những báo cáo của Morgan Stanley hay các ngân hàng nước ngoài khác chỉ được đọc bởi các chuyên gia có thể hiểu được nó và không nên đưa ra công chúng, và rằng các báo cáo hàm chứa sự thật vì dựa trên các số liệu nhưng Morgan Stanley không có ở Việt Nam và cần đọc các báo cáo đó một cách nghiêm túc trên tinh thần giảm đi 40 – 50% (Tư Giang, Saigon Tiếp Thị, Số 63, 04/6/2008. trang 5).

Tên Say không nên đọc các báo cáo và các tài liệu về kinh tế vì y chả hiểu biết gì về kinh tế để nói về kinh tế và Khủng Hoảng Kinh Tế. Y càng không có tư cách gì nói về cái gọi là “khủng hoảng chính trị” tức cái mà đầu óc bịnh hoạn của y thèm muốn khao khát sao cho xảy ra tại Việt Nam.

Ai mà thèm nghe các lập luận của một Tên Say.

Thư bất tận ngôn.

Hoàng Hữu Phước

Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam

Ngày 09/6/2008

Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba

Hoàng Hữu Phước, MIB

29-12-2013

Ngay từ những năm 1980 của thế kỷ trước (đây là cách hành văn do chính tôi sáng tạo và sử dụng từ năm 2000 mà nay đang được các nơi noi theo dùng rộng rãi) tôi đã kịch liệt công kích bài hát Happy New Year của Abba mỗi khi trò chuyện với sinh viên và học viên của tôi. Đến khi phát triển blog trên thế giới, tôi viết ngay một bài tiếng Anh trên Yahoo!360 năm 2007, và sau quyết định thiếu ánh sáng trí tuệ của Yahoo! đối với Yahoo!360, tôi đăng lại bài viết trên nhưng bằng tiếng Việt tại http://www.emotino.com/bai-viet/18342/nen-co-lua-chon-khac-thay-the-bai-ca-happy-new-year-cua-abba  ngày 31-12-2009 trước thềm Tết Canh Dần 2010, với kết quả là việc sử dụng bài hát ấy trên sóng truyền hình ở Việt Nam đã gia giảm đáng kể. Nay trước thềm Tết Giáp Ngọ 2014, tôi xin đăng lại nguyên văn bài viết này để một lần nữa nêu lên một sự thật rằng bài hát Happy New Year của Abba đã trở thành một sự kỳ lạ do được duy chỉ giới phát thanh và truyền hình Việt Nam trường kỳ miên viễn sử dụng vô tư.

Nên Có Lựa Chọn Khác Thay Thế Bài Ca Happy New Year của Abba

Hoàng Hữu Phước, MIB

31-12-2009

Tết là thời điểm tuyệt diệu để đón chào thời khắc mới của ước mơ, hy vọng ước mơ sẽ thành hiện thực. Khắp nơi trên toàn thế giới, những bài hát được viết nên thắm nhuộm tình cảm thiết tha, hướng thượng, đầy khát vọng cháy bỏng. Thế nhưng suốt 30 năm qua, ở Việt Nam cứ mỗi độ xuân về – xuân tây lẫn xuân ta – là đài phát thanh, truyền hình, quán xá, đâu đâu cũng nghe phát bài Happy New Year của ban nhạc Thụy Điển Abba, khiến anh em gia đình tôi ai cũng vội vàng chuyển kênh, thay đài, vì không muốn cái bài hát có ca từ kiêng kỵ, nhảm nhí, không phù hợp với … phong thủy ấy lập đi lập lại suốt mấy ngày Tết quan trọng, ám áng sự may mắn cả năm dài. Và cũng trong ngần ấy năm, chúng tôi một mặt không dám nói cho bất kỳ ai ngoài gia đình sự phê phán của chúng tôi đối với bài hát ấy vì sẽ không khôn ngoan nếu đụng đến bài ca có quá nhiều người sử dụng trong thời gian quá dài, một mặt cầu mong hoặc có “bầu” nào lăng-xê bài hát ngoại khác, hoặc có nhạc sĩ Việt Nam chớp cơ hội sáng tác bài hát Happy New Year khác bằng tiếng Anh thay vì cứ tham gia sáng tác bài hát tiếng Anh mà bài nào cũng oằn oại với từ “broken heart” (trái tim tan nát) một cách đáng thương hại.

Song, 30 năm cộng với không khí tươi mát của…phản biện và sự nở rộ hơn nấm của các trung tâm ngoại ngữ, đã khuyến khích tôi không ngần ngại nói lên một sự thật là bài hát của Abba nào có được thế giới coi là “auspicious”, cụ thể là những bài hát mừng năm mới theo các nhóm sau của Phương Tây không có tên Abba:

A- Bài hát Mừng Năm Mới hay nhất và đứng đầu thế giới:

1) Auld Lang Syne (dân ca Tô Cách lan)

2) What Are You Doing New Year’s Eve (của Frank Loesser)

3) It’s Just Another New Year’s Eve (của by Marty Panzer)

B- Mười bài hát Mừng Năm Mới phổ biến nhất thế giới:

1) Auld Lang Syne (ca sĩ Relient K)

2) Brand New Year / My Revolution, (ca sĩ SheDaisy)

3) Seasons Of Love (nhạc phim Rent)

4) Nothin’ New For The New Year (ca sĩ Harry Connick Jr và George Jones)

5) Funky New Year (ban nhạc The Eagles)

6) New Year (ca sĩ Charlie Hall)

7) New Year (ban nhạc The Beautiful Republic)

8 ) Another Year Has Gone By (ca sĩ Celine Dion)

9) My! My! Time Flies (ca sĩ Enya)

10) Dona Nobis Pacem Auld Lang Syne (ca sĩ Yo-Yo Ma)

C-  Những bài hát truyền thống Mừng Năm Mới:

1) Auld Lang Syne

2) It was a Very Good Year (lời Ervin Drake)

D- Những bài hát Mừng Giao Thừa phổ biến nhất thế giới:

1) It’s Just Another New Years Eve (của Barry Manilow)

2) What Are You Doing New Year’s Eve? (của Diana Krall)

E- Những bài hát trẻ con hát Mừng Năm Mới

1) Toot Your Horn (của Elizabeth Scofield)

2) This Year’s Drawing to an End (tác giả khuyết danh, hát theo điệu Mary Had A Little Lamb)

3) New Year’s Day (tác giả khuyết danh, hát theo điệu Jingle Bells)

4) Bells Are Ringing (của Jean Warren, hát theo điệu Frere Jacques)

5) A New Year Has Begun (tác giả khuyết danh, hát theo điệu She’ll be Coming ‘Round the Mountain)

6) Cheer The Year (tác giả khuyết danh, hát theo điệu Row, Row, Row Your Boat)

7) Celebrate (tác giả khuyết danh, hát theo điệu Three Blind Mice)

Ở Việt Nam có nhiều bài hát mừng xuân tiếng Việt rất hay của các tác giả hai miền Nam Bắc thời chiến tranh chống Mỹ. Sau ngày giải phóng miền Nam, một số bài hát vui tươi sống động mừng xuân cũng đã xuất hiện. Nhưng đối nghịch với sự vui vẻ sáng tươi ấy là bài Happy New Year đầy thụ động với ca từ kiêng kỵ phong hóa Việt Nam và Á Đông.

Ước gì Tết Canh Dần 2010 sẽ có ca sĩ nào đó hát những bài Happy New Year mới “phát hiện”, hoặc những bài hoàn hảo mà thế giới Á Âu đều ưa chuộng.

Sự thay đổi không khí. Sự điều hòa không khí. Âm nhạc sống động với ca từ tích cực sẽ tương hợp với những hoa khoe sắc thắm, những chữ Phước đỏ chót, những câu đối hay bức liễn hướng đến điều tốt đẹp và may mắn mà gia đình nào cũng sắm sửa, biện bày trong kỳ vọng, vái van.

Hãy để mặc Abba muốn “lay down and die”  thì cứ việc mà buông xuôi và chết quách đi cho rồi như ca từ ở cuối của bài Happy New Year của họ, vì l‎ý do lay down and die của họ thụ động không kém ca từ kiểu ngữa tay van lạy xỏ xin hành khất trong điệp khúc “xin cho tôi” đẳng cấp thấp của Phạm Duy, hoàn toàn không thích hợp với sự vươn lên nhất là trong mấy ngày Tết quan trọng, thiêng liêng của người Việt.

Happy New Year!

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

ĐỀ XUẤT MỘT THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA CHO VIỆT NAM

Hoàng Hữu Phước

Mới đây lãnh đạo nhà nước có ý kiến khuyến khích việc hợp tác với các trường đại học nước ngoài để mở các trường ở Việt Nam. Điều này khiến tôi nhớ lại vào năm 2007 tôi có viết trên blog của tôi ở Yahoo!360 để đề xuất một thương hiệu quốc gia có liên quan đến nội dung này. Nguyên vào thời điểm ấy có buổi thuyết trình của Philip Kotletr tại Tp Hồ Chí Minh mà tôi có tham dự. Ngay sau buổi hội thảo, báo chí thành phố đã làm công việc cực kỳ quen thuộc mang tính công thức là hễ nghe đến cà phê là phải phỏng vấn Trung Nguyên, hễ nghe đến ẩm thực là kiếm ngay anh Phở 24 (dù tôi đã bao lần viết blog xem anh Trung Nguyên nào phải Vua Cà Phê, anh Phở 24 nào phải Vua Ẩm Thực, và đúng là anh Phở 24 đã nào có đưa Phở lên ngôi vì đó nào phải là món ăn ngon bổ sang trọng hấp dẫn gì cho cam đối với nhân loại), thế nên từ dạo báo chí Thành phố Hồ Chí Minh rầm rộ  phấn khích về “bếp ăn của thế giới” đến nay đã 7 năm mà rõ ràng là Việt Nam cũng đâu có trở thành cái bếp ăn ấy, cũng như chưa vẫn chưa xây dựng được cái thương hiệu quốc gia nào bất kỳ.

Tôi xin đăng lại nguyên văn bài viết của tôi đã tải lên Emotino.com lúc 17g37 ngày 07-8-2008 (http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam) do không tìm được bản đầu tiên năm 2007 trên Yahoo!360) để chứng minh thế nào là sự thật, thế nào là tôn trọng sự thật, thế nào là ích lợi của trình độ khá về ngoại ngữ, và nhất là thế nào là tầm nhìn cần có đối với việc trọng đại của quốc gia.

ĐỀ XUẤT MỘT THƯƠNG HIỆU QUỐC GIA CHO VIỆT NAM

(Bản Tiếng Việt của Bài Viết Song Ngữ Việt – Anh)


Trong buổi Hội Thảo Quốc Tế tháng 8 năm 2007 về Marketing ở Sheraton Hotel với chủ đề Marketing Mới Cho Thời Đại Mới do Philip Kotler, người khai sinh ra nền marketing hiện đại của thế giới, là diễn giả đặc biệt, đã chậm rãi khoan thai phát âm thật rõ ràng rành mạch những ý tưởng mà nhiều ngày liên tiếp sau đó báo chí Việt Nam cuộn cuồn dậy sóng thông tin, đặc biệt là về “thương hiệu quốc gia” và “bếp ăn của thế giới”.

Thiết nghĩ cần có một khẳng định ở đây là Philip Kotler không hề gợi ý Việt Nam nên là một Bếp Ăn Của Thế Giới với ý nghĩa ẩm thực, mà chỉ đơn giản ngụ ý thế giới chưa biết nhiều về Việt Nam và Việt Nam cũng chưa định vị được uy thế của mình trong lĩnh vực nào để làm marketing thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế, và Ông nói với nụ cười hóm hỉnh rằng trở thành Bếp Ăn Của Thế Giới cũng là điều có thể nghĩ đến. Một thí dụ chứa đựng những ẩn ngữ của một bậc thầy tài hoa cần được giải mã nghiêm túc, chứ không chỉ là trần trụi như nói về phở hay bánh xèo, hoặc nói cho văn hoa bóng bẩy hơn là “ẩm thực”, nghĩa là Việt Nam có “món” nào “ngon” để cung cấp cho thế-giới- kinh-doanh-toàn-cầu-hội-nhập hay không, chứ không phải Việt Nam có “món ăn” nào để kéo thế giới tới ăn nhai uống ực hay không. Có người thậm chí nêu ý kiến cho rằng đã muộn rồi vì dường như con người Philip Kotler quá vĩ đại nên không biết đến chuỵện nhỏ là Thái Lan đã và đang thực hiện chương trình trở thành “Kitchen of the World” (Kim Hạnh, 2007). Một ngộ nhận. Thương hiệu một quốc gia không do chính quốc gia đó tự đặt cho mình khi chưa làm nên gì cả để thuyết phục cả thế giới. Everest là “Nóc Nhà Của Thế Giới” vì bản thân nó là đỉnh núi cao nhất rồi được thế giới đặt tên sau khi đã đo đạc hẵn hoi. Là một đất nước-thị trường với dân số khổng lồ và giá nhân công rẻ, Trung Quốc đã hấp dẫn các công ty nước ngoài đổ xô tìm đến mở nhà máy sản xuất hàng hóa cung ứng cho thế giới và từ đó cái danh “Cơ Xưởng Của Thế Giới” được hình thành. Tương tự, sau vài thập kỷ nổi đình nổi đám thu hút nước ngoài đến mở biết bao nhà máy sản xuất nhằm “thay thế xuất khẩu tiết kiệm ngoại tệ”, chưa kịp thành Cơ Xưởng Của Thế Giới thì Ấn Độ đã phải trả một giá quá đắt khi môi trường bị tàn phá nghiêm trọng và vụ cháy nổ rò rỉ 27 tấn khí độc methyl isocyanate từ nhà máy hóa chất Union Carbide của Công Ty Dow Chemical Hoa Kỳ gây thảm họa cho thành phố Bhopal cuối năm 1984, giết chết 20.000 cư dân, 120.000 người vương phải bệnh ung thư, bại não, sinh quái thai, và nửa triệu dân chịu ảnh hưởng khí độc cho đến tận ngày nay vẫn ẩn chứa nguy cơ bệnh tật cũng như chưa thể làm sạch môi trường sống (www.bhopal.com), và một hướng mới đã mở ra khi đất nước có quá nhiều nhân tài ai-ti (IT, công nghệ thông tin) này cung cấp dịch vụ sao lưu “backup” cho các công ty trên thế giới khiến có cái tên “Văn Phòng Của Thế Giới”. Trong khi đó, Úc là đất nước ít dân nhưng có hệ thống y tế hoàn hảo chất lượng cực cao và nổi danh trong điều trị các bịnh nan y. Song, chưa bao giờ Úc trở thành “Dưỡng Đường Của Thế Giới”, chỉ vì còn thiếu yếu tố hàng đầu, đó là: Úc chăm lo hoàn hảo cho sức khỏe toàn dân còn bệnh nhân nước ngoài có thể đến Úc chữa trị, chứ Úc chưa hề tự tổ chức để đạt được “thương hiệu đó, cũng như đem dịch vụ của mình bung ra cung ứng mạnh mẽ đến các châu lục khác trên thế giới. Thái Lan tạo nên vài festival với tên tự đặt là “Kitchen of the World” nghe cho vui tai chỉ để giới thiệu ẩm thực Thái như một bổ sung thứ yếu cho ngành công nghiệp du lịch đã phát triển rồi của Thái, kéo thêm du khách đến Thái Lan (vì hàng triệu du khách đến Thái trong thập kỷ qua đã nếm món ăn Thái rồi chứ không phải bây giờ mới trình làng những báu vật còn giấu kín), trong khi để được cái danh Bếp Ăn Của Thế Giới, một quốc gia đúng ra phải như một…tổng công ty cung cấp suất ăn công nghiệp catering, nghĩa là anh phải đáp ứng được nhu cầu ẩm thực cho khách hàng của anh ở bất kỳ đâu trên thế giới, phù hợp với khẩu vị của riêng họ, bằng nguyên vật liệu chất lượng từ hoặc y như của xứ sở họ, và để làm được điều chắc chắn là không tưởng này phải có hệ thống thu mua, nhập khẩu, lưu trữ, bảo quản, vệ sinh tuyệt đối, và hệ thống phân phối cỡ DHL hay TNT, chứ không phải đơn giản giới thiệu món phở hay bánh xèo ngay tại Việt Nam. Thậm chí nếu món phở xoàng xỉnh của Việt Nam mà có nổi danh toàn cầu thì cái thương hiệu quốc gia của Việt Nam ắt là … Đất Nước Của Phở, như Ý là Đất Nước Của Pizza vậy, chứ sao là Bếp Ăn Của Thế Giới được. Nhiều người nước ngoài sống và làm việc ở Việt Nam cả chục năm vẫn không thích thú gì khi được đãi các món ăn Việt, dù phở đã, đang, và sẽ mãi ngon đối với một bộ phận lớn người Việt vốn không bất kỳ ai ăn phở trừ cơm mỗi ngày trong trọn cuộc đời, nhất là bò điên lở mồm long móng, gà cúm, và rau xanh tưới phân tươi, vệ sinh không kiểm chứng luôn khiến phở thành món ăn kém an toàn hoặc góp phần gây các chứng mỡ trong máu, trong gan, còn những lời khen tặng của ngoại nhân chỉ mang tính xã giao ước lệ. Vì vậy, theo tôi, khi nói về “Bếp Ăn Của Thế Giới”, Philip Kotler đã sâu sắc hàm ý ngay cả điều hiểu theo nghĩa đen thuần túy là cái bếp nấu ăn vẫn là điều chưa nước nào đạt được, hay chưa hiểu được, là bếp dùng để nấu (chứ không phải để mọi người chui vào bếp để ăn), và nấu xong thì bưng ra ngoài cho khách (tức xuất khẩu đến tận tay khách hàng), cho thấy để có được một thương hiệu quốc gia đòi hỏi một hiểu biết cặn kẽ, một tổ chức tổng lực cùng một kế hoạch tổng hợp dài lâu. Cùng trong thế kỷ XXI một số lớn con cháu Lạc Hồng nói phở ngon, tất cả hậu duệ của Đế Chế Inca vẫn thích ăn bánh mì kẹp lúc nhúc giống kiến to đen của họ, còn dòng giống Châu Sơn Cổ của Truyền Thuyết Du-mông mê cháo thằn lằn đến độ khi tổ chức sự kiện thể thao vĩ đại cấp hành tinh chính phủ phải yêu cầu dân chúng ngưng ăn chó và thằn lằn quốc hồn quốc túy đó, nên bảo đảm không ai dám vỗ ngực nói ẩm thực của mình là đứng đầu thiên hạ mà cả thế giới phải ăn. Pizza siêu tuyệt của Ý lan toàn thế giới, và phở Việt Nam không bao giờ ở đẳng cấp như vậy. Ở đây, tôi xin có ý kiến cụ thể xây dựng thương hiệu quốc gia cho đất nước của chúng ta, đó là : “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” tức “The Campus of the World”.

Khác xa với nhu cầu ẩm thực vốn tùy vào ý thích riêng từng khách hàng chứ không tùy vào bản thân hàng hóa là món ăn, nhu cầu học tập chú trọng vào bản thân hàng hóa vốn gần như có giới hạn nhất định và đồng nhất, sẵn có; chẳng hạn đã học xong đại học thì đa số mong có điều kiện lấy thêm một cái MBA (Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh, vốn đang dần mất sức hấp dẫn về tay MIB tức Thạc Sĩ Kinh Doanh Quốc Tế). Vấn đề là học nơi đâu cho phù hợp túi tiền: học ở Mỹ như mấy nhân vật phim Hàn Quốc mỗi khi thất tình là qua Mỹ du học rồi về làm giám đốc ngay, học ở lân bang cho gần và khỏi bị phỏng vấn trầy trật khi xin visa vào một siêu cường, hay học ở một nước thân thiện có nhiều ưu thế cạnh tranh hơn cho tương lai của bản thân người đi học. Việt Nam chính là đất nước có quá nhiều những thế ưu việt cho du học sinh nước ngoài theo các phân tích và trình bày ở các phần tiếp theo, thực sự phù hợp cho một chiến dịch quảng bá dành lấy thương hiệu đẳng cấp cao này một cách an toàn tuyệt đối mà không phải tranh cải lung tung về gia vị hay dư lượng chất kháng sinh, thuốc trừ sâu, thuốc uớp xác chết làm bánh phở, hoặc đối mặt với án lịnh pháp đình khi có các ca gây ngộ độc thực phẩm cho khách hàng, gây tổn hại nghiêm trọng đến danh dự quốc gia.

Trước hết, xin được nêu duy chỉ những thế mạnh của Việt Nam cho thương hiệu quốc gia Ngôi Trường Của Thế Giới, vì những phân tích còn lại theo nội dung SWOT và TOWS chỉ cần thiết hơn cho một kế hoạch kinh doanh chi tiết dài ít nhất 100 trang in khổ A4 mà chúng tôi có thể thực hiện nếu được tham gia chương trình quốc gia cho mục tiêu này.

An toàn và an ninh trật tự luôn là điểm nhấn quan trọng khi thế giới nói về Việt Nam, và đây là thế mạnh vững chắc tuyệt diệu để chúng ta sử dụng trong marketing cho một thương hiệu quốc gia. Du học sinh được học tại những ngôi trường chi nhánh của Mỹ, Anh, và nhiều nước khác hoạt động tại Việt Nam, nơi không có những vụ xả súng sát hại bạn học, không có bạo loạn chính trị, không có biểu tình ẩu đả, hay thiên tai, khiến du học sinh và thân nhân của họ có thể an tâm đầu tư cho học vấn. Đó là chưa kể đến các đặc trưng mà du học sinh cảm nhận đựợc duy chỉ có tại Việt Nam: tinh thần hiếu học, tôn sư, trọng đạo của người Việt Nam, mà ngay cả đất nước sản sinh ra Nho Giáo cũng không thấy có. Đây là một giá trị cộng thêm: anh dạy ở nước khác và anh có quyền mặc quần khaki ngắn đưa cẳng chân lông lá, áo hoa hòe hoa sói bỏ ngoài, ngay trong giảng đường đại học, đơn giản vì anh thực hiện hợp đồng phục vụ khách hàng là sinh viên, những người chỉ muốn nhận hàng hóa anh chuyển giao; còn dạy tại chi nhánh cũng của trường ấy nhưng mở ở Việt Nam anh phải ăn vận chỉnh tề, và tuy cũng thực hiện hợp đồng với trường của anh, anh vẫn sẽ thấy mình là một bậc thầy được sinh viên Việt Nam trân trọng, kính trọng, nể trọng, tri ân, và tất cả sẽ tác động lên sinh viên từ các nước khác, khiến họ cùng học tập sinh hoạt theo nền nếp lạ lẫm nhưng thú vị và đúng đắn không chê vào đâu được, hình thành nơi họ một nhân cách cao hơn, đó là nhân cách nhân bản và văn minh mang tính xã hội cộng đồng tôn ti trật tự thay cho kiểu nhân cách dưới quyền điều khiển của cái tôi bản ngã. Học tại Việt Nam với người Việt Nam và các quốc tịch khác, trong môi trường xã hội văn hóa Việt Nam, đó cũng là một lợi điểm kỳ thú, vì chính những yếu tố văn hóa giữ vai trò tác động lớn lao đối với các kỳ tích về kinh tế, chiếm hơn 50% trong các khác biệt đối với mức tăng trưởng kinh tế (Kotler, Jatusripitak, and Maesincee 1997, 113). Theo giáo sư Werner Soontiens, Khoa Trưởng Viện Đại Học Công Nghệ Curtin của Úc, phát biểu trong buổi hội thảo về Toàn Cầu Hóa Và Các Tiềm Năng Kinh Doanh Giữa Úc Và Việt Nam được tổ chức tại trường Đại Học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh chỉ hai ngày sau cuộc hội thảo quốc tế của Philip Kotler, Việt Nam có một lợi thế lạ kỳ là đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh với sự chiếm đóng và tham gia chiếm đóng của Pháp, Mỹ, Nhật, Hàn, v.v., nhưng dường như chỉ khiến người Việt Nam hiểu biết nhiều hơn về đối phương chứ không chồng chất trong mình thêm những mối căm thù và tinh thần bài ngoại. Chính điều này làm những doanh nhân và người dân từ các nước có “vấn đề lịch sử” với Việt Nam cực kỳ thích thú, tự tin, an tâm, và mến mộ Việt Nam hơn, rằng ở giữa người Việt họ không thấy lạc lõng vì được người Việt hiểu biết, cảm thông, hợp tác, đối xử thân thiện, cũng như trân trọng văn hóa riêng của họ; trong khi dân chúng ở vài nước khác trong khu vực nhìn họ với vẻ hoặc hằn học, hoặc tò mò đầy dọ xét, hoặc lạ lẫm, hoặc không thân thiện, khiến họ không sao có được sự thoải mái, an tâm, ngay cả trong một tour du lịch nhiều sao.

Những thế mạnh khác lại hoàn toàn khả thi vì nằm trong tay chính phủ để tạo nên được nét khác biệt độc đáo cho chiến dịch “Việt Nam: Ngôi Trường Của Thế Giới” . Trong lĩnh vực đầu tư, nhà nước nhất thiết phải có các chính sách thông thoáng đối với giáo dục-đào tạo, cụ thể là về quy trình cấp phép và ưu ái cấp đất cho tất cả các dự án của các học viện có danh tiếng của nước ngoài thay vì chú trọng đến các sân golf chẳng giúp ích gì về lâu về dài cho quốc gia dân tộc, cộng với các ưu đãi về chuyển lợi nhuận về chính quốc. Trong khi cấp đất cho một công ty sản xuất có thể dẫn đến hệ quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng mà bản thân Việt Nam cũng không còn “mơ” gì (và đừng nên mơ) đến danh xưng Cơ Xưởng Của Thế Giới mà Trung Quốc đã chiếm hữu, việc cấp đất cho các trường nước ngoài xây dựng campus chỉ giúp tạo nên cảnh quan văn hóa cao, đồng thời lợi nhuận thu được cho quốc gia tất nhiên là lớn tính trên bình diện tương quan chung của các ngành và lĩnh vực của đời sống. Ngoài ra còn kể đến các chính sách đặc thù như cho phép sinh viên nước ngoài được lao động có thu nhập trong thời gian học tập tại Việt Nam cũng như ưu tiên dành cho họ những công việc họ quan tâm và có khả năng đáp ứng được ngay cả tại các công ty nhà nước Việt Nam sau khi họ tốt nghiệp, mà không phân biệt đối xử, xem họ như đối thủ cướp giật việc làm với người dân Việt Nam. Tất nhiên, chính sách là để chứng tỏ với thế giới ta có sức hấp dẫn như thế nào, chứ bản thân du học sinh nếu chọn Việt Nam là mái trường của thế giới thì họ cũng biết rõ mười mươi là cơ hội việc làm rất lớn cho họ vì ở Việt Nam ngày càng có nhiều công ty nước ngoài tìm đến kinh doanh và đầu tư.

Những lợi thế mà các đối tác là các học viện và trường học nước ngoài có thể có được khi tập trung về Việt Nam để biến Việt Nam thành Ngôi Trường Của Thế Giới, gồm chi phí thấp hơn và điều kiện bành trướng kinh doanh cực kỳ thuận lợi trong tình hình sự cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo-dạy nghề trên thế giới đã trở nên rất cao. Một trường đại học ở Mỹ chẳng hạn, khi được Việt Nam cấp phép mở chi nhánh, sẽ có được lợi thế trước hết là với “khách hàng” tại chỗ của đất nước 80 triệu dân mà đa số là giới trẻ, ngày càng có nhiều người có điều kiện kinh tế khả quan hơn, và ý thức về học-học nữa-học mãi cho một tương lai tốt hơn là đặc điểm nổi bật so với giới trẻ Âu Mỹ chú tâm nhiều đến việc kiếm “giốp” (job) hơn là cho việc học tập vốn có thể để thư thả về sau. Thứ đến là thay vì phải đến Mỹ với chi phí cao hơn, du học sinh vùng Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, và Bắc Á sẽ dễ dàng bị cuốn hút về Việt Nam để có được mảnh bằng danh giá nhưng với chi phí thấp hơn. Đó là chưa nói đến an toàn trong đầu tư vì rõ ràng là ngày nay mở trường tại những con hổ con rồng lân bang của Việt Nam đã không còn tính hấp dẫn và an toàn. Cuối cùng, các học viện nước ngoài khi đến Việt Nam không nhất thiết phải có làng sinh viên campus vì đặc điểm dân cư và địa lý của Việt Nam sẽ phù hợp hơn cho mô hình trường học với du học sinh cư ngụ bên ngoài tại các nhà trọ, khách sạn nhỏ, hay chung cư, giúp thiết kế được các gói học phí thấp hơn, tạo nên tính cạnh tranh cao hơn trong toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Nói tóm lại, khi chọn một con đường để theo đuổi, cao nhất và ưu tiên số một vẫn là dựa trên sức mạnh nội tại độc đáo, có bình diện rộng lớn hơn, có lợi thế tâm lý cao hơn trong danh dự và vinh dự của một quốc gia, có số đầu tư không quá lớn, có ít rủi ro hơn, và có nhiều lợi nhuận hơn. Phở, nếu ngon, sẽ chỉ sướng miệng, vì chưa hề có công trình nghiên cứu quốc gia về lợi điểm ưu việt của phở ở khía cạnh dinh dưỡng và sức khỏe (thí dụ như ăn một bát phở-có-đăng-ký-thương-hiệu sẽ có hiệu năng thay thế … một viên viagra), và nếu phải là phở thì sẽ chỉ tạo nên sự bất công đối với những phở-bình-dân-chưa-có-đăng-ký-thương-hiệu, rốt cuộc chỉ có lợi hơn cho cổ phiếu của các đại gia kinh doanh một món ăn nào đó mà thôi. Trong khi đó, Hàn Quốc đã nổ tung trời đất với nghiên cứu khẳng định đầy thuyết phục là món kim chi của họ giúp chống lại cúm gia cầm nên H5N1 không thể tấn công dân Hàn, và các chương trình nấu ăn của họ cực kỳ chuyên nghiệp, đầy ắp thông tin dinh dưỡng, và hấp dẫn hơn Yan Can Cook cả vạn lần, vậy mà họ có thèm làm cái chuyện nặn óc đặt một slogan “Nhà Bếp Của Thế Giới” như mấy anh Thái Lan đâu. Với một kế hoạch chiếm lĩnh vị trí “Ngôi Trường Của Thế Giới”, chúng ta giúp hạn chế “chảy máu ngoại tệ” khi mô hình du học tại chỗ vừa giúp sinh viên-học sinh Việt Nam vừa tiết kiệm được chi phí, vừa không bỏ lỡ cơ hội việc làm cũng như luôn theo kịp những đổi mới của nước nhà để hòa mình nhanh chóng ngay khi tốt nghiệp; việc đào tạo nhân tài, hệ thống đại học và cao học nước nhà có cơ hội cọ xát thực tiễn phát triển mạnh mà không phải tốn kém chi phí lặn lội ra nước ngoài “học hỏi”; lực lượng lao động đẳng cấp cao cung ứng kịp cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân thu ngắn thời gian đưa Việt Nam lên hàng cường quốc; ngành kinh tế mũi nhọn là du lịch được “ăn theo” khi gia đình và người quen của du học sinh sang Việt Nam thăm nom hoặc du lịch nhờ cách “marketing truyền khẩu” của du học sinh, giúp hình thức kinh doanh du lịch–lữ hành–khách sạn–nhà nghĩ phát triển; và cuối cùng ngay cả những người dân nghèo buôn gánh bán bưng cũng có thể tạo ra nhiều Phạm Công cho xã hội, khiến câu chuyện Phạm Công-Cúc Hoa không mãi là cổ tích, vì rằng cảnh tượng đẹp nhất tôi đã nhìn thấy trên đường Nguyễn Huệ một buổi chiều năm 2006 không phải là Chợ Hoa xô bồ tốn kém vô bổ, mà là một người đàn bà đứng tuổi, tươi vui rạng rỡ ngồi bên gánh hủ tíu mì rong bà đặt xuống gần lề đường trước khách sạn Kim Đô, phe phẩy chiếc nón lá, vui vẻ chờ một chàng da trắng cao gầy ngồi xổm trên vệ đường húp xì xà xì xụp, lóng cóng dùng đũa vớt mấy cọng mì váng mỡ lềnh bềnh trong chiếc tô mẻ. Thật tuyệt diệu nếu đó là một du học sinh, và sẽ tuyệt vời hơn khi hình ảnh như vậy rồi sẽ được bắt gặp như chuyện thường ngày ở huyện tại Việt Nam.

Và tại sao không nghĩ đến một tương lai không xa, khi Ngôi Trường Của Thế Giới đào tạo ra quá nhiều nhân tài đa chủng tộc, những người đã ở lại Việt Nam làm việc sau khi tốt nghiệp, cùng nhân tài Đất Việt giúp Việt Nam trở thành Chất Xám Của Thế Giới đoạt luôn vị trí Văn Phòng Của Thế Giới từ tay Ấn Độ?

Tác giả bài viết: Hoàng Hữu Phước
Tham khảo

1) Kim Hạnh, Người Thái Đã Đi Trước.
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=216595&ChannelID=11

2) Kotler, P., S. Jatusripitak, and S. Maesincee. 1997. The Marketing of Nations. New York: Free Press.

3) What Happened in Bohpal. http://www.bhopal.org

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO” – Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ Hán-Việt

Hoàng Hữu Phước, MIB

Ngay sau khi có tờ báo lớn của Thành phố Hồ Chí Minh có bài giật tít về “Ốc Đảo Dị Thường” để trang trọng và trân trọng tải đăng ý kiến của một đại biểu quốc hội phát biểu tại nghị trường quốc hội ở Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII cho rằng Việt Nam sẽ là như thế nếu không có “luật biểu tình” hầu trực tiếp phản bác phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước về luật ấy, tôi đã ngay lập tức viết bài Thế Nào Là “Ốc Đảo” đăng trên emotino.com để gián tiếp cho vị đại biểu quốc hội ấy và tờ báo này biết việc sử dụng từ “ốc đảo” là hoàn toàn sai, nhất là cụm từ “ốc đảo dị thường” là cách dùng từ cực kỳ dị thường xúc phạm người Việt và giới học thức, trí thức, có hiểu biết của toàn thể nhân loại. Nay tôi xin đăng lại nguyên văn bài viết này để thêm một lần nửa cảnh báo về sự cẩn trọng khi sử dụng ngôn từ tiếng Việt, nhất là từ Hán Việt, nếu như chưa học kỹ về nó.

Thế Nào Là “ỐC ĐẢO”

Sự Cẩn Trọng Trong Sử Dụng Ngôn Từ

(http://www.emotino.com/bai-viet/19475/the-nao-la-oc-dao)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Có những người ví mình như ốc đảo với ngụ ý than trời trách đất sao chẳng ai hiểu mình; hoặc gọi người khác là “ốc đảo” với ý miệt thị, công kích, ngụ ý rằng “ốc đảo” là cái kỳ dị, lạc lõng, không giống ai, không ai giống. Dù để than thân trách phận hay để bôi nhọ người khác, cách dùng từ ngữ như vậy khiến người Việt chân chính buồn lòng khi thấy ngôn từ Việt lại không được hiểu đúng bởi một thiểu số người tại quốc gia rất ham học hỏi và có lòng tự hào dân tộc cực cao này. Họ đã hiểu nhầm “ốc đảo” như hoang đảo ắt vì cả hai từ đều có … “đảo”, và vì trong tử vi tướng pháp có nói đến … “Bàn tay Hoang Ốc” nên nghĩ rằng ốc cũng thế mà hoang cũng thế, sao cũng được, xem như ốc bò lổn ngổn khắp vườn hoang.

Vậy “ốc đảo” là gì, và khi nào nên dùng từ “ốc đảo” trong phát ngôn kiểu so sánh ví von?

Theo Wikipedia tiếng Việt (do cộng tác viên Wikipedia “sáng tác” chứ không phải dịch từ nguyên tác tiếng Anh) , “Ốc đảo là một phần đất màu trên sa mạc được duy trì bởi nước ngọt. Ốc đảo thường rộng từ 1 héc-ta bao quanh các con suối nhỏ đến các diện tích rộng lớn cung cấp bởi nước tự nhiên hoặc nhân tạo (tưới). Nguồn nước ngọt chủ yếu là nước ngầm. Hai phần ba số dân cư trên Sa mạc Sahara sống tại các ốc đảo. Nguồn lương thực chính của họ là cây cọ, bên cạnh đó là chanh, cam, mơ, các loại rau và ngũ cốc khác.”

Vậy ốc đảo là nơi có sự sống duy nhất giữa chốn khắc nghiệt hoang vu, là nơi dành cho sự sống, và là nơi người tìm đến để được sống còn.

Theo Wikipedia tiếng Anh (do tác giả bài viết này dịch ra tiếng Việt từ trang Wikipedia gốc tiếng Anh), “Ốc đảo là vùng đất biệt lập có thực vật trên sa mạc, thường bao quanh bởi suối hay nguồn nước tương tự. Ốc đảo là nơi ngụ cư của muông thú và con người nếu diện tích đủ rộng. Ốc đảo giữ vị trí cực kỳ quan trọng đối với các tuyến đường đi lại và buôn bán ở các vùng sa mạc. Các đoàn lữ khách hay hành hương đều phải đi ngang qua các ốc đảo để được bổ sung nước uống và thực phẩm. Do đó, việc kiểm soát các ốc đảo về chính trị hay quân sự trong nhiều trường hợp sẽ đồng nghĩa với việc nắm quyền kinh doanh tại tuyến đường đặc biệt, chẳng hạn các ốc đảo Awjila, Ghadames, và Kufra ở nước Libya đã nhiều lúc đóng vai trò sống còn đối với giao thương Bắc-Nam và Đông-Tây của Sa mạc Sahara. Ốc đảo được hình thành từ các dòng sông ngầm hay từ các địa tầng ngậm nước, được phun lên mặt đất do áp lực tự nhiên hay do con người đào giếng chạm đến mạch. Những cơn mưa bão tuy thì thoảng mới có vẫn giúp duy trì nguồn nước ngầm của ốc đảo thiên nhiên như trường hợp của ốc đảo Tuat. Những lớp đá nền không thấm nước có thể giữ nước lại trong các hốc khe; hay những phay địa tầng dài dưới mặt đất hoặc các dãy đá mắc-ma của hỏa diệm sơn có thể thu giữ nước rồi thẩm thấu ngược lên mặt đất. Và khi có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy sự xuất hiện của nước, các loài chim thiên di sẽ bay đến, mang theo các hạt giống và các mép rìa của khu nước sẽ mọc lên cây cối hình thành nên ốc đảo.”

Như vậy, mỗi ốc đảo đều có tên riêng và có tầm quan trọng sống còn với muông thú (ốc đảo nhỏ) và con người (ốc đảo rộng hơn), là nơi mọi người tìm đến nghĩ ngơi trong cuộc hành trình buôn bán xuyên sa mạc, là nơi tồn tại như sự kỳ diệu của thiên nhiên, và là nơi mang ý nghĩa tích cực cho kẻ bi quan, rằng ngay cả ở nơi đá tảng cũng phải vỡ tan thành cát mịn thì vẫn có sự sống xanh tươi, và do đó đừng buông xuôi bạn hỡi *.

Trên thế giới có những ốc đảo rộng lớn, tiêu biểu, danh tiếng, được liệt kê như thắng cảnh du lịch, trong đó Châu Phi có 13 ốc đảo, Châu Mỹ (Bắc và Nam Mỹ) có 12, Châu Á có 12, và Châu Úc có 1 ốc đảo. Thí dụ vài trong số các “ốc đảo” lừng danh như sau:

1- Ốc đảo lớn nhất thế giới: Thung Lũng Châu Thổ Sông Nile của Ai Cập, rộng 22.000 km2. Gọi là ốc đảo vì chung quanh là sa mạc mênh mông như bức không ảnh dưới đây:

 

Như vậy, ốc đảo trên lại là vùng dân cư cực kỳ rộng lớn phì nhiêu, với nhiều thành phố và thị trấn phồn vinh. Việt Nam có vùng Châu Thổ Sông Hồng và  Châu Thổ Sông Cửu Long, nhưng đây không là ốc đảo vì toàn lãnh thổ Việt Nam là màu xanh của ruộng đồng, rừng rậm, và thảm thực vật phì nhiêu.

2-  Ốc đảo Dakhla, Ai Cập, diện tích 2.000 km2

3-  Ốc đảo Faiyum, Ai Cập, diện tích 1.700 km2

4-  Ốc đảo Siwa, Ai Cập, cây cối trải dài đến tận chân trời:

5- Ốc đảo Gaberoun, Libya, với hồ nước cực rộng, là địa danh du lịch nhộn nhịp:

6-  Ốc đảo Thung Lũng M’zap, Algeria, là thí dụ hùng hồn rằng ốc đảo này rất trù phú, với nhà cao tầng, đại lộ, và cơ sở hạ tầng sang cả cho gần 400.000 cư dân

Trong khi bức ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy ốc đảo M’zap (bôi vệt màu đỏ cho dễ thấy) đúng là…ốc đảo vì giữa vùng đất khô cằn bao la:

7-  Tương tự, Ốc đảo Tozeur của Tunisia nổi tiếng toàn thế giới về sản phẩm chà là, với cảnh quang cho các bậc đại gia hưởng lạc:

và phố thị cho dân cư cùng khách du lịch bốn phương:

8-  Ốc đảo Huacachina của Peru tuy nhỏ nhưng tấp nập du khách đến không phải để bơi lội, đua ghe, mà để chơi … trượt cát  (môn dune buggying và môn sandboarding) do có rất nhiều đụn cát cao ngất ngút:

9- Cuối cùng, trước khi quay trở lại đề tài chính là sự cẩn trọng khi dùng từ “ốc đảo”, xin dành số 9 đẹp đẽ này cho một ốc đảo lừng danh thế giới: Thung Lủng Las Vegas trong sa mạc Mojave, thuộc Bang Nevada, Hoa Kỳ, rộng 1.600km2 với khoảng 2 triệu dân cư.

Las Vegas thì hầu như ai cũng biết đến như thiên đường của giới cờ bạc, nhộn nhịp thâu đêm suốt sáng. Nhưng ít ai để ý đến thông tin khoa học cao cấp rằng đó là một ốc đảo.

Một cô gái khi gọi người yêu của mình là ốc đảo, hẳn người yêu của cô sẽ rất vui mừng và cảm động vì được cô ví von thành lẽ sống, tức là “raison d’être” của cô.

Rất có thể “Ốc Đảo Của Thế Giới” là thương hiệu quốc gia** đầy vinh dự và vẻ vang mà quốc gia nào cũng ước mơ có được. Song, sẽ không ai dám nói nước mình là “Ốc Đảo Của Thế Giới”, vì như thế chẳng khác nào ám chỉ cả thế giới hoang tàn, sa mạc hóa, loạn lạc, nhiễu nhương, đói khát, hoặc bị hủy diệt vì chiến tranh hạt nhân. Trong thế giới đại đồng toàn cầu hóa này, sự tôn trọng các quốc gia khác cũng như nền văn hóa và chủ quyền của họ luôn là sự thể hiện của văn minh, văn hóa, lịch sự, và trí hóa.

Có thể rồi sẽ có các tour du lịch từ Việt Nam đến các ốc đảo trên thế giới. Giá tour ban đầu ắt chỉ phù hợp với túi tiền của các đại gia vì ốc đảo là những thiên đường tuyệt diệu Thượng Đế đã ban như những nét chấm phá của Người làm đẹp thêm bức tranh toàn mỹ của hành tinh yêu quý mà chúng ta gọi là Trái Đất này vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

* Đừng Buông Xuôi. 21-8-2008. http://www.emotino.com/bai-viet/16930/dung-buong-xuoi

** Đề Xuất Một Thương Hiệu Quốc Gia Cho Việt Nam. 07-8-2008. http://www.emotino.com/bai-viet/16874/de-xuat-mot-thuong-hieu-quoc-gia-cho-viet-nam

Xin đăng bổ sung bằng chứng tác giả bài viết trên thường “giúp” báo chí dùng từ ngữ Hán-Việt chuẩn xác hơn:


Vì sao cần phải thông qua Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp 1992

(Nội dung bài phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước soạn cho phiên thảo luận ở Hội trường Quốc hội trong khuôn viên Bộ Quốc Phòng sáng Thứ Hai 18-11-2013 về việc chỉnh lý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Do thời gian chỉ có thể dành cho từ 10 đến 20 đại biểu phát biểu cho mỗi phiên thảo luận nên Quốc hội đã đổi thành góp ý trực tiếp vào Dự thảo để hơn 450 đại biểu có cơ hội cùng nêu được chính kiến của mình và đóng góp thêm ý kiến cho những nội dung chính còn có những điểm khác biệt.)

Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

 

Nghị quyết số 38 của Quốc hội về tổ chức lấy ý kiến của nhân dân về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 đã được triển khai sâu rộng, nghiêm túc, thu hút được sự tham gia tích cực, tâm huyết của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong thời gian từ 02-01-2013 đến 30-4-2013 và từ 01-5-2013 đến 30-9-2013. Ngoài báo cáo tổng hợp ý kiến của nhân dân nói trên, Ban Biên Tập của Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 còn có báo cáo tổng hợp ý kiến của Đại biểu Quốc hội trong các phiên thảo luận tại Tổ ngày 23-10-2012 đóng góp nhiều ý kiến cụ thể xác đáng để hoàn thiện bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp.

Khi nêu những ý kiến khác nhau về Lời nói đầu, Chế độ chính trị, Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Kinh tế  – xã hội – văn hóa – giáo dục – khoa học – công nghệ – môi trường, chính quyền địa phương, v.v., cử tri đã có cơ hội được nghe Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp giải trình sâu sắc, thực tế, đầy sức thuyết phục cho từng vấn đề một, từ đó cơ bản tán thành với Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đồng thời nắm bắt những nội dung đã được Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp tiếp thu và chỉnh lý một cách hợp lý, phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân vào trong Dự thảo. Đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trên phạm vi toàn quốc này, do đó đã trở thành cơ hội tuyệt diệu để người dân góp ý dựa trên sự hiểu biết và trí tuệ của mình về những “best practice” tức những cách thức tốt nhất khả thi khả dụng từ sách vở cũng như thực tế đời sống chính trị thuần túy nước ngoài mà thông tin điện tử có thể cung cấp dồi dào phong phú, và sau đó được nghe các giải trình từ những người có trách nhiệm cao với tiền đồ tổ quốc để biết rõ hơn về những cách thức tốt nhất khả thi khả dụng được minh chứng thành công trong quá trình xây dựng đất nước thống nhất, độc lập, xã hội chủ nghĩa, phát triển, và có uy thế lớn mạnh trên trường quốc tế từ kinh nghiệm trị quốc và bảo vệ đất nước của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cùng những thành tựu nổi bật về ổn định chính trị, phát triển kinh tế, xuất sắc vượt qua cấm vận kinh tế và vượt qua suy thoái kinh tế toàn cầu mà cả hai đều do các siêu cường quốc kinh tế gây ra, nâng cao uy thế ngoại giao, thi thố năng lực đối ngoại có thực và đứng vào vị trí lãnh đạo các tổ chức lớn quốc tế, đặc biệt thích hợp với đất nước Việt Nam cũng như hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Sự hiểu biết và trí tuệ của nhân dân cùng với sự hiểu biết và trí tuệ của các đại biểu quốc hội và sự hiểu biết và trí tuệ của những người đã kinh qua thành công thực tế lãnh đạo đấu tranh lập quốc thành công, vệ quốc thành công, kiến quốc thành công, và trị quốc thành công, giúp bản Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có được sự hoàn hảo thích hợp.

Đợt sinh hoạt chính trị sửa đổi Hiến pháp 1992 của Việt Nam còn là một trường hợp đầu tiên chưa từng có tiền lệ của toàn nhân loại khi cả thế giới không phân biệt chánh – tà đều ra sức “đóng góp” ý kiến cho Quốc hội Việt Nam, từ những tổ chức quốc tế thí dụ như Cơ Quan Chương Trình Phát Triển Liên Hợp Quốc UNDP được Việt Nam mời góp ý về kinh tế, chính quyền địa phương và thiết chế hiến định độc lập trong Dự thảo Sửa đổi Hiến pháp 1992 để Việt Nam dùng làm tư liệu tham khảo, cho đến những người mang quốc tịch nước ngoài chống Việt Nam nhưng rất kém tiếng nước ngoài vì chỉ sử dụng những cái tên Việt không thể kiểm chứng mà Việt Nam không bao giờ quan tâm mời mọc, để dùng các trang mạng miễn phí tập trung rao giảng bằng tiếng Việt hòng đem những điều cũ rích mà Việt Nam đã biết quá rõ là đã và đang làm cho thế giới Âu Mỹ đảo điên ngập ngụa trong suy thoái khủng hoảng suy tàn để đòi Việt Nam áp dụng y hệt. Thậm chí cái nhóm èo uột bá láp có tên HRW còn đăng thư gởi Chủ tịch Quốc hội Việt Nam với lời lẽ trịch thượng nhằm răn đe dạy bảo Quốc hội Việt Nam phải sửa Hiến pháp 1992 ra sao và ra sao.

Việt Nam đã bao phen sửa đổi hiến pháp vào những thời kỳ thích hợp, sau những thời gian áp dụng, ứng dụng, chiêm nghiệm, điều chỉnh, đúc-rút kinh nghiệm, nhờ đó đã tạo nên những chiến thắng kỳ vĩ trong thống nhất đất nước, xây dựng đất nước, và bảo vệ đất nước, hấp thu có chọn lọc cao nhất những tinh hoa tối ưu của nước ngoài để hòa quyện vào kho tàng thực tiến nước nhà tạo nên sức mạnh tạo biến chuyển về kinh tế từ đó đạt được những vị trí cao trên trường quốc tế, danh vang bốn bể năm châu. Mỗi lần sửa đổi hiến pháp là mỗi lần Quốc hội Việt Nam đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển mới thích hợp nhất với  điều kiện thực tiễn nước nhà cùng không gian địa-chính trị sinh tồn hiện có, trên nền tảng chính trị cộng sản chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh vững chắc mang tính chân lý, bất di bất dịch, đã, đang, và sẽ tiếp tục chứng minh thành công, chiến thắng. Kinh nghiệm lập quốc, kinh nghiệm vệ quốc, kinh nghiệm kiến quốc, và kinh nghiệm trị quốc đã khiến Nhà nước Việt Nam và những người cộng sản Việt Nam có vị trí nổi bật trong lập hiến và lập pháp so với phần còn lại của thế giới.

Tất cả những điều nêu trên khiến Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 của Việt Nam trở nên kỳ vĩ, có giá trị cao, chắc chắn là cơ sở vững chắc để Việt Nam phát triển hùng mạnh trong những thập niên sắp đến. Việc thông qua bản Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992 trên nền tư tưởng Hồ Chí Minhý chí Võ Nguyên Giáp chính là sự tự hào đầy vinh dự trong trách nhiệm lớn lao của Quốc Hội Khóa XIII đối với toàn dân tộc Việt Nam. Sự tích cực ra tay hô hào cản ngăn việc thông qua Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp Năm 1992  tại Kỳ họp thứ 6 này chính là dấu hiệu cho thấy sự run sợ khiếp đảm của các phe nhóm phản động dù không có bất kỳ kinh nghiệm cỏn con hay kiến thức tí tẹo nào về lập quốc, vệ quốc, kiến quốc, trị quốc, lập hiến và lập pháp, vẫn muối mặt ra sức hét hò chỉ vì không bao giờ muốn chứng kiến Việt Nam thêm một lần nữa sửa đổi hiến pháp thành công, trở thành cường quốc.

Hoàng Hữu Phước, Thạc sĩ kinh doanh Quốc tế

ĐBQH Khóa XIII, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Về thực quyền, thực uy

Bài viết của Hoàng Hữu Phước trên báo Đại Biểu Nhân Dân số ra ngày 26/11/2013

Kỳ họp thứ Sáu của Quốc hội Khóa XIII sắp đến ngày bế mạc. Rất nhiều việc trọng đại trong chương trình nghị sự đã được hoàn tất và đang được tiếp tục hoàn tất, mà nhiều trong số đó đã làm Quốc hội Khóa XIII có một vị thế quan trọng trong lịch sử lập pháp nước nhà. Song, vẫn còn đó những việc cần phải đổi mới để cơ quan được hiến định là có quyền lực cao nhất của đất nước thực sự thể hiện được cái thực quyềnthực uy của chính mình.

Ngay trước ngày khai mạc Kỳ họp thứ Sáu này, ngành tư pháp đã bị một vết nhơ với vụ án oan, mà vị chủ tọa phiên xét xử sơ thẩm đối với tù nhân chung thân này khi vụ oan án được đưa ra ánh sáng đã hỗn láo nói với báo chí rằng nếu bị cáo có oan sai thì trách nhiệm là do Quốc hội. Phải chăng chính Quốc hội phải chịu trách nhiệm vì đã tắc trách trong các khâu giáo dục, đào tạo, phân công, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ, dẫn đến việc có những quan chức tư pháp chễm chệ ngồi cao ban phát án tử oan sai cho lương dân vô tội. Cơ quan quyền lực nhất của quốc gia lại trở thành nơi được vị chánh án tắc trách ấy phân công đứng ra chịu trách nhiệm tập thể cho cái tắc trách của cá nhân y. Sao chúng ta thậm chí không dám có đến một lời chấn chỉnh sự phạm thượng của y.

Cái thực uy, thực quyền của Quốc hội được thể hiện qua cái thực quyền, thực uy của từng ĐBQH, người theo hiến định đại diện cho cử tri ở đơn vị bầu cử và trên phạm vi toàn quốc, chứ không chỉ hiện hữu nơi Chủ tịch Quốc hội và các Phó chủ tịch Quốc hội. Chỉ khi các ĐBQH được trao cho thực quyền và được tạo điều kiện có được thực uy, việc phục vụ nhân dân và phụng sự đất nước mới có hiệu quả, góp phần vào sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, và sự trường tồn của chế độ. ĐBQH không thể có thực quyền và không bao giờ có thực uy nếu công văn của ĐBQH không được cá nhân quan chức chính phủ hay chính quyền địa phương trực tiếp trả lời đúng thời hạn luật định, yêu cầu của ĐBQH đối với khiếu nại, tố cáo của cử tri không được cá nhân quan chức chính phủ hay chính quyền địa phương trực tiếp hay chỉ đạo ưu tiên đáp ứng, và đề nghị tiếp xúc của ĐBQH để giải quyết khiếu nại, tố cáo hay bức xúc chính đáng của cử tri không được cá nhân quan chức chính phủ hay chính quyền địa phương nhanh chóng đáp ứng. Một khi lãnh đạo cơ quan dân cử nghiêm khắc ra uy và tỏ quyền lực với những người lãnh đạo hành pháp cũng như buộc toàn hệ thống công quyền phải phục vụ ĐBQH ngay lập tức và chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm cho sự phục vụ này thay vì xem ĐBQH như những người dân phải chờ đợi sự ban ơn theo thứ tự xếp hàng trước sau, thì lãnh đạo Quốc hội đã giúp các ĐBQH có thực uy, thực quyền để thi thố trong giúp dân, giúp nước, giúp Đảng; phòng – chống – trị tham nhũng, quan liêu, tiêu cực; phục vụ tốt cho dân, tích cực chuyển biến dân sinh, an được dân tình…

Để sử dụng được cái quyền và thể hiện tốt cái uy của người thuộc cơ quan quyền lực nhất quốc gia, ĐBQH tất nhiên phải tự thân có được cái tâm và cái thế của người có thể gánh được trách nhiệm nặng nề không thể tách rời khỏi hai chữ quyền, uy. Việc rất dễ làm tốt của ĐBQH là chuyển đơn của cử tri đến nơi cần nhận, và – khi được thư ký có trách nhiệm nhắc nhở lúc quá hạn – gửi tiếp thư đôn đốc nơi đã nhận, đề nghị “xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, và trả lời cho công dân.” Nhưng với thực quyền, thực uy, ĐBQH có thể (a) đề nghị giải pháp giải quyết gửi người có trách nhiệm xử lý ở cơ quan chức năng, (b) yêu cầu người có trách nhiệm xử lý ở cơ quan chức năng đề xuất giải pháp giải quyết, (c) yêu cầu người có trách nhiệm xử lý ở cơ quan chức năng xác nhận thời gian cụ thể để ĐBQH cùng dân đến gặp trực tiếp đối thoại giải quyết vụ việc, và (d) yêu cầu người có trách nhiệm ở cơ quan quản lý người có trách nhiệm xử lý ở địa phương can thiệp ngay khi có sự không tích cực của vị này trong đáp ứng các yêu cầu của ĐBQH. Không trao thực quyền và giúp tạo thực uy cho ĐBQH, lãnh đạo QH và Nhà nước không bao giờ có thể biết ai là ĐBQH thực sự vì nước, thực sự vì dân, thực sự đáp ứng những thang điểm đánh giá cụ thể của QH, của Nhà nước, của Đảng đối với việc họ có xứng đáng cho những tôn vinh hay phần thưởng – nếu có theo luật định – hay không; cũng như cử tri không thể biết được tầm vóc và tâm thế của ĐBQH mà họ đã bỏ phiếu bầu và có thể bỏ phiếu bầu cho nhiệm kỳ kế tiếp. Kỳ bầu cử cho ra danh sách những người được dân bầu, nhưng những khiếu tố kéo dài kiểu tự phát mà không tìm đến ĐBQH hay Đoàn ĐBQH chỉ chứng minh cử tri đã bầu chọn những người họ chưa rõ về tâm thế và tầm vóc, và cũng không tin cậy để bày tỏ tâm tư.

Hoàng Hữu Phước
ĐBQH TP Hồ Chí Minh

Nguồn::

1) http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=76&NewsId=299444

2) Báo Dại Biểu Nhân Dân số ra ngày 26-11-2013, Trang 3

Hoàng Hữu Phước góp ý cho Dự án Luật Xây Dựng (Sửa đổi)

Bài phát biểu tại Hội trường Quốc hội sáng Thứ Hai 25-11-2013


Kính thưa Quốc hội:

Tôi xin có các ý kiến sau về Dự Án Luật Xây Dựng (sửa đổi):

1)      Về Các Loại Hợp Đồng Xây Dựng:

Điều 135.2.c: Hợp Đồng Cung Cấp Thiết Bị Công Nghệ:

Xin Ban Soạn Thảo xem lại vì do hợp đồng xây dựng là giữa Bên Giao Thầu và Bên Nhận Thầu, hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ không thể được liệt kê như một trong những loại hợp đồng xây dựng, mà là hợp đồng mua bán đơn thuần giữa Bên Mua thiết bị công nghệ và Bên Bán thiết bị công nghệ ấy. Trong trường hợp này, Bên Nhận Thầu thường là Bên Mua, khác với công trình xây dựng gia dụng của cá nhân mà chủ nhà hay giành lấy phần mua sắm. Bên Bán thiết bị công nghệ do đó chỉ có nghĩa vụ thực hiện và chịu trách nhiệm thực hiện phần việc của Bên Bán như ghi trong hợp đồng mua bán giữa họ với nhau chứ không chịu trách nhiệm bất kỳ đối với Bên Giao Thầu; đồng thời Bên Giao Thầu không có nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán cho Bên Bán thiết bị công nghệ.

2)      Về Xây Dựng Công Trình Đặc Thù

a- Điều 123.1 Công trình bí mật nhà nước cần ghi vài chi tiết nhằm cho thấy mức độ cao cấp đòi hỏi công nghệ cao như hầm trú ẩn khi có sự cố vụ nổ hạt nhân trong hoặc không trong chiến tranh, v.v.

b- Điều 123 còn cần có thêm Điều 123.4 mới, chuyển Điều 123.4 hiện có thành Điều 123.5, cụ thể điều mới liệt kê ít nhất vài công trình xây dựng đặc thù như

-          Công trình thủy lợi, thủy điện, phong điện, điện nguyên tử, điện nhật quang, kể cả nhiệt điện

-          Công trình xây dựng sân bay, bến cảng, cầu qua sông vượt biển

-          Công trình giao thông đường hầm xuyên núi, dưới lòng đất, trên cao xuyên phố thị

-          Công trình xây dựng các khu vui chơi giải trí hiện đại kiểu theme parks, các tòa nhà siêu cao tầng, siêu rộng, siêu sâu.

Mục đích của việc liệt kê này là để diễn giải ý nghĩa của “đặc thù” vốn luôn đòi hỏi công nghệ cao không những nơi đội ngũ chuyên viên đảm trách các phần việc mà còn trong việc xây dựng, kể cả công tác quản lý thi công, giám sát thi công, và nghiệm thu, v.v., luôn đi kèm theo đó là trách nhiệm trước pháp luật kể cả đối với luật hình.

3)      Về Giám Sát Thi Công Xây Dựng Công Trình:

Do giám sát thi công là khâu quan trọng dễ phát sinh tiêu cực góp phần trầm trọng hóa vấn nạn tham nhũng, nhưng thường bị hoặc xem thường, hoặc lợi dụng, hoặc chỉ là hình thức cho vui, dẫn đến việc đã có những cột mốc công nghệ bê tông cốt tre dọc tuyến quốc lộ, hay công trình xây nhà máy thủy điện bị xe tải hạng trung chạm vỡ như bánh biscuit hoặc nước chảy lờ đờ xô sập, để đảm bảo các Điều 116.3.c quy định việc giám sát thi công xây dựng phải trung thực, khách quan, không vụ lợi; Điều 117.2.đ quy định chủ đầu tư xây dựng có nghĩa vụ không được thông đồng hoặc dùng ảnh hưởng của mình để áp đặt làm sai lệch kết quả giám sát; và Điều 118.2.e quy định nhà thầu giám sát thi công có nghĩa vụ không được thông đồng với nhà thầu thi công xây dựng, với chủ đầu tư và có các hành vi vi phạm khác làm sai lệch kết quả giám sát; không chỉ là những nội dung điểm trang cho dự án Luật này thêm xinh đẹp vẻ văn, Dự thảo Nghị định về Quản lý Chất lượng Công trình Xây dựng do đó cần được biên tập lại nơi các điều 27 và 31 theo hướng thêm các chi tiết nghiêm nhặt hơn, có nhiều những giá trị cộng thêm hơn, chẳng hạn Điều 27 nên có quy định số lượng nhân sự phải đông cho mỗi nội dung giám sát vì sẽ khiến kẻ muốn kết quả giám sát sai lệch phải suy nghĩ lại do tiêu cực phí bôi trơn tăng cao; và thêm Điều 31.5 về Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng, theo đó nhất thiết phải có các phần bảo vệ môi trường, tôn tạo cảnh quang, và chất lượng các công trình phụ trợ như hệ thống thoát nước, v.v., do thực tế cho thấy mỗi khi một công trình xây dựng hoàn tất là phải có cảnh nhếch nhác của xà bần, rác rến, bụi bẩn; còn công trình cầu vượt sông ở nhiều nơi thành chỗ tập kết rác và vật liệu xây dựng ngỗn ngang ở các gầm cầu trong khi phim ảnh Hàn Quốc cho thấy dạ cầu chính là nơi tuyệt đẹp về đêm mà các nhân vật trong phim hay lái xe đến đấy để hoặc nói chuyện tâm tình nghiêm túc sang trọng quý phái hoặc gào to hét lớn giải tỏa uẩn ức nỗi lòng.

Phải ấn định việc tạo cảnh quang cho công trình là trách nhiệm đương nhiên của Bên Nhận Thầu đối với môi trường, không được tính chi phí trong giá trị thi công trong hợp đồng. Anh bán phở mà đòi thêm tiền treo tranh ảnh hoa hòe, quét rác, và lau sạch bàn ghế sau mỗi lần phục vụ thực khách thì không phải là chuyện không đùa.

Ngoài ra, do đây là bộ luật được sự quan tâm của các nhà thầu và các nhà đầu tư nước ngoài, xin ban biên soạn dự thảo vui lòng dùng bảng chữ cái tiếng Anh trong đánh số các điều khoản, vì cách dùng a b c d đ e g … rất kỳ lạ do đã không dùng các chữ cái tiếng Việt khác như ă â ê…, còn chữ đ thì không thể ghi trong bản dịch tiếng Anh của luật này, và người nước ngoài cùng luật sư của họ thì không hiểu đ là ký hiệu gì, phải phát âm ra sao, và gõ thế nào trong văn bản họ gửi cơ quan chức năng của ta. Nội dung này tôi đã gởi lãnh đạo Quốc hội để mong được áp dụng trong tất cả các bộ luật của Việt Nam.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Hoàng Hữu Phước chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Phiên chất vấn tại Hội trường Quốc hội ngày Thứ Ba 19-11-2013


Kính chào Bộ trưởng

Tôi xin có các câu hỏi sau:

1) Về chính sách thu mua tạm trữ lúa, gạo, cà phê.

Nghị định 109 năm 2010 của Chính phủ quy định các doanh nghiệp xuất khẩu gạo kể từ năm 2011 phải có kho chứa ít nhất 5.000 tấn gạo, phải có nhà máy xay xát công suất tối thiểu 10 tấn gạo/giờ, phải thường xuyên duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu tương đương 10% số lượng gạo mà doanh nghiệp đã xuất trong 6 tháng liền kề trước đó, đồng thời có sẵn lượng gạo ít nhất bằng 50% số lượng gạo trong hợp đồng xuất khẩu đăng ký. Đây là cột mốc quan trọng mang tính chuyên nghiệp đầu tiên cho ngành kỹ nghệ gạo. Rất tiếc là khi nói về “kho chứa”, ai cũng biết ngay đó là dạng nhà đơn giản gồm các bức vách gạch xi măng, mái kho lợp tôn tráng kẽm, với các cửa ra vào và nhiều  ống thông khí trên nóc, còn gạo đóng bao đay được để chất chồng trên các “pallet” gỗ tạp, dễ bị nóng ẩm làm hư hỏng, bị côn trùng chuột bọ làm hao hụt, làm xấu thêm tình trạng thất thoát sau thu hoạch. Xin Bộ trưởng cho biết việc giám sát các kho của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo có đã thường xuyên được tiến hành; việc đầu tư xây dựng hệ thống silo đã có trong chương trình bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, phục vụ xuất khẩu gạo hay chưa; và gần đây việc yêu cầu nhà nước mua tạm trữ nhiều trăm ngàn tấn cà phê – trong khi đó là việc lẽ ra phải là của các “đại gia” cà phê – có sẽ dẫn đến việc có nghị định tương tự, quy định nhà xuất khẩu cà phê cũng phải có “nhà kho” “duy trì mức dự trữ lưu thông tối thiểu” hay không.

2) Về đào tạo kỹ năng cho nông dân:

Theo các điều nghiên của Tổ Chức Lương Nông Liên Hợp Quốc thì tác động của sự ấm lên toàn cầu và sự dâng lên của nước biển sẽ khiến Việt Nam trong vòng từ 5 đến 10 năm nữa sẽ mất từ 20% đến 30% ruộng lúa vùng Châu Thổ Sông Cửu Long do tình trạng bị ngập mặn. Thiên tai lũ lụt khiến tình hình càng xấu thêm trên phạm vi toàn quốc.

Xin Bộ trưởng cho biết các kỹ năng sau cho nông hộ ngành nông lâm trong đối phó với các khắc nghiệt của môi trường có đã và đang được thực hiện và có hiệu quả hay không: kỹ thuật gieo trồng canh tác tương tác nông lâm như nông-lâm-chăn nuôi, nuôi trồng dưới tán rừng, trồng cây chống lụt, trồng cây bảo vệ môi trường sinh thái, trồng cây chống gió, trồng cây chống chuồi lở đất vùng sườn đồi, và trồng cây tăng màu cho đất, v.v.

Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng.

Kính chúc Bộ trưởng sức khỏe, hạnh phúc, và thành công.

Hoàng Hữu Phước

Đại biểu Quốc hội, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

Bài phỏng vấn Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước trên báo Văn Nghệ Trẻ, số ra ngày Chủ nhật 24-11-2013, trang 22 (phụ trương của Tuần báo Văn Nghệ – Hội Nhà Văn Việt Nam)

 

Cần giải quyết quyết dứt điểm những khiếu nại, tố cáo của công dân

(Phỏng vấn ông Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH Tp. HCM)

Phóng viên (PV): Thưa ông, công dân Hoàng Hữu Hiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh có 5 vụ khiếu tố được gọi là “kỳ án” về tranh chấp nhà đất kéo dài hơn 15 năm qua mà hàng chục tờ báo phản ánh, hàng trăm kiến nghị của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội…đề nghị chính quyền Thành phố xem xét giải quyết. Được biết ông cũng giành nhiều thời gian tiếp xúc, lắng nghe về những vụ việc trên?

Đại biểu Hoàng Hữu Phước: Ngay sau kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII năm 2011, tôi đã nhận bộ hồ sơ có 5 nội dung khiếu tố của công dân Hoàng Hữu Hiệp về tranh chấp nhà đất, với rất nhiều những tư liệu đính kèm, bao gồm các công văn của các lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội, và các bài báo viết về các nội dung khiếu tố này. Tôi đã nhiều lần tiếp công dân Hoàng Hữu Hiệp tại Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh để lắng nghe ông trình bày thêm vì vụ việc có nhiều nội dung, tính phức tạp cao, và đã kéo dài quá lâu; nhờ vậy tôi hiểu được các bức xúc của ông Hiệp và tôi biết mình nên làm gì để có hướng giải quyết thích hợp.

PV: Chúng tôi được biết ngày 24/7/2013 ông đã có 3 công văn kiến nghị gửi Chánh án TANDTC, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội, Giám đốc Công an Tp. Hồ Chí Minh đề nghị cho ông Hiệp được trực tiếp trình bày về các vụ khiếu tố đã kéo dài nhiều năm, ông đã nhận được công văn trả lời của các cơ quan trên chưa?

Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tôi nhận thấy các vị Đại biểu Quốc hội đoàn Thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều khóa qua đã tích cực chuyển đơn của công dân Hoàng Hữu Hiệp đến các cơ quan chức năng yêu cầu xem xét giải quyết, nhưng sự phản hồi hoặc chậm (khiến có những thư đôn đốc), hoặc thờ ơ (như yêu cầu liên hệ cơ quan khác để biết kết quả, hoặc từ chối giải quyết với lý do đơn khiếu nại không có tình tiết gì mới), hoặc không trả lời (có thể do đơn giản cho rằng đã trả lời rồi trước đó). Tôi không chấp nhận việc trong thời gian dài mà sự “tích cực” của Đại biểu Quốc hội lại chỉ lập đi lập lại dưới dạng chuyển đơn, nên đã có các công văn nêu trên, đề nghị các vị lãnh đạo cho ông Hiệp được gặp để trực tiếp trình bày bức xúc của mình. Cụ thể đối với Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao: tháng 01-2013 tôi gởi chuyển đơn khiếu tố của ông Hiệp, đến tháng 3-2013 tôi gởi tiếp một thư đôn đốc, và tháng 7-2013 tôi gởi thư đề nghị Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao dành thời gian bất kỳ vào ngày nào trong hai tháng còn lại của quý III năm 2013 cho đến trước ngày khai mạc Kỳ họp 6 của Quốc hội, tại bất kỳ địa phương nào trên toàn lãnh thổ Việt Nam thuận tiện cho lịch công tác của Ông Chánh án, để công dân Hoàng Hữu Hiệp được gặp trực tiếp để trình bày các bức xúc đối với các nội dung có liên quan khiếu tố, đồng thời tôi sẽ cùng có mặt với công dân Hoàng Hữu Hiệp trong buổi tiếp xúc này. Nội dung tương tự cũng được gởi đến Giám đốc Công an Tp Hồ Chí Minh. Còn bức thứ ba gởi Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội, chỉ yêu cầu ông Chủ nhiệm xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, trả lời công dân, và thông báo kết quả cho tôi. Đến nay kỳ họp thứ 6 của Quốc hội đã sắp đến ngày bế mạc, tôi vẫn chưa nhận được công văn trả lời của các vị trên.

PV: Những kiến nghị trên là làm đúng nhiệm vụ, chức năng của một đại biểu Quốc hội mà các cơ quan bảo vệ pháp luật vẫn im lặng, huống hồ một công dân bình thường như ông Hoàng Hữu Hiệp phải lao đao khiếu kiện hơn 15 năm qua. Ông có quan điểm gì về vấn đề này?

Tôi hiểu các bức xúc của người dân và tôi hiểu các cơ quan chức năng đã thực hiện công việc của họ. Tuy nhiên, cái đúng theo luật định mà cơ quan chức năng hành xử khi giải quyết các khiếu tố của người dân lại thiếu một điều quan trọng: cái tâm, cái tầm của người trực tiếp xử lý. Anh làm đúng quy định bằng cách ra văn bản trả lời ngắn gọn rằng “vụ việc này không thuộc thẩm quyền xử lý của chúng tôi”, hoặc rằng “không xử lý tiếp vì đơn của ông/bà không cung cấp thêm các tình tiết mới nào”; thay vì nên là “đề nghị ông/bà liên hệ đồng chí … ở Phòng/Ban…, tại cơ quan…..địa chỉ …….., là nơi có thẩm quyền xử lý việc ông/bà phản ảnh”, và “do không có thêm tình tiết mới, kính mời ông/bà vui lòng đến gặp tôi/đồng chí…, ở Phòng/Ban…, vào lúc…ngày….để tôi/đồng chí… giải thích và có tư vấn thích hợp”. Làm việc theo bài bản với trách nhiệm và có tâm có tầm là phong cách người cán bộ/công chức/viên chức mà Đảng và Nhà nước trông đợi, và là chuẩn mực cho những đề bạt. Đạo đức phục vụ nhân dân phải bao gồm làm tròn bổn phận của “đầy tớ” và không được gây họa cho thủ trưởng cấp trên. Không tiếp người khiếu tố, khiến họ đưa vụ việc lên cấp cao hơn, thậm chí lên Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Nước, thì đã là vô đạo đức rồi.

PV:. Vụ khiếu tố nhà 181 Đề Thám, Tòa án ND Tp. HCM tuyên buộc UBND Tp. HCM xem xét trả lại nhà cho gia đình liệt sĩ từ năm 2000, vụ nhà 128 B Nguyễn Đình Chính đã được Tòa phúc thẩm TANDTC giao Tòa án NDTP. HCM xét xử lại từ 13/5/2011, vụ nhà 6B Trần Cao Vân đã được UBND Tp. HCM giao Chánh Thanh tra Thành phố thanh tra lại từ ngày 26/12/2012, nhưng đến nay cả 3 vụ vẫn không có kết quả trả lời. Theo ông, có điều gì bất thường trong các vụ khiếu tố trên?

Bất kỳ ai khi đọc các tài liệu và các bài báo về những vụ khiếu tố ấy đều có cùng nghi vấn về những “điều bất thường”. Chỉ có một cách duy nhất đúng và hiệu quả để giải quyết tất cả các vụ việc này: đáp ứng nguyện vọng nhiều năm nay của Ông Hiệp là được gặp trực tiếp các lãnh đạo. Tại buổi tiếp xúc “trong mơ” ấy, ông Hiệp trình bày các thắc mắc của ông, và thủ trưởng cơ quan chức năng đưa ra các dẫn chứng pháp luật và bằng chứng chứng minh cơ quan đã có quyết định xử lý đúng luật, đúng lý, đúng tình. Nếu ông Hiệp không tự bảo vệ mình được với các dẫn chứng pháp luật và bằng chứng chứng minh ông đúng, ông sẽ phải chấp nhận cách xử lý của cơ quan này; nếu ngược lại, cơ quan có trách nhiệm phải thay đổi các quyết định đã ban hành và xem xét những thiệt hại đã gây ra cho ông Hiệp.

PV: Vụ án tù oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang làm chấn động dư luận và 5 vụ “kỳ án” kéo dài, hành khổ công dân Hoàng Hữu Hiệp là những bằng chứng về xâm phạm hoạt động tư pháp. Ông nhìn nhận thế nào về những hiện trạng này?

Trước khi ra Hà Nội dự Kỳ họp thứ 6,  tôi có nhận được thư của một luật sư ở Bắc Giang “cầu cứu” vì một thân chủ là sĩ quan công an được cho là bị xử oan khiến từ người có công phá nhiều vụ án ma túy trở thành kẻ tội đồ về ma túy, còn kẻ được cho là “trùm ma túy” thoát án tử hình vì có công “khai ra” việc đòi hối lộ của vị sĩ quan ấy. Theo bài bản chuyên nghiệp, tôi có khuyên người viết hãy trực tiếp gởi đến Đoàn ĐBQH Tỉnh Bắc Giang. Nay với vụ án của ông Nguyễn Thanh Chấn và các vụ khiếu tố của Ông Hoàng Hữu Hiệp, tôi cho rằng đã có hai khâu còn yếu trong hoạt động tư pháp, đó là thực thi các quyền của tư pháp và giám sát việc thực thi các quyền đó.

PV: Gần đây, nhiều ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt vấn đề, có hay không việc tham nhũng, bảo kê ngay chính các cơ quan chống tham nhũng và sự mất niềm tin của dân vào chính quyền dẫn đến manh động, tự xử. Cá nhân ông nhìn nhận về những vấn đề này?

Tôi đồng tình với ý kiến nơi nào có chính quyền, nơi ấy tất có tham nhũng. Song, tôi không bao giờ cho rằng không bao giờ có cách hữu hiệu để phòngtrị tham nhũng. Tham nhũng luôn là quốc nạn, do đó “chống” là việc bình thường của mọi chính phủ ở mọi quốc gia. Cái cần thiết ở đây là “trị” tức “trừng trị”, và đây là công cụ giúp phân biệt được một chính quyền vững mạnh với một chính quyền tự hủy hoại mình. Tôi tin tưởng vào luật pháp nên không thể nói có hay không có tham nhũng trong nội bộ các cơ quan chống tham nhũng vì phải có chứng cớ và nhân chứng để không oan sai, tránh tội vu khống và vu cáo, và để trừng trị hiệu quả, thích đáng. Người dân, dù bất kỳ trong trường hợp nào, cũng không được “manh động, tự xử” vì rằng họ từ bỏ khả năng có công lớn trong phòng-chống tham nhũng và rước lấy trọng án vào thân. “Mất niềm tin” là hành vi chủ động, chứ không là bị động; do đó, không thể đổ cho hoàn cảnh. Luôn có niềm tin vào “công lý” và “luật pháp quốc gia”, nghĩa là sự oan sai, oan ức, đòi hỏi người đang chịu oan sai, oan ức phải kiên trì tìm cách đưa cái oan sai oan ức ấy đến đúng người, đúng nơi, đúng chỗ, kèm với những chứng cớ có thể giúp người đúng, nơi đúng, và chỗ đúng ấy xóa được ức, giải được oan. Bọn tham nhũng xem thường luật pháp, cần phải bị trừng trị. Người “manh động tự xử” vừa xem thường luật pháp, vừa gây hại cho an ninh trật tự xã hội, vừa giúp bọn tham nhũng thoát khỏi lưới trời pháp luật. Bao Công chỉ là một chức quan nhỏ tại một địa phương của một đất nước rộng lớn, mà người bị oan ức oan sai phải tự thân lặn lội tìm đến gióng trống kêu oan.

PV: Trong những đăng đàn gần đây, lãnh đạo Đảng, Chính quyền Tp. HCM thường nói chính quyền phải gần dân, trọng dân, tăng cường đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân một cách cầu thị…Ông đánh giá thế nào về những phát biểu trên? Theo ông, để giải quyết triệt để những vụ việc khiếu tố kéo dài, như các vụ của ông Hiệp, chính quyền và các cơ quan pháp luật ở Thành phố phải làm gì?

Đó là hành động rất đúng đắn, kịp thời, và thức thời. Đúng đắn vì khi đã là một thể chế của dân, do dân, và vì dân, nhất thiết phải “gần dân” để hiểu dân và được dân hiểu; phải “trọng dân” để biết phải phụng sự dân tộc ra sao, chăm lo cho dân chúng thế nào; “tăng cường đối thoại” là biện pháp thực hành nội hàm của “gần dân”; “lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân” để từ đó có được những chính sách phù hợp với dân sinh, hoặc giải thích cho dân hiểu hoàn cảnh của chính phủ, từ đó an được dân tình; và “cầu thị” vì đó là bản chất ưu việt không tách rời của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần hiện thực hóa các phát biểu này, cùng với yêu cầu phái có được các viên chức có đạo đức công vụ, có cái tâm và cái tầm như đã nói, đồng nghĩa với việc loại ra khỏi hệ thống “công bộc của dân” những người đứng ngoài các yêu cầu chuẫn mực trên là có thể giải quyết được những việc khiếu tố kéo dài đang tồn đọng, và không để phát sinh những vụ khiếu tố kéo dài khác trong tương lai. Ngoài ra, luật hình sự cần được sửa đổi theo chiều hướng tăng thật cao và thật nặng các hình thức trừng trị nạn tham nhũng mới hạn chế được sự nhũng nhiễu dân lành vốn luôn dẫn đến hoặc án oan, hoặc khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định, trật tự xã hội.

PV: Xin cảm ơn ông.

Chất Vấn Thành Viên Chính Phủ

Bài viết ngày 21-11-2013 của Lại Thu Trúc trên mạng emotino.com: http://www.emotino.com/bai-viet/19854/chat-van-thanh-vien-chinh-phu

Lại Thu Trúc

Hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ tại nghị trường Quốc hội Việt Nam ngày càng sôi nổi và có chất lượng cao. Đáp ứng sự quan tâm theo dõi của cử tri trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài, các cơ quan truyền thông đã tích cực đưa tin kịp thời và tạo mọi điều kiện thuận tiện để người dân quan tâm có thể xem lại toàn bộ nội dung các phiên chất vấn tại nghị trường Quốc hội.

Các video về các phiên chất vấn các thành viên Chính phủ tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII có thể được truy cập qua các đường link sau:

1.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ ba 19-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50265/Chieu-19-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

2.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ sáng thứ tư 20-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50392/Ngay-20-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

3.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ tư 20-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50459/Chieu-20-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

4.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ sáng thứ năm 21-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50535/Ngay-21-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

5.Phiên chất vấn thành viên Chính phủ chiều thứ năm 21-11-2013: http://www1.vtc.com.vn/vod/50592/Chieu-21-11-2013—Ky-hop-thu-6—Quoc-hoi-khoa-XIII.html

Lại Thu Trúc

Bài Phát Biểu Của Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước Về Thủy Điện

Trưa ngày 13-11-2013, tại Hội trường Quốc hội trong khuôn viên Bộ Quốc Phòng, thời gian 80 phút đã được dành cho các đại biểu quốc hội thảo luận cho đề tài Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện, với quy định tối đa 7 phút dành cho mỗi bài phát biểu, tức khoảng 11 đại biểu có thể trình bày được chính kiến của mình về đề tài trên. Do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân muốn dành thời gian ưu tiên cho những đại biểu từ những tỉnh có các nhà máy thủy điện hoặc dự án xây dựng nhà máy thủy điện phát biều, những đại biểu khác có thể gởi văn bản ý kiến cho Lãnh đạo Quốc hội, và dưới đây là bài phát biểu của Đại biểu Hoàng Hữu Phước đã gởi đến Lãnh đạo Quốc hội.

Bài phát biểu tại Kỳ họp Thứ 6, Quốc Hội Khóa XIII, ngày 13-11-2013 của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước

về báo cáo Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường, và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội

Kính thưa Quốc hội,

Theo tôi, báo cáo “Kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện” của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học, Công nghệ, và Môi trường, đã có vài điểm không khách quan, không mới, và không chủ động

1) Không khách quan: vì ngày nay không một quốc gia tiên tiến nào xem hệ thống sông suối của họ là tài nguyên quý giá về tiềm năng khai thác thủy điện; thay vào đó là tiềm năng du lịch môi trường phải bảo tồn.

Khi cố dành những dự án thủy điện ở Đồng Nai, người ta đơn giản cho rằng 137 ha đất rừng Vườn Quốc Gia Cát Tiên không đủ lớn để đáng là một quan ngại, mà không biết rằng mỗi cen-ti-mét vuông đất của bất kỳ vườn quốc gia của bất kỳ nước nào trên thế giới đều là vô giá, và rằng ngay cả khi không có bất kỳ thảm thực vật hay động vật qu‎ý hiếm nào trên chính cái khoảnh đất ấy thì khoảng không gian bên trên nó vẫn là thứ của cải dành cho hậu thế. Nhu cầu năng lượng tất nhiên rất lớn và mang tính cấp bách, nhưng không thể vì thế mà xem nhẹ nhu cầu sống, sinh tồn của bao triệu con người của toàn khu vực hai bên cũng như hạ du của dòng sông, cùng nhu cầu sở hữu tự hào về tài sản thiên nhiên của người dân hiện nay và mai sau.

Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ vĩnh viễn xóa sạch rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi địa hình cảnh quang cả khu vực rộng lớn, xóa sổ môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số cùng nền văn hóa của họ; còn khi một đập thủy điện vỡ sẽ tước đi sinh mạng của đông đúc dân cư phố thị hạ du, xóa sạch vĩnh viễn môi trường sống cùng nền văn hóa và tài sản hữu hình trị giá đầu tư khổng lồ, làm kiệt quệ nền kinh tế quốc gia từ tổn thất nhân-tài-vật lực.

Cảnh trí thiên nhiên hoang sơ vùng thượng du và đô thị nguy nga hiện đại vùng hạ du đều là nguồn thu du lịch tiềm năng to lớn. Đập thủy điện tàn phá ngay lập tức cái trước, và tiềm tàng lưỡi gươm Damocles đe dọa tàn phá cái sau.

2) Không mới: vì ngày nay với sự bình tĩnh trong khoa học dựa trên kinh nghiệm thực tế, nghiên cứu thực sự, và đúc rút từ các bài học thực tiễn, thủy điện đã không còn được cho là nguồn năng lượng sạch có khả năng tái tạo.

Các nhà máy thủy điện cung ứng năng lượng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, nhưng lại có những nguy cơ mang tính thảm họa nhãn tiền cho môi sinh khi không chỉ sự cân bằng hệ động vật và thủy sinh bị hủy hoại mà nguồn nước bị nhiểm bẩn từ cặn lắng tụ kết tủa ở các turbin đe dọa nghiêm trọng sức khỏe của hàng triệu con người, thậm chí khí methane CH4 và carbon dioxide CO2 từ lòng hồ các đập thủy điện còn gây ra hiệu ứng nhà kính cao hơn gấp 3,5 lần những nhà máy nhiệt điện.

Việc đáp ứng nhu cầu năng lượng quốc gia hoàn toàn không thể giao cho những nhà đầu tư không tài, không tiền, không tình, thậm chí không cả tù tội dù đã chi tiền cho thứ công trình nghiên cứu tác động môi trường vớ vẩn, hoặc xây chưa xong thì đập đã bị nước ngấm phun xịt xuyên qua, bị xe tải húc đổ, và bị nước tràn về xô sập. Khi một đập thủy điện bị vỡ, toàn bộ tài sản vật chất (tiền bạc, tài nguyên, cảnh quang, v.v.), và phi vật chất (uy tín quốc gia, sự phong phú đa dạng sinh học, tiềm năng phúc lợi nhân dân khu vực, v.v.), xem như đổ sông đổ biển. Xây dựng nhà máy thủy điện, do đó, chỉ nên để giải quyết nhu cầu năng lượng khi cái nghèo khó còn bó lấy cái khôn.

C- Không chủ động vì các báo cáo đã không bao gồm “an ninh” trong nội hàm “bảo vệ an toàn” các đập thủy điện. Việt Nam luôn là đích ngắm của kẻ thù điên cuồng chống phá. Thế giới sử cho thấy dù có quy định bất thành văn trong thế giới văn minh về không tấn công các nhà máy thủy điện và điện nguyên tử do gây ra hậu quả tàn khốc khi có xung đột vũ trang hoặc chiến tranh, tuyên bố hay không tuyên bố, vẫn xảy ra những cuộc tấn công như vụ không quân Anh oanh tạc đập Möhne trên Sông Ruhr ở Đức năm 1943; trước đó, các tàu ngầm U-202 và U-584 của Đức Quốc Xã đưa điệp viên xâm nhập vào Mỹ với Chiến Dịch Pastorius nhằm phá sập các đập thủy điện trên thác Niagara, hay gần đây nhất là quân khủng bố tấn công đập thủy điện miền Nam Cộng Hòa Kabardino-Balkaria thuộc Nga. Báo Sài Gòn Giải Phóng đã từng ghi lời chuyên gia Liên Xô trả lời phỏng vấn rằng sẽ cẩn trọng tuyệt đối về chất lượng khi xây thủy điện Trị An, vì nếu vỡ đập, biển nước cao ngất sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh và hàng chục triệu cư dân ra biển. Tổ chức bảo vệ tất cả các đập thủy điện ở Việt Nam, vì vậy, nhất thiết phải có sự tham gia của Bộ Quốc Phòng trên quy mô “trang bị tận răng”, “kỷ luật sắt”, và với quy định “Cấm vượt qua. Nếu không, binh sĩ sẽ nổ súng bắn hạ”.

Tôi kính đề nghị Quốc hội xem xét lại nội dung dự thảo Nghị Quyết về Quy Hoạch, Đầu Tư Xây Dựng, Vận Hành Khai Thác Công Trình Thủy Điện, trong đó, Điều 2.5.b bỏ cụm từ “kiên quyết ngăn chặn, xử lý vi phạm hành vi lợi dụng hạ tầng kỹ thuật công trình thủy điện để chặt phá rừng đầu nguồn, khai thác gỗ trái phép” vì Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn không có thực lực để thực hiện (chưa kể trên thực tế không chỉ có “gỗ” mà còn có “khoáng sản” cùng muông thú; và lẽ ra Luật Hình Sự đã phải đủ làm run sợ kẻ có cái “hành vi” ấy); đồng thời thêm Điều 2.5.e về Bộ Quốc Phòng vì an ninh năng lượng không thể đứng bên ngoài an ninh quốc phòng, và việc quân đội bảo vệ nhà máy thủy điện, điện nguyên tử, phong điện, và điện nhật quang là theo lẽ thường ở các cường quốc.

Ở Việt Nam, thủy điện đã và đang góp phần cung cấp điện năng, điều tiết lưu lượng về mùa kiệt, tham gia cắt giảm lũ cho hạ du. Song, thủy điện không còn là nguồn năng lượng sạch, tái tạo, và rẻ, khi chi phí cho việc vận hành tạo nên một KW điện đã chưa bao gồm toàn bộ cái giá phải chi rất cao cho việc xây dựng, tái định cư dân chúng, và thiết lập đường dây truyền tải điện (do đập luôn ở vị trí hẻo lánh cách xa vùng phố thị), cùng cái giá quá đắt phải trả cho những tác hại nó gây ra dài lâu và trên quy mô rộng lớn cho môi trường sinh thái, cho đời sống con người, và sinh vật. Thủy điện đã hoàn thành sứ mạng của nó đối với đất nước Việt Nam đói nghèo bị chiến tranh tàn phá và cô lập về kinh tế. Tôi kính đề nghị Chính phủ loại bỏ thêm thật nhiều dự án thủy điện vì Việt Nam đã không còn là đất nước đói nghèo ấy, cũng như Việt Nam còn có lòng tự trọng và sự tự tôn dân tộc.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 về Tham Nhũng

Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tại Quốc Hội ngày 07-11-2013 trong buổi thảo luận ở hội trường về “Công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm; về công tác của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; về công tác thi hành án; Kết quả thực hiện Nghị quyết số 37/2012/QH13 của Quốc hội; Công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013”, do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì, và Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu điều khiển phiên họp.

 

Kính thưa Quốc hội,

Tôi xin có các ý kiến sau về nội dung phòng, chống tham nhũng.

Tham nhũng là quốc nạn của từ siêu cường quốc đến tiểu lãnh thổ và lời lẽ triết lý thường nghe là “hễ nơi nào có chính quyền, nơi đó tất có tham nhũng”. Tại Việt Nam, chống tham nhũng trở thành đề tài quan tâm của Chính phủ và người dân. Hiện ta có các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an và Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao; cùng với nỗ lực xây dựng hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng như Luật Sửa đổi, Bổ sung một số Điều của Luật Phòng, Chống Tham Nhũng và với sự thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng do Tổng Bí thư làm trưởng Ban.

Tuy nhiên, Báo cáo về Công tác Phòng ngừa, Chống Vi phạm Pháp luật và Tội phạm năm 2013 của Chính phủ cho số liệu tội phạm tham nhũng so với năm 2012 gia tăng 12,90% về số vụ và 15,56% số bị can, trong đó tội phạm tham ô, tội phạm môi giới, hối lộ và tội phạm nhận hối lộ được phát hiện ở nhiều lĩnh vực tập trung trong lĩnh vực quản lý tài sản công, đầu tư công, quản lý và sử dụng đất đai, và đầu tư xây dựng cơ bản. Cần lưu ý là Báo cáo đã không có tội phạm “đưa hối lộ”, kết quả phát hiện điều tra tội phạm tham nhũng còn hạn chế, chưa tương xứng với thực trạng tình hình, việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt còn ít, tiến độ điều tra một số vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng còn chậm. Báo cáo đã nêu ra 6 nguyên nhân tác động đến 3 hạn chế này.

Tuy nhiên, theo tôi còn một nguyên nhân quan trọng khác, đó là sự vắng bóng của những người tích cực từ trong nội bộ kịp thời tố giác tham nhũng, vì nếu người trong cuộc tố giác chỉ khi quyền lợi bản thân bị thiệt hại thì sự việc đã trở nên quá muộn, nghiêm trọng, vô phương cứu chữa. Chống tham nhũng không chỉ đơn giản là việc hùng hồn tuyên bố rằng “tham nhũng là quốc nạn”, “phải tiêu diệt tham nhũng”, vì có rất nhiều việc phải làm để chống tham nhũng: buộc phải có đối tượng cụ thể với bằng chứng cụ thể, nhất là con người cụ thể lôi được đối tượng tham nhũng ấy ra trước vành móng ngựa. Nhất thiết phải có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt người tố giác tham nhũng và những chính sách ân thưởng vật chất thật cao, chẳng hạn như từ 20-50% tổng trị giá thiệt hại gây ra bởi kẻ bị toà án kết án phạm tội tham nhũng và do chính kẻ ấy phải đài thọ để nhà nước dùng tặng thưởng, vinh danh người tố giác tham nhũng. Các quy định trong luật hiện hành cần được điều chỉnh tăng thật nặng, kể cả tịch thu tài sản do gia đình kẻ tham nhũng đứng tên sở hữu nhưng không chứng minh hợp lý được là có khả năng tự tạo lên tài sản này.

Ngoài ra, việc công khai tài sản tất cả các viên chức, quan chức nhà nước và thành viên Chính phủ là việc cần thiết để bảo đảm “phòng” được tham nhũng, giúp họ giữ được đức liêm chính. Việc nêu gương người tốt việc tốt nhiều thập niên qua ở Việt Nam chỉ giới thiệu gương liêm khiết toàn người lao động nghèo như tài xế tiết kiệm xăng để trả lại cơ quan, nhân viên thu ngân trả lại tiền để quên của khách hàng, người tạp vụ dọn phòng trả lại cho khách một chiếc nhẫn kim cương v.v… Song, chưa bao giờ có bất kỳ thông tin nào đúng nghĩa về đức thanh liêm, tức là thứ đức của quan chức cấp cao. Đảng và Chính phủ cần tạo được làn sóng nêu gương từ những cán bộ cao cấp mới thu phục được nhân tâm đối với nỗ lực chống tham nhũng của Đảng và Chính phủ. Các cơ sở Đảng “trong sạch vững mạnh” phải đồng nghĩa với việc cơ sở ấy phải có danh sách cụ thể Đảng viên nào liêm khiết do có hành động cụ thể nào để được gọi là liêm khiết; đảng viên nào đã thực thi đúng chủ trương của Đảng trong phòng, chống tham nhũng qua thành tích đưa ra ánh sáng những vụ việc tham nhũng cụ thể nào, được nhân dân tin tưởng cung cấp thông tin đến đâu và bảo vệ thành công người dân tố giác tham nhũng ra sao.

Giáo dục luôn được nêu lên như lĩnh vực quan trọng trong trồng người, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa của đất nước. Song, “đạo đức cách mạng” đã mặc nhiên từ lâu trở thành chuẩn mực duy nhất còn “đạo đức hướng thiện” của con người đã không được quan tâm, dẫn đến việc có nhiều thanh niên phạm pháp dù quá khứ tuổi thơ ắt có lúc đã là “Cháu ngoan Bác Hồ”, còn quan chức phạm tội dù có nhiều tuổi Đảng. Điều cần thiết trong cách tân giáo dục, do đó, nhất thiết phải theo tuần tự các bước từ cấp tiểu học trở lên như: gia đình giáo dục học sinh có đạo đức con người theo đạo lý truyền thống; nhà trường tiểu học và trung học có môn giáo dục công dân để tạo những công dân có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, đất nước; còn đại học giáo dục lý tưởng chính trị như một định hướng đúng đắn phục vụ cho sự phát triển trường tồn của đất nước và chế độ. Thiếu nội dung giáo dục đạo đức con người theo đạo lý truyền thống và lệch tâm nội dung giáo dục công dân sẽ thiếu cơ sở vững chắc để có được những công dân luôn dị ứng với các tiêu cực, trong đó tham nhũng vốn là điều khó trừ diệt nhất.

Tham nhũng là quốc nạn vì nó xói mòn niềm tin của dân vào Đảng, vào Chính phủ về chính trị, phá hoại thành quả xây dựng đất nước về kinh tế, làm suy yếu uy tín quốc gia trên trường quốc tế, triệt tiêu ý chí của người dân đối với tiền đồ Tổ quốc, và là tội lỗi với tổ tiên, tội ác với dân tộc.

Ta hay nói “nghiêm minh”, tránh né “nghiêm khắc”, trong khi chính “nghiêm khắc” mới mang tính răn đe, giáo dục, và chính “nghiêm khắc” mới khiến ai cũng “nghiêm túc”, “nghiêm chỉnh”, từ đó có được “nghiêm minh”.

Cải cách hành chính chính là khắc tinh của tham nhũng. Chỉ cần nhìn vào sinh hoạt và nề nếp phục vụ dân chúng của một cơ quan công quyền để xem sự nghiêm túc ra sao, nghiêm minh thế nào và nghiêm khắc đến đâu, người ta có thể biết ngay đấy có phải là nơi tham nhũng có thể bắt rễ phát triển nằm bên trên luật pháp hay không.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

(Đăng trên web Quốc hội Việt Nam tại: http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1396/C2094/C2265/default.asp?Newid=68981#Kx5slqgOvLGP)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

nét phấn trắng kiêu hùng viết nên trang sử xanh uy dũng

Hoàng Hữu Phước

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thơ Lăng-Tần Hoàng Hữu Phước, 10-2013

Đất Việt trời Nam đấng hùng anh

Hiển hách thần uy trấn chiến tranh

Giáp đai chinh chiến phò xã tắc

Trí tài đức dũng tự đầu xanh

Giang san công trạng ngời sử sách

Trung liệt lòng son chí đạt thành

Dư đồ kiến tạo nên cẩm tú

Lạc Hồng Võ tướng mãi lưu danh

Đã là người Việt Nam thì ai cũng biết đến uy danh tài đức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đã là người đoan chính và có học thức thì trên toàn thế giới này dù thuộc bất kỳ dân tộc nào tại bất kỳ quốc gia nào ai cũng biết đến uy danh tài đức văn võ song toàn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bất kể có đã từng được vinh hạnh gặp Đại tướng hay có được cơ may trở thành một trong vô số những bại tướng dưới tài thao lược dụng binh của Đại tướng để được nêu danh trong cùng trang sử về Người. Và kính trọng cùng nể phục là những động từ duy nhất mà người Việt Nam cùng tất cả những người đoan chính, có học thức, trong toàn nhân loại dành cho Đại tướng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về cõi vĩnh hằng, và công trạng hiển hách cùng thiên tài quân sự của Người đã được nói đến, nêu lên, viết về.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành niềm tự hào của cả dân tộc.

Việt Nam đã có tư tưởng Hồ Chí Minh hướng thượng, vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, trên nền của “dĩ bất biến, ứng vạn biến” chứ khôngcó chủ nghĩa Hồ Chí Minh giáo điều, khống chế, bá quyền, bá đạo. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã soi đường cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi tuyệt diệu, mỹ mãn, hoàn toàn.

Việt Nam đã có sức mạnh Võ Nguyên Giáp được hun đúc từ tinh hoa của giòng giống Lạc Hồng và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những người cộng sản Việt Nam đã cùng với nhân dân hình thành nên sức mạnh lấp biển dời non, đánh bại thực dân đế quốc xâm lược, giải phóng đất nước, thống nhất sơn hà, biến thành hiện thực ước mơ muôn đời của tổ tiên nước Việt thoát ách đô hộ của ngoại bang, thu giang san về một mối, dựng xây nước nhà hùng cường tươi đẹp.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp về cõi vĩnh hằng trong vinh quang, để lại bốn bài học mà Đại tướng đã chứng minh là chân lý qua suốt và bằng chính cuộc đời trường thọ của mình:

1- Tư tưởng Hồ Chí Minh là đường hướng duy nhất đúng cho những nhà ái quốc Việt Nam chân chính mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã luôn kiên trì noi theo.

2- Đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng chính trị duy nhất lãnh đạo toàn dân thực hiện thành công đại cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, và giải phóng dân tộc, thống nhất giang sơn, xây dựng đất nước giàu mạnh, mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã luôn một lòng một dạ kiên trung.

3- Khi đã có tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam, thì ngay cả khi với một vị tướng Võ Nguyên Giáp xuất thân là nhà giáo cùng một đội quân chục người chưa được trang bị vũ khí đầy đủ, nhân dân vẫn cùng chung tay tạo nên sức mạnh lấp biển dời non đánh tan giặc thực dân, đế quốc, xâm lăng.

4- Chủ nghĩa Xã hội là đường lối duy nhất thích hợp cho đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã với tư tưởng Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng Sản Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh thần kỳ giải phóng và thống nhất đất nước để đưa nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của bước đầu lập quốc còn non yếu bị bao vây cô lập phải chủ yếu dựa vào viện trợ của vài nước “anh em” tiến lên thành nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thống nhất giàu mạnh có uy thế lớn trên chính trường quốc tế.

Từ bốn chân lý trên, có thể thấy rằng:

Người dân đã không ngồi yên chờ đợi, phê phán, phó mặc việc giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân đế quốc cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Trái lại, người dân đã cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam chiến đấu xông pha chiến trường không sợ gian khó, hy sinh, dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đến ngày đại thắng. Đại cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam cũng sẽ thành công chỉ cần người dân không ngồi yên chờ đợi, phê phán, phó mặc việc bài trừ tham nhũng cho Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam, mà thay vào đó chiến đấu xông pha với sức mạnh Võ Nguyên Giáptư tưởng Hồ Chí Minh để giúp Đảng Cộng Sản – Đảng mà  Đại tướng Võ Nguyên Giáp trọn đời trung kiên – và Nhà nước Việt Nam – nhà nước mà Đại tướng tận tụy phục vụ, dựng xây, bảo vệ – có sức mạnh lấp biển dời non đánh tan giặc nội xâm.

Sự kiên trung với Đảng Cộng Sản Việt Nam và ý chí kiên trì học theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành nhân cách vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khiến sự bất trung với Đảng, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, và kêu gào xóa bỏ nội dung “xã hội chủ nghĩa” trong quốc hiệu trở thành hành vi bất kính đối với vị anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Sự vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn ở chỗ nếu như ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được giương cao rầm rộ dù trên chiến địa, cánh đồng tăng gia sản xuất, hay sân vận động như sự tự hào mang tính biểu dương sức mạnh tinh thần bất khuất, thông tuệ, vẻ vang; thì từ nay ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng sẽ luôn được giương cao rầm rộ trên tất cả các mặt trận dù là cánh đồng tăng gia sản xuất hay sân vận động thể dục thể thao như sự tự hào mang tính phô diễn sức mạnh quyết chiến, quyết thắng, và chiến thắng oai hùng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và sức mạnh Võ Nguyên Giáp là sự thật mang tính chân lý cho biết chất liệu hình thành nên uy thế Việt, cũng như trả lời cho câu hỏi làm thế nào để Việt Nam trở thành cường quốc.

Tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp; cầu xin Đại tướng luôn phù hộ cho đất nước Việt Nam được thanh bình, nhân dân Việt Nam được an vui, ấm no, hạnh phúc; và hứa với Đại tướng sẽ cố gắng noi gương Đại tướng để rạng danh trung nghĩa của Người, trong bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, tức những điều cao quý mà Người đã trọn đời ra sức kiên trung, cống hiến – là những lời nói từ trái tim với đôi dòng nước mắt của những người dân Việt trước di ảnh của Người.

Hoàng Hữu Phước

Amari TX – Anh là ai?

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi quen nhiều anh và một chị Việt Kiều Mỹ. Các anh thuộc hai nhóm chính là doanh nhân và báo giới truyền thông. Mấy doanh nhân thì chí thú làm ăn với Việt Nam, với đặc điểm trùng hợp ở chỗ ai cũng ngoan đạo và luôn làm từ thiện mỗi khi về Việt Nam, và tất nhiên chủ yếu gặp tôi trực tiếp và rất ít khi qua email trừ phi nhờ tư vấn về độ tin cậy của một khách hàng cụ thể nào đó hoặc thông báo ngày giờ về đến Thành phố Hồ Chí Minh. Các anh nhóm truyền thông thì liên lạc rất thường xuyên chủ yếu qua email, nói về sự tâm đắc đối với bài viết này bài viết kia của nhau; đặc biệt anh nào cũng nói mong có ngày đón tiếp tôi tại Mỹ và thi nhau trấn an tôi rằng các anh sẽ tổ chức bảo vệ tôi nghiêm nhặt hơn cả yếu nhân vì các anh có thế mạnh vượt trội về mặt chính quyền bên Mỹ cũng như về hiệu quả tập hợp lực lượng đoàn kết gắn bó “vì Việt Nam” cao hơn rất nhiều so với cung cách quấy rối của những người Mỹ gốc Việt chống cộng. Và Amari Tx là anh bạn thuộc nhóm thứ hai này.

Tôi hầu như không cho nhiều người biết danh sách đầy đủ những blog mà tôi thường đến thăm, tìm đọc, và học hỏi. Số blog cực kỳ quan trọng mà tôi có thể nêu lên vì lợi ích đối với những công dân trẻ khôn ngoan của Việt Nam, bao gồm – song không chỉ giới hạn ở bản liệt kê chưa đầy đủ sau đây:

- Blog của Tiến sĩ Trần Chung Ngọc: nơi những công dân trẻ Việt Nam nên chuyên cần một cách hối hả mỗi ngày tải đọc các bài viết của Ông để luyện trí, luyện thần, luyện hùng biện, luyện tư cách đoan chính, luyện tiếng Anh (vì các bài viết của một đại trí thức như Tiến sĩ Trần Chung Ngọc luôn trên nền hàn lâm của thế giới, tức là có các trích đoạn dẫn chứng, mà do để phục vụ người đọc vốn đa số là người gốc Việt, Tiến sĩ Trần Chung Ngọc đính kèm phần dịch tiếng Việt của các trích đoạn ấy), và học hiểu thế nào là tư thế một bậc đạt nhân quân tử hiếm hoi có thật trong cuộc đời này, người mà tiếc thay không thể thấy có người thứ hai sánh bằng nơi bất kỳ người Việt nào ở Việt Nam hay gốc Việt nào khác trên toàn thế giới.

- Blog của Amari Tx: nơi những vấn đề rất Việt được chuyển tải theo một phong cách mà người đọc có thể cảm nhận được từ Anh – người viết chính – cùng lúc văn tài, khả năng hùng biện, tư duy phản biện nghiêm túc, sự tự hào cao vời vợi được thuộc dòng giống Việt, cùng nỗi lòng đau đáu đối với cõi trời Nam quốc vì chân lý.

và vài blog khác như Đôi Mắt, v.v.

Gần đây, vài bạn độc giả trung thành của Amari Tx Blog do tôi giới thiệu từ năm ngoái, đã cho tôi biết có sự xuất hiện của một bài viết của ai đó bóc tách sự việc bằng cách so đọ từ ngữ câu văn rồi khẳng định Amari Tx không là Việt Kiều Mỹ mà là một vị Tiến sĩ Việt Nam. Tôi bật cười nhớ lại hai trong số vô thiên lủng chuyện của bản thân mình:

Việc thứ nhất là tôi sáng tác thơ ca Anh ngữ từ năm lớp 7 hay 8 gì đấy. Khi một nữ sinh viên học chung với tôi ở đại học do mến đức trọng tài đã về thuyết phục mẹ cha cho phép được làm vợ của tôi, chúng tôi đã cùng tạo nên những thi tập tiếng Anh, và khi thấy em trai của ông anh cột chèo tức chồng bà chị cả là giảng viên Anh văn từ thời chế độ Sài Gòn, chúng tôi kính cẩn trình ông xem qua mấy bài thơ, và bị ông “tươm” ngay cho một câu rằng thì là mà “mấy bài này đọc thấy quen quen”. Vợ tôi ức lắm, về nguyền rủa lão “ganh tài”. Còn tôi là con nhà Phật, nên mới bảo nội tướng của tôi rằng: “Không phải đâu em, nghĩ xấu cho người ta thì tội nghiệp người ta. Em nhớ Cô Trương Tuyết Anh ngay trong lớp đã phán anh đạo văn chỉ vì Cô không thể tưởng tượng lại có học trò Việt Nam trẻ tuổi lại làm thơ sonnet mà ngôn phong sánh tựa Spencer hoặc Shakespeare, bằng chứng là sau đó Cô đặc biệt ưu ái quý trọng anh như người học trò duy nhất giỏi trong trường, và nhờ vậy mà em mới chịu làm vợ anh, … Mà ổng đâu chỉ có nói thơ anh quen quen mà nói luôn thơ em cũng quen quen, vậy là anh đạt tầm cỡ Edmund Spencer do sáng tác sonnet theo khổ thơ Spencerian Stanza để chê bai khổ thơ Shakesperean Stanza và hay viết trường thi như Faerie Queen của Spencer; còn em chẳng ở đẳng cấp Elizabeth Barett Browning là gì, vì em viết sonnet theo kiểu gieo vần của If thou must love me, let it be for naught! của bả mờ! Giỏi quá thì phải chịu bị ganh ghét thôi. Người Việt mờ!” Sau đó, cả hai vợ chông tôi đều có vài bài thơ sonnet đoạt giải thưởng của ở những năm khác nhau đăng ở những tuyển tập khác nhau, thậm chí số giải thưởng vợ tôi đoạt được nhiều hơn cả tôi (thơ tôi trong thi tập Devotion of the Mind – tức Tâm Tình Hiến Dâng – năm 2001, vợ tôi trong thi tập The Harvest of Dreams – tức Vụ Mùa Những Ước Mơ – năm 2002 và The Best Poems & Poets of 2002 – tức Tuyển Tập Các Bài Thơ và Nhà Thơ Hay Nhất Năm 2002 –  cùng xuất bản tại Hoa Kỳ cùng có lưu chiểu  tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ), và thậm chí nàng tốt nghiệp với văn bằng đỏ (giỏi xuất sắc). Chi tiết và hình ảnh chụp các quyển thi tập và những … “chứng thư” được cung cấp trong bài Tôi và Giải Thưởng Thơ Ca Hoa Kỳ – Mở Hướng Kinh Doanh Từ Giải Thưởng Poetry.com đăng trên Emotino.com ngày 23-12-2011 (sẽ được đăng lại trên blog “kinh doanh” tôi sắp mở trên wordpress.com)

Việc thứ hai là khi tôi bật cười trước cái việc cất công so sánh của những tay hành nghề kỳ quái gọi là sosanher hay lucloiist ấy (sosanher là…người so sánh, còn lucloiist là kẻ tôn thờ ông tổ nghề lục lọi). Nghề này là nghề mới xuất hiện từ khi tôi phát biểu trước quốc hội về Luật Biểu Tình. Lúc ấy đột biến đột nhiên xuất hiện đám người ngợm tung nghiên cứu thâm sâu lên internet rằng tôi là thạc sĩ Liên Xô (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã học ở Mỹ thì luôn luôn bị Mỹ hoặc giết như Nguyễn Thái Bình hoặc cho uống bùa mê thuốc lú để về nước Việt Nam chống cộng sản chớ làm gì có thạc sĩ Mỹ mà binh vực cộng sản bao giờ), rằng tôi quậy trời thần bị công an bắt hồi còn đi học (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã theo Mỹ thì tên lưu manh sẽ được xịt sơn tô vẽ thành người hùng, còn theo cộng sản thì người đạo hạnh sẽ bị tưới nước bẩn lên để thành tên quậy), rằng tôi tham nhũng nên có mấy biệt thự ở Phú Mỹ Hưng (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã là doanh nhân thì ai mà chẳng có biệt thự ở Phú Mỹ Hưng), rằng tôi hay đến hớt tóc thanh nữ ở chỗ ấy chỗ ấy để mua dâm (ắt vì bọn ngu có công thức rằng đã là doanh nhân thì ai mà lại không dính với vũ nữ mại dâm), rằng tôi từng bị nhốt ở Nhà Thương Điên Biên Hòa (ắt vì bọn ngu có công thức rằng chỉ có điên mới theo cộng sản), rằng rằng  và rằng rằng…. Chúng sai be sai bét vì cái kiểu áp dụng công thức tào lao để so sánh ấy, vì rằng tôi là thạc sĩ Úc mà Úc thì không dã man tàn bạo phi nhân ngu xuẩn như Mỹ đã trút bom hòng đánh sập Miền Bắc và rải chất độc da cam xuống Miền Nam, đã vậy Úc còn nhanh chóng kết thân với Việt Nam cộng sản thống nhất nên làm gì có cái chuyện vi phạm nhân quyền như Mỹ; rằng vợ tôi là sinh viên cùng lớp với tôi nên là bằng chứng mạnh mẽ chứng minh tôi đã được mến mộ vì hai chữ đức tài mà nàng đã biết tất tần tật về tôi và kể cả những bạn gái của tôi suốt thời gian học đại học và giảng dạy (do trở thành đồng nghiệp cùng làm giáo viên dạy chung trường), chưa kể tôi còn được dự tuyển vào ngành an ninh tình báo khi tốt nghiệp; rằng tôi kiếm được bao nhiêu tiền là giúp thân nhân, học trò, người hoạn nạn, và nhân viên, làm vài người trong số họ trở thành tỷ phú có nhà ở … Phú Mỹ Hưng, cũng như giúp người lạ hoạn nạn có thông tin trên các báo, nên bản thân cứ ở ngôi nhà bé đơn sơ trong hẻm nhỏ; rằng mấy chục năm nay vợ tôi cắt tóc cho chồng và con, làm gì có chuyện tôi đến thanh nữ, đã vậy tôi còn là người được vô số phụ nữ đoan chính là sinh viên, nhân viên, đối tác của tôi ban tặng cho tôi nhóm từ “nghiêm nghị nghiêm túc nghiêm trang nghiêm khắc như cha xứ” vì chẳng bao giờ màng đến hoa hậu hay người mẫu hay xe-le-bờ-ri-ti ngôi sao ca nhạc nên luôn luôn vứt bỏ tất cả các giấy mời tham dự các buổi biểu diễn thời trang hay ca nhạc của siêu mẫu hay siêu sao; và rằng chỉ có kẻ điên thoát khỏi nhà thương điên mới vẫn còn chống cộng và vẫn còn mơ màng mơ mộng mơ cuồng sẽ chiến thắng cộng sản bằng võ mồm, bằng … Sấm Trạng Trình, bằng chửi tục, bằng viết bậy, bằng nói láo, và bằng đoàn quân…sosanhers và lucloiists.

Để các bạn hình dung được cái ngợm của bọn người gọi là sosanhers/locloiists kể trên, bạn hãy nghĩ như thế này nhé: chúng phân tích ca sĩ A của Việt mặc đồ giống y như ca sĩ B Hàn Quốc để kết luận ca sĩ A là ca sĩ B hoặc ca sĩ B đột nhập Việt Nam dưới tên gọi A; hoặc như giảng viên D nói về chủ nghĩa cộng sản bằng cách lập lại nội dung các tuyên bố tiên tri thấu thị của Karl Marx, và chúng la toáng lên phát hiện của chúng rằng giảng viên D chính là Karl Marx hoặc Kark Marx đột nhập Việt Nam dưới cái tên D; hoặc blogger Lăng Tần cái gì cũng lấy từ kinh Phật (Lăng Tần là lấy từ Kinh Lăng Nghiêm có tên tiếng Phạn Ca-lăng-tần-già của chú chim ngậm xâu chuỗi bay quanh hầu hạ Phật Bà Quan Âm) nên chúng sẽ một cách bịnh hoạn suy ra Lăng Tần là Phật hoặc Phật giáng hạ xuống Việt Nam lấy tên là Lăng Tần; hoặc cũng chính blogger Lăng Tần hay ngâm nga mấy lời của Khổng Phu Tử nên chúng sẽ la toáng lên sự phát hiện thần kỳ của chúng rằng tên thật của Lăng Tần là Trọng Ni hoặc Khổng Khâu tức Vạn Thế Sư Biểu Khổng Phu Tử lẻn vào Việt Nam lấy tên là Lăng Tần, v.v và v.v. Như vậy các bạn sẽ thấy rõ bọn chúng là đám bất tài không thể viết gì cho ra hồn để cống hiến cho cư dân mạng hiếu học mà chỉ giới thiệu phát hiện chẳng ra làm sao cả của chúng. Đối với bậc có học thức như Cô Trương Tuyết Anh ở Đại học Văn Khoa khi thấy sinh viên Hoàng Hữu Phước sáng tác thơ văn Anh ngữ thì chỉ có hai lựa chọn: hoặc (a) quát lên khinh miệt rằng “em là kẻ đạo văn!” hoặc (b) nhỏ nhẹ trìu mến rằng “Cô thấy không vị giáo sư nào của Đại học Sorbonne từ năm 1257 đến nay lại phê phán Shakespeare quá hay như em, và cũng chưa có người Việt nào làm thơ sonnet Anh hơn cả người Anh như em”. Tương tự, một người có học thức và có tư cách đáng kính sẽ có hai lựa chọn: hoặc (a) quát lên khinh miệt rằng “Này Amari Tx, mi là kẻ đạo văn!” hoặc (b) nhỏ nhẹ trìu mến rằng “Tôi thấy không người Mỹ gốc Việt có học vị tiến sĩ nào ngay cả từ trước 1975 đến nay lại phân tích chính trị thâm thúy cao siêu uyên bác như anh,  và cũng chưa có người Mỹ gốc Việt nào đạt trình độ viết văn chính luận tiếng Việt bằng anh, thậm chí còn Việt hơn cả các tay blogger người Việt ở xứ Việt”.

Nếu các bạn thấy biện luận trên là hợp lý thì đừng nên quan tâm đến câu hỏi Amari Tx là ai. Mấy năm nay chả có người Mỹ gốc Việt chống cộng nào ở hải ngoại “lột mặt nạ” của Amari Tx cả, mà chỉ thấy chúng hoặc đe dọa James Du và các đồng nghiệp báo chí truyền thông nào thân cộng, hoặc né tránh các cuộc đụng độ mà – như các anh “thân cộng” đã nói rất trông chờ ngày tôi sang thăm Mỹ – chúng rất yếu cơ, không uy tín, chẳng có tài lực, và không được cơ quan an ninh cảnh sát Hoa Kỳ dành cho bất kỳ chút thiện cảm nào.

Tuy nhiên, cái sự cho là “phát hiện” của gã sosanher/lucloiist nói trên vẫn có thể khiến tôi cảm thấy thú vị, vì nếu Amari Tx không là vị tiến sĩ nọ ở Việt Nam thì toàn bộ hàng triệu người ngoại quốc gốc Việt có vinh dự thêm anh vào danh sách cực kỳ ít ỏi ít ỏi những vị có trình độ tư duy cao, hùng biện tuyệt vời, tâm đức chính đạo, thông minh trí tuệ, giởi tiếng Việt chính luận, có thể khiến cộng đồng gốc Việt ở hải ngoại tự hào khoe khoang về dòng giống Việt vẫn đang châu lưu trong huyết quản của họ; còn nếu Amari Tx là vị tiến sĩ nọ ở Việt Nam thì xem như đất nước Việt Nam này có thêm một nhà trí thức thực sự có trình độ tư duy cao, hùng biện tuyệt vời, tâm đức chính đạo, thông minh trí tuệ, vốn rất hiếm hoi cực kỳ ít ỏi trên mảnh đất hình cong chữ S này có thể khiến cộng đồng dân Việt tự hào về dòng giống Việt đang châu lưu trong huyết quản – vì Việt Nam có hằng hà sa số thạc sĩ và tiến sĩ nhưng số trí thức thì chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay của một bàn tay đủ ngón (còn những trí thức/nhân sĩ “bầy đàn” như nói đến trong bài “Hội Chứng Bầy Đàn” thì chỉ là những ngụy trí thức/ngụy nhân sĩ, người ỷ có cái văn bằng thạc sĩ/tiến sĩ nhưng bất tài vô hạnh, rồi tự phong, tự sướng, tự động tự tung tự tác gọi bầy đàn của họ là nhân sĩ/trí thức để che nỗi nhục bản thân vẫn là con số zero to tổ bố của xã hội nhân quần quốc gia quốc thể).

Anh Amari Tx là ai? Đối với tôi, anh ấy là anh ấy. Cái tên Amari Tx xuất hiện mấy năm nay, mà chẳng người Mỹ gốc Việt chống cộng nào dám động đến, phải ngậm đắng nuốt cay, ngậm bồ hòn làm ngọt, chịu trận thua trên sân Mỹ vì mình chống cộng bằng vũ khí quyển từ điển các từ tục tĩu tiếng Việt và sách công nghệ bôi nhọ, còn “ảnh” chống chống cộng bằng trí tuệ, sự thông thái, cơ mưu quyền biến, và tài hùng biện, lôi cuốn gần hết con cháu các người Mỹ gốc Việt chống cộng, thật không sao chống đỡ được, phải ngó lơ thôi. Thế mà cái tên vô công rỗi nghề kia lại cố gắng điều tra nghiên cứu so sánh để gõ cửa  cộng đồng người Mỹ gốc Việt chống cộng ở Mỹ hầu báo tin rằng: “quý vị ơi, quý vị hỡi, cái anh Amari Tx ở nhà bên cạnh quý vị tại đường này phố này hạt này tiểu bang này là người Việt Nam đang ở Việt Nam đấy, hổng phải là ở đường này phố này hạt này tiểu bang này đâu!”

Tôi là người Việt, từ lúc sinh ra đến nay vẫn ở Sài Gòn, chưa hề dọn nhà đi tỉnh nào khác, nói gì dọn ra nước ngoài, ấy vậy mà mấy chục năm nay doanh nhân sang trọng nước ngoài Âu-Mỹ-Á nào gặp tôi cũng tỏ vẻ hoài nghi, khăng khăng bảo rằng tôi chí ít là đã học nhiều năm ở Anh Quốc vì cách dùng từ tiếng Anh quý phái và phong thái quý tộc Ăng-lê của tôi.

Amari Tx là người gì, bấy lâu nay ở đâu, sao mà anh sử dụng tiếng Việt cao siêu đến vậy, ắt các bậc trọng sang cũng khăng khăng bảo anh chí ít là đã học nhiều năm ở Việt Nam hoặc là môn sinh của …Thầy Trần Chung Ngọc, vì cách dùng từ tiếng Việt chính luận của anh.

Tôi không bao giờ thắc mắc Amari Tx là ai. Giống như Batman, Superman, hay Spiderman, hoặc một con người trong bất kỳ môi trường xã hội có văn minh cao, trí hóa cao, anh có quyền giữ bí mật và ấn định thời khắc tuyên bố bí mật cũng như đối tượng đón nhận bí mật. Tôi cũng có quyền như anh, nhưng sự lựa chọn của tôi không giống anh vì tôi không phải Batman, Superman hay Spiderman. Tôi chỉ là môt nhà giáo sống đời giản dị giản đơn để viết lách phức hợp phức tạp, là người của công chúng từ hơn 20 năm nay nên nhất thiết phải phơi bày chi tiết nhân thân cùng hình ảnh để học trò, nhân viên, người quen, người ái mộ nhận diện, nhận ra, nhận biết, mà noi theo.

Sẽ là điều tuyệt vời khi trang web sau là của Việt Kiều Mỹ Amari Tx, vì sự góp mặt của nó giúp Hoa Kỳ nở mày nở mặt với hai chữ “tự do”, thứ mà người dân Mỹ gốc Việt chống cộng đã chà đạp khi tấn công những người Mỹ gốc Việt thân cộng, tấn công những đoàn văn hóa văn nghệ từ Việt Nam, tụ tập phản đối các vị thượng khách Việt Nam của chủ nhân Tòa Bạch Ốc làm muối mặt Hoa Kỳ:

 

Là con nhà Phật, tôi có thể nói rằng Amari Tx đã làm một điều phước thiện lớn lao, và nếu The International Library of Poetry của Hoa Kỳ trong dĩa CD 33 bài thơ của 33 tác giả được tuyển chọn trong số 300 nhà thơ, đã đánh giá như sau, trước khi ngâm bài thơ sonnet đoạt giải của tôi How to Overwhelm the Un-overwhelmed trên nền nhạc baroque: “This poem is more than a music of language. It’s a variable painting of imagination. Any further description would only fail to do a justice” (Bài thơ này còn hơn cả một khúc nhạc của ngôn từ, một bức họa muôn sắc màu của trí tưởng mà bất kỳ sự miêu tả thêm nào cũng vẫn không sao nêu đủ hết được giá trị của nó), thì tôi vẫn có thể kính tặng anh đôi dòng thơ tản văn trên chính trang web của anh mà bất kỳ một sự trân trọng thêm nào cũng vẫn không sao nêu đủ hết được cái kỳ vĩ mà anh đã tạo ra được bằng các bài viết của mình:

 

Tôi biết anh Amari Tx sẽ cười khoái trá về bài viết này của tôi, cũng như tôi cười khoái trá khi thấy cái tên sosanher/lucloiist ấy viết tấn công anh. Tôi khoái trá vì biết rằng bọn chống cộng chỉ ra sức chống ai mà chúng chịu thua không thể đấu khẩu tranh luận gì được. Anh khoái trá vì biết rõ mười mươi rằng tôi sẽ phải gọi anh là “Thầy” nếu anh đột nhiên trở thành …vị tiến sĩ Việt Nam nọ.

Tôi từng viết trên emtino rằng tôi luôn gọi một người là Thầy nếu người đó có học vị tiến sĩ. Và để thuyết phục mấy cậu mấy cô học trò của mình phải để tôi gọi các cô các cậu ấy là Thầy, tôi đã bảo rằng: “Em gọi Thầy là Thầy vì Thầy đã dạy học tại lớp của em. Thầy gọi em là Thầy khi ở chỗ đông người vì đó là danh xưng dành cho một vị tiến sĩ. Thầy phải gọi em như thế vì 5 lý do gồm (a) như Thầy vừa nói, (b) giúp em được trọng vọng giữa đám đông, (c) giúp mọi người nhận ra rằng việc học hành phải không bao giờ được ngừng nghỉ, (d) để em vì danh dự này mà thi thố tài năng giúp nước giúp dân, không phụ lòng Thầy, và (e) để Thầy tự nhắc mình là vẫn chưa thu xếp được thời gian để lấy học vị tiến sĩ giáo dục học cho chính mình.”

Nếu anh Amari Tx là vị tiến sĩ Việt Nam nọ, thì có ngày tôi sẽ nói với anh ấy rằng: “Anh hãy để tôi đổi cách xưng hô gọi anh là Thầy vì 5 lý do gồm (a) đó luôn là từ đúng nhất để gọi một vị tiến sĩ, (b) giúp tôi được trọng vọng giữa đám đông vì thiên hạ thấy tôi biết giữ đạo thánh hiền khi hạ mình trân trọng người có học thức cao, (c) giúp mọi người nhận ra rằng việc học hành phải không bao giờ được ngừng nghỉ, (d) để anh nhớ rằng đã có học vị này thì việc thi thố tài năng giúp nước hùng mạnh, giúp dân thêm trí hóa cao, giúp Đảng thêm vững mạnh, là điều duy nhất phải luôn thực hiện, và (e) để tôi tự nhắc mình là vẫn chưa thu xếp được thời gian để lấy học vị tiến sĩ giáo dục học cho chính mình để sẽ khoái trá khi được người có hùng tâm và tài giỏi như anh gọi là Thầy tương tự.”

Còn nếu anh Amari Tx không là vị tiến sĩ Việt Nam nọ, thì có ngày tôi sẽ nói với anh ấy rằng: “Anh biết không, chả biết thằng bá vơ nào đó vì bất tài và thất học không thể bút chiến luận với anh nên đã gán ghép anh vô một ông tiến sĩ ở Việt Nam đấy.”

Nói tóm lại, các bạn cần nhớ câu mang tính chân lý này: “Đừng tin những gì bọn chống cộng nói, và cũng đừng nhìn những gì bọn chống cộng làm.” Chúng chỉ nói tục, nói bậy, nói phét, và chúng chỉ làm bậy, làm bạ, làm điều vô bổ đầy xấu hổ cho nòi giống mà thôi.

Nam mô A-di-đà Phật.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Pháp danh: An Thiện

Bút danh: Lăng Tần

Tôi và Lê Hiếu Đằng

Hoang Huu Phuoc, MIB

 

Trong bài Hội Chứng Bầy Đàn đăng trên blog này (blog.com) và blog đồng hành (worldpress.com) ngày 20-8 vừa qua tôi có ghi sẽ viết tiếp các bài Tôi và Lê Hiếu ĐằngTôi và Trần Huỳnh Duy Thức. Thật ra, tôi có nguyên một sê-ri những bài viết thuộc mẫu câu “Tôi và…” với những bài đã đăng trên emotino.com trong nhiều năm qua, thí dụ một vài bài như:

Tôi và Tổng Thống Saddam Husein (*): kể về liên lạc điện tín của tôi tư vấn tổng thống Saddam

Tôi và Ngành An Ninh Tình Báo (*) kể về lúc tôi tốt nghiệp đại học được Sở Công An Thành phố Hồ Chí Minh dự tuyển vào ngành an ninh tình báo

Tôi và Cô Trương Tuyết Anh (**) kể về vị giáo sư đại học đã trân trọng tài văn học của tôi

Tôi và Thầy Nguyễn Quang Tô (**) kể về vị giáo sư tài hoa dưới chế độ Sài Gòn đã rộng lượng hào phóng ban cho tôi hai chữ đức tài khi tôi học lớp 10

Tôi và Thầy Lê Văn Diệm (**) kể về vị giáo sư đại học đã ban tôi danh dự làm vua luận văn Anh

Tôi và Lê Công Định (*) kể về tên luật sư trẻ người non dạ kém cỏi tiếng Anh đã cùng Lê Đình Bửu Trí ngỏ lời nhờ tôi giúp soạn thảo các quy định bằng tiếng Anh cho văn phòng luật của họ nhưng đã bị tôi từ chối do cảm nhận được cái ý đồ tiêu cực của y.

Tôi và Cu Huy Ha Vu (*) kể về tên luật sư tôi không quen biết và chưa từng gặp mặt nhưng vẫn viết về y vì sự rống sủa của y quấy rầy không gian sạch sẽ của cộng đồng thạc sĩ Đại học Curtin Úc.

Tôi và Huy Đức (*) kể về tên nhà báo vớ vẩn sang Mỹ kiếm sống bằng cách viết bá láp về Việt Nam, về Đảng Cộng Sản, về lãnh đạo, làm ô uế không gian sạch sẽ của cộng đồng dân Việt.

Tôi và Hai Anh Bộ Đội (*)

Tôi và Các Quân Nhân Cộng Hòa (**)

Nay tôi viết về Lê Hiếu Đằng giống như khi tôi viết về Cu Huy Ha Vu, nghĩa là tôi chưa từng biết đến sự tồn tại của Lê Hiếu Đằng từ trước 1975 cho đến khi gần đây tôi nghe thiên hạ nói về tiếng rống sủa của hắn, chứ tôi vẫn không cho rằng tôi nên phí thời gian đọc tác phẩm của y mà thay vào đó y nên tìm đọc các tác phẩm của tôi để thoát khỏi sự tăm tối u mê.

Để cẩn trọng – tôi luôn là người cẩn trọng – tôi nhất thiết phải nói rõ rằng tôi được sinh ra tại Bảo Sanh Viện Từ Dũ, Quận 2, Sài Gòn theo bằng chứng sau đây:

 

năm 15 tuổi trở thành công dân nước Việt Nam Cộng Hòa với bằng chứng là Thẻ Căn Cước do Chỉ huy phó Cảnh Sát Quốc Gia Quận 3 Sài Gòn Đỗ Kiến Nâu cấp ngày 28-4-1972:

 

và sau đó 4 tháng đã quy y tam bảo tại Chùa Phước Trường với bằng chứng là:

 

chưa kể “truyền đơn” dầy 16 trang về  “Lễ Tưởng Niệm Trần Văn Ơn” (hình minh họa ở đầu bài viết này) do Tổng Đoàn Học Sinh Sài Gòn biên soạn và tôi là trưởng lớp 12C1 trường Tân Việt (Quận 3) đã đồng ý giúp một học sinh lớp khác dấu xấp truyền đơn trên quạt trần trong lớp tôi để khi có chuông vào học, chờ mọi người vào lớp tôi bật điện và truyền đơn văng ra khắp phòng (giờ triết học môn Luận Lý Học của Thầy Vĩnh Để) khiến thầy tổng giám thị Nguyễn Văn Phương nổi giận đùng đùng xách roi mây vào lớp kêu tôi phụ thu lượm đem hết lên văn phòng mà tất nhiên tôi vẫn giấu một bộ, còn làm ngơ cho vài bạn khác – nhất là nữ – giữ lại dưới vạt áo dài vài bộ.

Tôi buộc phải tự giới thiệu đầy đủ về mình như trên để khẳng định những lời tôi viết dưới đây là tuyệt đối chính xác, với sự công tâm, với lòng rộng lượng, với tâm từ bi, vì nước, vì dân, của một người đã thực sự là dân Sài Gòn, đã thực sự là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa, và đã thực sự là một người đã quy y tam bảo nguyện làm phật tử chơn chánh giữ thân tâm thanh tịnh bỏ các điều ác chỉ làm những việc lành, giữ tròn lời hứa với cử tri là “luôn biết lo trước cái lo của người dân” và “bảo vệ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”. Đồng thời, tôi cần nói rõ thêm rằng tôi đã không nhờ “anh học sinh ấy” giới thiệu tôi “có công với cách mạng” sau giải phóng nên Ba của tôi mất việc ở Hàng Không Việt Nam phải cùng với Má tôi vấn thuốc lá điếu bán nuôi con cái, chị tôi phải bỏ Đại học Văn Khoa và Đại học Sư Phạm vì bị sinh viên cách mạng của Ủy ban Quân quản miệt thị là phong thái “tiểu tư sản” do khăng khăng mặc áo dài trắng đi học chứ không chịu mặc sơ mi vải xanh và quần sa-tanh đen, tôi vào đại học thì bị ganh tài vu vạ càng phấn đấu gánh vác việc nặng nhọc thì càng bì “đì” triệt tất cả đường vào Đoàn để đừng được phân công, khi đi dạy học thì càng phấn đấu gánh vác việc nặng nhọc thì càng bì “đì” triệt tất cả đường vào Đảng đến độ các học trò trở thành nhà giáo phải xúm lại viết thư động viên, khi buộc phải bỏ trường mà đi làm cho nước ngoài đến khi thấy họ gây thiệt hại cho nông dân bèn đơn thương độc mã viết thư cho báo Tuổi Trẻ tố cáo và chịu bị mất “job” phải quay trở lại làm cho công ty nhà nước để tiếp tục bị “đì” triệt tất cả đường vào Đảng, đến nỗi phải bỏ ra khu vực ngoài quốc doanh, cho đến nay vẫn là người ngoài Đảng. Nên hy vọng rằng Lê Hiếu Đằng – hoặc một phật tử chơn chánh nào đó làm phước in gởi Lê Hiếu Đằng bài này nếu y không tự tìm đọc – sẽ biết một người bị Đảng viên Đảng Cộng Sản “đì” suốt tuổi thanh xuân sẽ nói gì về Đảng một khi có lòng yêu nước thương dân trọng nghĩa quý tình và sự thông tuệ trong cơ mưu trí lược của tế thế an bang vượt qua cõi ta bà, so với một người ngu muội, phản quốc, vong ân, bội nghĩa, ác tâm, giả trá đã luôn được Đảng ưu ái, đùm bọc, thứ tha từ lúc đầu xanh cho đến khi bạc tóc giả bệnh để rắp tâm trở cờ tự nhổ toẹt vào “quá trình theo Đảng” của y.

Tôi là dân Sài Gòn. Tôi là học sinh Sài Gòn. Tôi quan tâm đến chính trị và thời cuộc như mọi thanh niên gia giáo gia phong khác thời ấy. Tôi xác định chưa từng nghe đến cái tên Lê Hiếu Đằng, và ngay cả tài liệu truyền đơn của Tổng Hội Học Sinh Sài Gòn nêu ở đầu bài viết này chỉ thấy những cái tên như Lê Văn Nuôi, Lê Văn Nghĩa, Lê Văn Triều, Lê Hoàng, Tăng Thị Mỹ Liên, Nguyễn Vĩnh Thiện – tất nhiên cái tên Huỳnh Tấn Mẫm luôn đi đầu trên các trang báo Sài Gòn thời ấy. Vậy Lê Hiếu Đằng trốn chui trốn nhũi ở đâu?

 

Khi học tại Đại học Văn Khoa Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1978 đổi thành Đại Học Tổng Hợp khi sáp nhập với Đại Học Khoa Học) tôi có biết Võ Anh Dũng là sinh viên cùng khóa với tôi nhưng học Khoa Pháp Văn. Dũng khoe nhờ mấy tuần trước giải phóng có nhận lời giúp “rải truyền đơn chống chế độ tay sai Mỹ” trước Đại học Kiến Trúc nên bị cảnh sát bắt nhốt ở Tổng Nha Cảnh Sát, và được quân giải phóng đến “giải phóng”, trở thành “có công với cách mạng” bằng tờ giấy chứng nhận của anh sinh viên kia, được cộng điểm “đậu” vô Đại học Văn Khoa, nhưng Dũng thường xuyên đeo bám tôi vì tác phong tiểu tư sản của tôi làm y ngỡ tôi vẫn còn là công tử Sài Thành thế gia vọng tộc – vì nếu chị tôi luôn mặc áo dài đi học thì tôi luôn ăn mặc tề chỉnh với áo sơ mi bỏ trong và đi giày bốt chứ không bao giờ đi dép hay sandal, thỉnh thoảng còn mặc sơ-mi viền tua ren trước ngực hoặc sơ mi tay áo dài rộng bó ở khuỷu tay vả cổ tay như của nhà quý tộc Aramis của Ba Chàng Ngự Lâm theo style của tạp chí thời trang nam Eleganza của Mỹ một thời danh tiếng mà ở Việt Nam Cộng Hòa tôi là nam sinh duy nhất à-la-mode – để cố rủ rê tôi bao đi ăn uống hoặc giảng giúp các bài bộ môn tiếng Việt do y đi học thì ít mà đi “cua” gái thì nhiều, về sau vượt biên trốn mất trước ngày tốt nghiệp. Võ Anh Dũng nếu đừng bỏ Việt Nam, ắt hẳn đã ngồi vào chỗ của Lê Hiếu Đằng, nhưng còn đáng trân trọng hơn Lê Hiếu Đằng. Khi sinh viên Nguyễn Thái Bình chống Mỹ, Mỹ đã hạ sát Nguyễn Thái Bình khi máy bay đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất lúc Nguyễn Thái Bình “bái tổ vinh quy” du học Mỹ trở về. Lê Hiếu Đằng chống Mỹ, vậy mà ngu xuẩn khoe rằng lúc ở tù đã được cai tù cho ra ngoài để thi tú tài, chứng tỏ sự ưu việt nhân bản nhân đạo nhân văn cao vời cao vợi của chế độ Mỹ-Thiệu. Thời nào cũng có nhóm “nằm vùng”, “cài cắm”. Vậy Lê Hiếu Đằng là kẻ mà Mỹ-Thiệu đã cài cắm vào nội bộ phong trào sinh viên-học sinh để báo cáo nội tình và hy vọng trèo cao lèn sâu vào Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam – gọi tắt là Việt Cộng mà lính Mỹ gọi kiêng tên cúng cơm thành “Charlie”. Lê Hiếu Đằng đã không bị hạ sát như Nguyễn Thái Bình. Lê Hiếu Đằng được nhốt vào tù để tung hỏa mù với Việt Cộng, nhưng được cho ra đi thi tú tài để khi “chiến thắng” được lên chức cao quyền trọng phục vụ Mỹ-Thiệu, nghĩa là không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng đã không ăn ngon mặc sướng ở trong tù, không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng không được Mỹ-Thiệu cung cấp món đặc sản gái ghiếc mà Mỹ-Thiệu sử dụng cực kỳ thiện nghệ, và không thể không tin rằng Lê Hiếu Đằng đã không đằng đằng nổi giận, không đằng đằng sát khí khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, những người bảo trợ cho Lê Hiếu Đằng không những bỏ chạy nhanh hơn tên lửa hành trình Tô-ma-hốc Mỹ sắp lấy mớ tồn kho đang rỉ sét ra xài thanh lý ở Syria, mà còn bảo Lê Hiếu Đằng cố ở lại “nằm vùng” chờ họ quay lại “phục quốc”. “Nằm vùng” quá lâu, tuổi già ập đến, tức vì bị chơi xỏ, thấy mấy thằng nhóc hậu sinh khả ố sinh sau đẻ muộn chơi nổi vừa hưởng thụ xả láng, vừa la hét đòi dân chủ tự do để nhận tài trợ của cái bọn trước đây đã vừa bỏ rơi vừa lừa bịp mình, Lê Hiếu Đằng lập tức “đứng vùng” – tức là đứng lên vùng dậy – rống họng chưởi bới Đảng Cộng Sản vừa để hả giận sao đến giờ Đằng sắp đằng vân về với tiên tổ mà đằng ấy (tức Đảng Cộng Sản) vẫn không cho Đằng làm Chủ Tịch Nước hay Chủ Tịch Quốc Hội trong khi đằng kia giá như đừng đầu hàng bỏ chạy tồng ngồng như vịt 30-4-1975 thì biết đâu Đằng đã là Tổng Thống rồi – có khi làm tổng thống những 40 năm từ ấy đến nay giống các vị tổng thống con cưng của Mỹ như Mu-ba-rắc và Su-hác-tô ấy chứ lị, vừa để phía hải ngoại biết Đằng vừa lập đại công độc đáo chửi cha cộng sản từ trong nội bộ cộng sản (trong khi phe chống Cộng chỉ dám chưởi sau khi chạy qua Mỹ thở phào không thấy Việt Cộng dí theo) nên phải biết điều tài trợ cho Đằng y như hoặc nhiều hơn cái đám “tù nhân lương tâm” sinh sau đẻ muộn ấy, vì đằng nào cũng phải chi, chi ai cũng vậy, chi Đằng cho xong.

Ngoài ra, việc Lê Hiếu Đằng – cùng tất cả những chức sắc/trí thức/nhân sĩ đột nhiên đột biến biến chất biến thái chống đối chống phá khác – đã hoàn toàn là con số không đối với người dân vì đã không có bất kỳ công trạng nào, công trình nào về chuyên môn lúc còn tại vị trên ngôi cao vinh diệu chỉ cho thấy bốn điều sau:

1) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường hèn nhát hèn yếu hèn hạ vì đã không dám mở miệng nói bất kỳ điều gì có thể khiến họ mất ghế, mất bổng lộc, mất lương hưu; dửng dưng chứng kiến nền kinh tế nước nhà chao đảo – nếu như nó có chao đảo, người dân đối mặt với oan sai – nếu như thật sự có các oan sai nào đó, tiền đồ tổ quốc lận đận – nếu như có cái lận cái đận nào đó, chờ đến khi về hưu hay bị tì vết tiêu cực mà mất chức mới đột nhiên đột biến vì nước vì dân, thương nước thương dân, nêu ra ngất ngút vô thiên lủng bao điều có dán nhãn mác “tại Đảng Cộng Sản”, “tại không đa đảng, đa nguyên”, “tại không nghe lời…ta” cứ như thể là thông tuệ lắm, trí hóa lắm, trí thức lắm, hiểu biết lắm, có tài kinh bang tế thế lắm, vậy mà Đảng nỡ lòng nào “đì” bắt ra nước ngoài du học không cho được cầm súng giết giặc Mỹ-Thiệu, Đảng tàn nhẫn bắt phải ở nơi sung sướng ăn toàn bơ sữa thịt bò chờ đến sau 30-4-1975 mới cho về nước, Đảng ác nhân thất đức bắt làm lãnh đạo ở viện này viện nọ chứ không cho làm lãnh đạo nước hay lãnh đạo quốc hội, và Đảng đã quá dở khi chẳng biết trọng dụng nhân tài vì đã không chịu kêu mấy Bộ trưởng mỗi khi cần tư vấn phải tắm gội trai tịnh không được gần phụ nữ mấy tuần trăng rồi đích thân đến Viện thỉnh mời kiểu “tam cố thảo lư” như Lưu Bị ba lần đến mời Khổng Minh Gia Cát Lượng hay như lúc Khương Tử Nha được vua nhà Chu đến lạy thỉnh vậy.

2) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường thua cả loài cầm thú vì sử sách muôn đời từ khi con người trở nên có trí hóa sáng tạo ra chữ viết đã luôn miệt thị bọn “ăn cháo, đái bát” (phường mọi rợ được chủ nhân mời ăn cháo nóng, ăn xong vén quần lôi của quý ra tồ vào đầy bát rồi bưng trả lại chủ nhân), bội nghĩa, vong ân, trời không dung, đất không tha, điếm nhục gia phong, hổ thẹn tổ tiên giòng họ, không biết chính mình dù có cống hiến hiệu quả trọn kiếp trọn đời cũng không sao trả hết nợ cho triệu triệu người đã lấy máu thịt thấm lầy mảnh đất này giữ cho màu mỡ vẹn toàn, và trả nợ ngay cả bao nạn dân đã để lại xương núi đầu lâu ở những tỉnh Miền Tây khi trở thành tiền phương hứng chịu sự tấn công điên cuồng của bọn diệt chủng bạo tàn.

3) Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận là phường bất lương, vô trí, vô trách nhiệm, không đáng sánh bằng với kẻ thất phu. Đã bất tài vô dụng không giúp ích được gì cho tổ quốc, cho dân tộc, thay vì ngồi yên hưởng thụ lại khuấy loạn nội tình, làm ngơ trước sự tồn vong của đất nước bao đời luôn phải đối phó với nguy cơ giặc ngoại xâm tiềm tàng, cứ như quân thất học vô giáo dục vô tổ vô tông sẵn sàng mãi quốc cầu vinh, rắp tâm lập “đại công” với giặc để được phì gia, hoặc chí ít cũng được tiếp nhận nơi hải ngoại thâm thù khi nước (của người Việt) mất nhà (của người Việt khác) tan.

4) Và cuối cùng song không kém phần quan trọng là Lăng Tần đã đúng khi nói về “trí thức” trong bài “Tôi và Huy Đức”.

******

Viết đến đây tôi lại muốn chuyển hướng có đôi lời kính gởi những công dân Mỹ gốc Việt (mà trước nay hay bị gọi nhầm là Việt Kiều), và cần nói rõ với các tính từ kèm theo nhằm bổ nghĩa và cụ thể hóa đối tượng của “đôi lời”, đó là những công dân Mỹ gốc Việt chống Việt Nam (mà trước nay hay tự gọi nhầm là chống cộng, vì “cộng” là một chủ thuyết tức communism, mà đã là chủ thuyết hay học thuyết thì đó là tự do tư tưởng mà chỉ có thể được một chủ thuyết khác tranh luận ngược lại gọi là bút chiến luận, và trên cơ sở tương quan trí tuệ, nghĩa là nếu những người cộng sản tức communist có đại tác phẩm Tư Bản Luận để “đẻ ra” chủ nghĩa cộng sản bán chạy nhiều thập kỷ nay, thì phía tranh luận ngược lại cũng phải có tác phẩm…Cộng Sản Luận có độ dày mấy chục pho tương tự, để “đẻ ra” chủ nghĩa xyz nào đó chứ không lẽ đẻ ra chủ nghĩa tư bản vì hóa ra chủ nghĩa ấy do cộng sản đẻ ra à?; đã vậy, chống cộng sai vì vi phạm tự do tư tưởng của người khác, chống Việt Nam lại càng sai vì Việt Nam xâm lược Mỹ, đô hộ Mỹ, diệt chủng Mỹ, tàn phá Mỹ, cạo đầu gióc tóc Mỹ nam và bắt Mỹ nữ làm nô lệ tình dục hồi nào vậy?) rằng:

1) Xin quý vị xem kỹ nội dung truyền đơn của phong trào đấu tranh của Lê Hiếu Đằng, có ghi rõ ràng là Ủy Ban Tổng Hội Sinh Viên Học Sinh kêu gọi “hướng tới tương lai tươi sáng của dân tộc”, nghĩa là chế độ Cộng Hòa đen tối, lầm than, và tương lai tươi sáng của dân tộc chính là Cộng Sản như thực tế chứng minh từ 1975 đến nay. Như vậy phải chăng Lê Hiếu Đằng đã từng tích cực nguyền rủa Việt Nam Cộng Hòa của quý vị.

2) Cũng trong truyền đơn còn có bài thơ với các câu cú như sau: “Nước mắt mồ hôi pha máu tươi, Tháng tháng năm năm một kiếp người, Chén cơm giữa chợ còn chan máu, Có ai hay đang sống kiếp ngục tù” nghĩa là chế độ Cộng Hòa là chế độ ngục tù tàn bạo giam hãm công dân với nước mắt và máu mà quý vị đã là những tù nhân trong ấy. Như vậy Lê Hiếu Đằng đã nói đúng hay là y đã thóa mạ và bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa của quý vị, đồng thời ám chỉ rằng cộng sản sẽ giải thoát quý vị khỏi chốn đọa đày và quý vị sẽ đời đời nhớ ơn cộng sản?

3) Tương tự từ nguồn trên, các dòng chữ “nhân dân nổi lên quyết liệt đòi hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hòa hợp dân tộc” nghĩa là quý vị đã nổi lên quyết liệt, vì không lẽ quý vị không muốn hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, ấm no, hòa hợp dân tộc? Mà nếu đã vậy, ắt Lê Hiếu Đằng đã nói đúng vì cộng sản đã đáp ứng đòi hỏi quyết liệt của quý vị bằng cách giải phóng Miền Nam, tạo nên nước Việt Nam hòa bình (không còn chiến tranh), thống nhất (không còn chia cắt Bắc-Nam), độc lập (mất hút bóng dáng thực dân Pháp, quân phiệt Nhật, đế quốc Mỹ, bành trướng Tàu), tự do (theo văn hóa văn minh văn hiến thuần Việt), dân chủ (theo thể chế hiến định như bất kỳ quốc gia nào), ấm no (mà điển hình là sự giàu có của người Việt đã khiến nhiều người Mỹ gốc Việt chống Việt trong quý vị ganh tỵ gọi là “tư bản đỏ”, và cũng không phải không là điển hình khi Lê Hiếu Đằng đã “no cơm ấm cật” nên “quậy thật khí thế thật tưng bừng”), và hòa hợp dân tộc khi ngày càng có nhiều người Mỹ gốc Việt không chống Việt, người Mỹ gốc Việt thân thiện với nước Việt, và Việt Kiều đã về Việt Nam, vì Việt Nam, với lòng đoan chính vốn luôn có nơi giòng dõi Việt thế phiệt trâm anh gia giáo gia phong. Mà khi sự thật đã và đang là như thế, Lê Hiếu Đằng phải chăng đã bất hạnh vì vướng phải căn bệnh thường gặp ở tuổi già khi xảy ra sự lẫn lộn giữa thực và hư?

Nói tóm lại, dù có chống Việt đến đâu chăng nữa, lẽ nào quý vị lại ủng hộ Lê Hiếu Đằng và những kẻ tương cận, bất kể đó là kẻ “hèn nhát hèn yếu hèn hạ”, “ăn cháo, đái bát”, và “bất lương, vô trí, vô trách nhiệm”, đặc biệt nghiêm trọng khi chính y đã từng to mồm mắng quý vị ra sao để được đứng vào hàng ngũ sinh viên học sinh đấu tranh hòng được lọt vào mắt xanh của những người cộng sản.

Không ai dùng thứ vất đi. Tiếng Anh có câu tục ngữ “chẳng ai đá một con chó chết”. Ý nghĩa sâu xa là đã là thứ vất đi thì ngay cả một cái đá cũng là sự phí phạm. Văn học Việt Nam có câu tương tự “giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi”. Song, cái sự đời không phải lúc nào cũng phải theo tục ngữ hay văn học. Một vị võ tướng siêu quần bạt tụy đang ăn cơm với đôi đũa vàng chạm ngọc vẫn có thể xuất chiêu dùng đũa kẹp dính một con ruồi bay ngang. Nhà tỷ phú tốt bụng thấy miểng chai lềnh khênh ngoài đường vẫn có thể hy sinh dùng đôi găng tay da hải ly nhặt hết cho vào túi ném vào thùng để không gây họa cho người đi đường. Trong cuộc sống có bao điều phải nghiên cứu để mở mang kiến thức, phải làm để phụng sự quốc gia dân tộc, nhưng không phải vì vậy mà làm ngơ trước những chuyện của ruồi nhặng vốn tiềm tàng hiểm họa của bịnh dịch tả kinh hoàng. Ắt đấy là lý do biết bao con người đoan chính có công tâm đáng kính đã vì lòng bác ái từ bi mà lượm nhặt rác rến miểng chai khi viết về Lê Hiếu Đằng, để bảo vệ các bạn trẻ và những người dân yếu thế không bị nhiễm khuẩn bởi dịch tả Hiếu Đằng.

Nam mô A-di-đà Phật.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Pháp danh An Thiện

Bút hiệu Lăng Tần

Ghi chú:

(*) đã đăng lại trên các blog:

http://hoanghuuphuocteachers.blog.com: các bài: Tôi và Cô Trương Tuyết Anh, Tôi và Thầy Nguyễn Quang Tô, Tôi và Thầy Lê Văn Diệm

http://hhphuoc.blog.com: các bài Tôi và Huy Đức (tít trong blog là Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt: Nhân Nghe Về Huy Đức), Tôi và Lê Công Định (tít trong blog lấy theo tít của báo Nhân Dân là: “Là Công Dân, Phải Tuân Thủ Luật Pháp Quốc Gia”)

http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com : các bài Tôi và Các Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa, Tôi và Huy Đức (tít trong blog là Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt Thiệt: Nhân Nghe Về Huy Đức)

(**) sẽ sớm được đăng lại nguyên văn trên wordpress.com từ nguyên văn của emotino.com:

Tôi và Tổng Thống Saddam Husein

Tôi và Ngành An Ninh Tình Báo

Tôi và Lê Công Định

Tôi và Cu Huy Ha Vu

Tôi và Hai Anh Bộ Đội

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nhân thấy đang có sự “bầy hầy” trong ngành y tế, từ sự sinh sản vô tính vô tư vô tâm vô đạo đức vô giáo dục của kết quả xét nghiệm, sự bất lực bất tài đối với vấn đề liên hoàn giá thuốc và đấu thầu thuốc, sự bó tay đối với vấn nạn chữa trị không với tay nghề bác sĩ và kê toa với tay nghề bán lẻ thuốc ngoại và thực phẩm chức năng ngoại, cho đến những sự thật mang tính thời sự thời thượng thời nay đang được phơi bày trên báo chí truyền thống chính quy cũng như về cái gọi là “y đức”;

Nhận thấy bài viết Lời Khuyên Dành Cho Các Nhà Giáo (tức bài Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai, post ngày 07-9-2012 trên Emotino, đăng lại tại  http://hhphuoc.blog.com/?p=81 và trên http://hoanghuuphuocteachers.blog.com) đã được nhiều học trò cũ của tôi đang phục vụ trong ngành giáo dục gởi email ủng hộ;

Tôi xin đăng lại bài Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ mà tôi đã post lên Emotino ngày 13-9-2011, và vừa in gởi vài lãnh đạo ngành y tế trong tháng 7 năm 2013 vừa qua. Mong rằng khoảng  cách thời gian 2 năm đã không khiến bài viết dưới đây mất thời gian tính và giá trị cảnh báo của nó; đồng thời sẽ giúp xã hội có thêm một vài vị bác sĩ biết vì nước, vì dân. Vì nước, có nghĩa là tác nghiệp với ý thức đầy đủ rằng bản thân không được dính vào các “bầy hầy” của tay nghề và tiêu cực tài chính làm hoen ố, bôi tro trát trấu vào ngành y tế Việt Nam và nền y học nước nhà; qua đó giữ gìn quốc thể đối với quốc tế. Vì dân, có nghĩa là tác nghiệp tận tâm, tận tụy, tận tình, nhiệt tâm, nhiệt thành, nhiệt huyết, với tay nghề cao nhất từ kiến thức cao nhất, để tỏ rõ tính nhân đạo, nhân văn, nhằm phục vụ bịnh nhân hiệu quả nhất, đầy đủ nhất.

Lời Khuyên Dành Cho Giới Bác Sĩ

(Bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino ngày 13-9-2011)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi đã rất rất nhiều năm nay muốn ngỏ đôi lời kính gửi quý bác sĩ Việt Nam (ở đây, như trong bài viết khác tôi đã lập luận rằng ở Việt Nam nhất thiết nên dùng thuật ngữ “bác sĩ Tây Y” và “bác sĩ Đông Y”, gọi chung là “bác sĩ” để nâng cao tầm chất lượng chuyên môn của các y sĩ, vì “lương y” nghĩa là thầy thuốc có lương tâm chứ khó thể chấp nhận cách dùng hạn hẹp gán ép cho thầy thuốc Đông Y), do thật không dễ dàng gì khi phải nêu sự thật khó nghe cho người Việt vốn có tính cách dân tộc đặc thù là luôn dị ứng khủng khiếp với những gì không là lời khen tặng. Nhưng sự cố thân nhân bệnh nhân sát hại một bác sĩ vừa qua đã làm tôi băn khoăn, quyết định nói lên một sự thật, dù sự thật này rất có thể chỉ là cá biệt, hiếm hoi, và tất nhiên không ám chỉ hay liên quan gì đến vụ sát hại vị bác sĩ ấy, thủ phạm hay nạn nhân.

Năm 1993 khi con tôi lên ba tuổi, cháu bị sốt, và vợ chồng tôi đưa cháu vào Bịnh Viện Nhiệt Đới. Do tôi là người tôn trọng vợ, ngay từ đêm động phòng đã tuyên bố với vợ tôi rằng từ nay tất cả sản nghiệp, lương tiền, bổng lộc của tôi đều phải do nàng làm chủ, đứng tên tất tần tật. Tôi chỉ xin nàng mỗi ba việc gồm (a) tuyệt đối không được động đến những núi sách vở tài liệu bản thảo của tôi mà trong đó có cả những quyển nhật ký tôi viết về những người tôi yêu và yêu tôi, (b)  tuyệt đối không được mua sắm bếp gas mà chỉ được xài bếp điện, và (c) tuyệt đối không được cho con uống thuốc mới lạ mà phải chờ tôi kiểm tra dược điển. Tôi phải kiểm tra dược điển vì đó là điều bình thường, vì kiểm tra là công đoạn luôn áp dụng mọi lúc mọi nơi đối với mọi việc quan trọng trong bất kỳ ngành nào, việc nào. Ai đó bảo giám sát kiểm tra không cần thiết, dứt khoát đó là người cẩu thả chây lười sợ bị phát hiện tiêu cực; tương tự, bác sĩ kê toa mà giận dỗi khi bị kiểm tra dược điển thì đích thị đó là bác sĩ được đào tạo với kết quả học tập khả nghi.

Trở lại việc con tôi bị sốt lúc lên ba tuổi năm 1993. Khi nhận được toa của bác sĩ, thấy ghi viêm họng, và thuốc có loại Zinnat rất lạ, tôi mua hết các loại trong toa tại nhà thuốc bịnh viện rồi lên xe Toyota Crown ra về. Lúc kiểm tra dược điển, tôi tá hỏa tam tinh vì Zinnat là loại kháng sinh mới xuất hiện, mà lời khuyên của sách vở y học là đừng bao giờ sử dụng các thuốc kháng sinh mới, dễ sinh ra lờn thuốc trong khi phải nhiều năm mới có chủng loại thuốc mới. Tôi quyết định đi bộ ra nhà thuốc gần đấy mua Amoxicilline là thứ trụ sinh quen thuộc bấy lâu nay Bịnh Viện Nhi Đồng hay cho con tôi uống mỗi khi bịnh viêm họng. Và con tôi bình phục sau đó ít ngày. Tôi vất các vỉ thuốc Zinnat to đùng vào sọt rác, và 16 năm sau, tôi được bác sĩ cho uống…Zinnat vì tôi bị thương không nhẹ ở chân có dấu hiệu nhiễm trùng. Tất nhiên, tôi uống ngay, khỏi cần tra dược điển vì đã biết Zinnat là gì hồi…thế kỷ trước.

Một sự cố khác là năm con tôi lên sáu năm 1996, cháu bị dị ứng, sau lưng nổi những lằn đỏ dưới da. Vợ chồng chúng tôi đưa cháu đến nhà (đường Sư Vạn Hạnh nối dài) một bác sĩ khoa trưởng da liễu nổi tiếng hay lên tivi phát biểu về bịnh ngoài da. Tôi ngạc nhiên thấy ông dùng tay trần khám bịnh cho nhiều bịnh nhân, hết người này đến người khác, mà không hề rửa tay. Tôi định tháo chạy thì đã muộn. Ông chả hiểu con tôi bịnh gì, và ông phán rằng con tôi không bị dị ứng gì sất mà do vải jean “cào da” (trong khi hai cha con tôi chúa ghét vải jean nóng nực nên làm gì có chuyện mua mặc quần áo jean), và ông chứng minh bằng cách dùng móng tay cào lên lưng con tôi để so sánh sắc màu của các lằn đỏ. Sau khi trả tiền công khám, suốt đường về nhà tôi đã làm một việc khiến anh tài xế tên Kha ngạc nhiên vì nhiều năm thấy tôi như cha xứ nay lại không ngớt nguyền rủa dữ dội thóa mạ cay độc tên bác sĩ khoa trưởng bất tài, rất có thể sẽ lây bịnh gì đó cho con tôi từ móng tay dơ bẩn của y.

Một sự cố khác (kể đủ 3 sự cố vì …“sự bất quá tam”) xảy ra năm 2004 khi con tôi 14 tuổi bị ho nhiều. Tôi và vợ tôi đưa cháu đến Trung Tâm Tai-Mũi-Họng (bịnh viện “công”) trên đường Trần Quốc Thảo, Quận 3. Thế kỷ XXI có khác! Toa được in vi tính (tránh việc bác sĩ viết chữ quái đản như cua bò hay lò xo xoắn không ai đọc được dù lẽ ra bác sĩ phải là người có đôi bàn tay mềm mại dịu dàng khi không thuộc ngành nha khoa). Lại có tên thuốc lạ là Donase của nhà sản xuất Hanbul (Hàn Quốc), dù chẩn đoán của bác sĩ…trưởng khoa (khám dịch vụ ngoài giờ ngay tại trung tâm) lại ghi là….viêm họng! Về đến nhà, tôi tra dược điển, dựa theo hai dược chất ghi trên vỉ thuốc Donase gồm  Streptokinase và Streptodornase. Thông tin khủng khiếp tra được là:

1- Streptokinase thuộc danh mục Thuốc Độc Bảng B, dùng cho nhồi máu cơ tim cấp, huyết khối động mạch vành, nghẽn mạch phổi, chứng huyết khối tĩnh mạch sâu nghẽn cầu nối động tĩnh mạch, tắc động mạch mạn tính, huyết khối mạch võng mạc, v.v., ở người lớn, có tính kháng nguyên mạnh nên khi bịnh nhân dùng thì bịnh viện phải sẵn sàng túc trực các phương tiện để cấp cứu kịp thời nếu xảy ra dị ứng. Tác dụng không mong muốn rất có thể là xuất huyết nội tạng nặng ở đường tiêu hóa, sinh dục, tiết niệu, sau màng bụng hoặc các vị trí trong não và dẫn đến tử vong, rét run, sốt, hạ huyết áp nặng, loạn nhịp tim, dị ứng, buồn nôn, phát ban ở da, mày đay hoặc ngứa, khó thở hoặc thở khò khè, sưng mắt, sốc phản vệ, v.v., thậm chí tử vong. Nói chung: đây không phải là thuốc cho trẻ em, và không bao giờ là thứ được dùng cho viêm họng!

2- Streptodornase là một thứ enzyme dùng kháng dị ứng.

Tuy nhiều viện bào chế trên thế giới đã phối hợp streptokinase và streptodornase thành thứ dược phẩm chuyên trị chống viêm sưng sau phẫu thuật, giảm phù nề do bịnh trĩ, giảm đau do viêm,  chấn thương hàm mặt, áp-xe sau nhổ răng, viêm nha chu, hen, lao, viêm phổi, viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm mào tinh hoàn, sau chấn thương mắt, v.v., trong đó có tăng cường phân hủy và bài tiết đàm nhớt, viêm xoang, viêm mũi cấp và mãn tính, polyp mũi, viêm tai giữa cấp và mãn tính, viêm hầu họng, sau phẫu thuật cắt amidan, sau nạo xoang, thì cũng không vì vậy mà bác sĩ lại kê toa cho một trẻ em uống trị viêm họng. Tôi cất các vỉ thuốc và toa thuốc có tên vị bác sĩ trưởng khoa kia, định dùng làm bằng chứng gởi Sở Y Tế Thành phố Hồ Chí Minh tố giác việc bất cẩn của vị bác sĩ này. Vợ tôi phải can ngăn tôi lại vì sợ ông trưởng khoa mang nhục mất chức trong khi tôi sợ con cái người khác bị cho uống thuốc dành cấp cứu trụy tim khi mang bịnh cảm sổ mũi. Rốt cuộc, tôi thở dài ngao ngán, hậm hực đi bộ ra hiệu thuốc gần nhà mua hai vỉ… Amoxicilline. Tất nhiên, sau ba ngày con tôi khỏe cho đến khi thành một thanh niên mới có lần bị cảm ho trở lại năm 2010 mà tôi trị bằng cách ra hiệu thuốc Tây lựa chọn mua nhiều thứ thuốc thảo dược Việt Nam (của các xí nghiệp dược phẩm lớn) cho con tôi uống, cho ngậm kẹo thảo dược (với sự tích cực tham gia ngậm kẹo suốt ngày của tôi, một mình một ngày hết một hộp trăm viên loại không đường), xoa dầu khuynh diệp, đánh gió (bằng dầu khuynh diệp), xông dung dịch nước muối sinh lý (bằng máy xông khí dung), bổ sung viên đa sinh tố, thức uống dinh dưỡng (trà Dr Thanh), thức uống dân gian…Mỹ (hai quả chanh vắt nước vào một lon Coke hay Pepsi), và… Amoxicilline.

Kể tất cả các việc trên, tôi mong các bác sĩ hãy thay đổi tư duy rằng Ngày Thầy Thuốc Việt Nam là ngày các bác sĩ (a) tỏ lòng biết ơn bịnh nhân tức khách hàng vì mọi nghề nghiệp đều hướng đến một công việc duy nhất là “phục vụ” chứ không phải “ban ơn”, nhằm đến một đối tượng cụ thể, để nhận thù lao cụ thể từ đối tượng ấy từ cơ quan chi trả theo luật định, và (b) sinh hoạt sẻ chia rút kinh nghiệm nội bộ về nghiệp vụ, tay nghề, tính chuyên nghiệp, và công trình nghiên cứu khoa học y dược, v.v. chứ không là ngày cực kỳ bất công để các vị chờ đón những lời xưng tụng, tôn vinh và quà cáp từ nhà nước hay thân nhân bịnh nhân.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng tính chuyên nghiệp buộc bác sĩ luôn tận tâm tận tụy khi cứu chữa bịnh nhân mà mình phục vụ, dịu dàng lễ độ với bịnh nhân mà mình phục vụ, cảm thông ngọt ngào với thân nhân của bịnh nhân mà mình phục vụ. Khi thực hiện một công việc và hàng tháng nhận lương, người có học, có hiểu biết, có đào tạo thực thụ về chuyên môn nghiệp vụ cao cấp không ai cho rằng mình đang ban ơn, đang làm phúc, đang cứu nguy, mà chỉ đơn giản là đang làm tròn phần việc của một nhà chuyên môn cao cấp khi phục vụ khách hàng. “Phục vụ” không phải là từ ngữ mặc định quy về nhiệm vụ của những người cấp dưới như y tá, y công. Đối với ngành y, bịnh nhân là khách hàng mà bác sĩ phải phục vụ đến nơi đến chốn, không vì lý do mệt mỏi, quan liêu do thứ bậc, mà quên thân phận người phục vụ của bản thân mình. Tính chuyên nghiệp cao độ còn đòi hỏi sự thể hiện phù hợp của ngôn ngữ cử chỉ mà nét mặt và ánh mắt đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Hết lòng phục vụ bịnh nhân: đó là tôn chỉ duy nhất đúng của một bác sĩ thực thụ, được đào tạo bài bản, hiểu rõ thế nào là đạo đức nghề nghiệp, và thành công ở phương Tây.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng tính chuyên nghiệp buộc bác sĩ phải không ngừng nghiên cứu y dược, không vì khoản tiền hoa hồng của các công ty dược mà dại dột kê đơn vô tội vạ, xâm hại sức khỏe và tính mạng bịnh nhân.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng bổn phận của mình không những luôn nêu gương sáng bản thân mà còn không ngừng răn đe, giám sát, giáo dục tập thể nhân viên y tế dưới quyền tại đơn vị phải luôn đặc biệt chăm sóc tất cả các bịnh nhân, lễ độ với thân nhân bịnh nhân, và thể hiện tính chuyên nghiệp cao nhất trong sự phục vụ của mình.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng việc nêu “đồng lương không đủ sống” hay thiếu kinh phí gì gì đó để rồi sự phục vụ trở nên bầy hầy, yếu kém, làm xấu hổ ngành y chỉ là cái cớ của những kẻ không có lòng tự trọng hay danh dự vì nếu không chấp nhận hoàn cảnh hãy nghĩ việc để nhường chỗ lại cho những bác sĩ, y sĩ, y tá, mới ra trường.

Khi đã trang bị cho mình tư duy mới ấy, quý bác sĩ sẽ thấy rằng những bộ phim Hollywood không chỉ đơn thuần là giải trí khi nêu những cốt truyện trả thù đẫm máu và khủng khiếp kinh hoàng của thân nhân người bịnh đối với y bác sĩ nào đã tắc trách trong chữa trị dẫn đến tử vong hay tàn phế của người thân yêu của họ, mà là lời cảnh báo về tinh thần trách nhiệm, sự cẩn trọng trong tác nghiệp của những người làm công việc đầy khó khăn và nhạy cảm của ngành y.

Kính mong quý bác sĩ hãy vì sự an nguy của bản thân và gia đình mà hết lòng chăm lo cho sự an nguy của bịnh nhân và gia đình bịnh nhân, để ngay cả khi kết quả của sự tận tâm là sự bó tay của y học thì vị-bác-sĩ-tận-tâm-với-đôi-dòng-nước-mắt vẫn được gia định bịnh nhân quá cố nể trọng, gần gũi, kính phục, vinh danh.

Tham khảo những bài viết cùng chủ để y tế:

- Hoàng Hữu Phước. 28-3-2010. Sự hoang đường huyễn hoặc của phương thuốc rượu tỏi. http://www.emotino.com/bai-viet/18489/su-hoang-duong-huyen-hoac-cua-phuong-thuoc-ruou-toi

- Hoàng Hữu Phước. 04-4-2010. Hỡi ơi những thiên thần áo trắnghttp://www.emotino.com/bai-viet/18504/hoi-oi-thien-than-ao-trang

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Hội Chứng Bầy Đàn

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nhân đọc báo Kiểm Toán số 30(56) ra ngày 25-7-2013 có bài “Ta đang ở đâu trên thế giới này?” của Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan đăng ở trang 1 trong mục Chuyện Trong Tuần, tôi thấy cực kỳ thất vọng. Chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan đã dựa vào hai báo cáo của Ngân hàng Thế giới gồm bản Cập nhật kinh tế Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2013 và dự báo triển vọng cả năm; còn báo cáo kia là bảng xếp hạng 177 nền kinh tế thế giới trong đó Việt Nam đứng thứ 42 trên thế giới và thứ 6 trong khối ASEAN, để nêu ra vài chi tiết mang tính so sánh xem Việt Nam thua những ai và những ai đã vượt qua Việt Nam để rồi kết luận như một kẻ chưa-bao-giờ-làm-chuyên-gia bằng câu hỏi: “làm thế nào đây để không phải nhìn con tầu kinh tế khu vực và thế giới chạy vun vút, bỏ ta lại sân ga?”

 

Cách phát biểu này rất tăm tối mơ hồ và an toàn một cách khôn ngoan vì Bà Lan không nêu cụ thể bất kỳ một giải pháp nào để hiến kế với nhà nước hoặc chí ít cũng phân tích vấn đề một cách đầy đủ trên cương vị một chuyên gia đã từng được nhà nước đào tạo và giao trọng trách làm lãnh đạo cao cấp của VCCI trong suốt nhiều năm.

Làm “chuyên gia” hưởng lương nhà nước kể cả lương hưu – tức sống bằng tiền thuế của người dân – thì có bốn việc phải hoàn thành đối với một chuyên gia, đó là (a) làm tròn trọng trách chuyên môn vì là chuyên gia, (b) làm tròn trọng trách chuyên môn ở mức độ chất lượng cao nhất và hiệu quả cao nhất vì đó là thể hiện tính chuyên nghiệp vốn luôn đòi hỏi tinh thần trách nhiệm, (c) chuyên tâm với công việc chuyên môn của đẳng cấp chuyên gia, và (d) chuyên chú vào việc đem chuyên môn ra phục vụ quốc gia, dân tộc. Nhiều chuyên gia kinh tế đã không làm tròn trọng trách chuyên môn, không tuân thủ tính chuyên nghiệp, không chuyên tâm vào nhiệm vụ được giao, và không chuyên chú đem chuyên môn ra phục vụ đất nước, trả món nợ với nhân dân. Không giúp ích gì được cho đất nước này, đề xuất toàn những sách lược kinh tế vô trách nhiệm, đẩy đất nước không vào vị thế tối ưu, không đủ khả năng viết lách bất cứ công trình công trình nào cho hậu thế như các nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel, mà chỉ dựa vào cái bằng tiến sĩ, thạc sĩ, hay cái tước hiệu chuyên gia, để núp trong chiếc áo trí thức mà không biết thế nào mới được gọi là nhà trí thức, và cái ô nhân sĩ mà chớ hiểu phải ra sao mới được gọi là nhân sĩ. Rồi cứ như để chữa thẹn bản thân không làm gì nên thân, chả viết gì được nên hồn, hễ ai rủ rê là cứ ký tên vào kiến nghị hay thỉnh nguyện thư hay cái vớ vẩn gì đấy theo bầy đàn để được công chúng hiểu lầm là có đóng góp công sức tạo nên cái công trình kiến nghị tâm huyết ấy, và để được gọi là nhân sĩ, là trí thức.  Điều này làm tôi nhớ lại khi thấy các vị nhân sĩ-trí thức hè nhau ký tên vào một bức thư chung gởi chính phủ về vấn đề  bô-xít, tôi đã đăng một bài viết trên Emotino dài 17 trang vào lúc 8 giờ 30 phút sáng ngày 26-10-2010 với tiêu đề “Vấn Đề Bô-xít Ở Việt Nam – Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc Sĩ Hoàng Hữu Phước”, nhằm cho quý vị “ký tên chung” ấy biết một “chuyên gia” thực thụ thực sự hàn lâm và có trách nhiệm đối với không những chính kiến của mình mà còn với các đề xuất cho một sự sửa đổi hay thay thế, sẽ độc lập ra sao trong nghiên cứu, phản biện, và đề đạt ý kiến hay nguyện vọng. Nguyên văn bài Bô-xít được lập lại như dưới đây trước khi đi đến phần kết luận của bài viết này.

*********

Vấn Đề Bô Xít Ở Việt Nam

– Phân Tích Hoàn Chỉnh Của Thạc sĩ Hoàng Hữu Phước –

(http://www.emotino.com/bai-viet/18859/van-de-boxit-o-viet-nam)

Hoang Huu Phuoc, MIB

 

 

Dẫn Nhập: Sự Yếu Ớt Của Số Đông & Giải Thích Thuật Ngữ

 

Từ năm 2008 đã có nhiều tranh luận (thường được gọi sai là phản biện) trên báo chí Việt Nam về dự án khai thác bauxite (bô-xít) ở vùng Tây Nguyên, kể cả bọn Việt Kiều chống Cộng cũng mừng vui nhao nhao nói nhặng lên như thể rất quan tâm xót xa đến tiền đồ Việt Nam mà Nhà Nước Cộng Sản đang đan tâm phá hỏng, được cộng hưởng hòa âm điền dã với phản ứng điên dại của một gã cơ hội gởi đơn kiện Thủ Tướng Việt Nam vì đã thông qua dự án này. Gần đây nhất là sự cố vỡ đập bên Hungary khiến tuôn trào ra môi trường bao triệu mét khối bùn đỏ – thứ chất thải loại sau quá trình khai thác bauxite – khiến dấy lên mối quan ngại sâu sắc trong một bộ phận dân chúng Việt Nam, được làm trầm trọng thêm từ hai thái cực giữa một bên là số đông yếu ớt những người phát biểu miệng trước báo giới về những lo ngại rồi cùng nhau viết nên kiến nghị để cùng k‎ý tên gởi Đảng và Chính Phủ Việt Nam mà không trên cơ sở nghiên cứu chỉnh chu cùng nhận thức đầy đủ bao trùm nên bao gồm những lo lắng và kiến nghị, với một bên là các quan chức Nhà Nước bình tĩnh khẳng định mức độ an toàn cao của dự án cùng ngụ ý sự việc không thể đảo dời mà không trên cơ sở dẫn chứng nghiên cứu chỉnh chu cùng nhận thức đầy đủ bao trùm mang tính thuyết phục cao hơn. Bài viết này do đó nhằm cung cấp những lập luận thấu tình đạt lý, với các dẫn chứng thực tế mang tính khẳng định khai thác bauxite là việc cực kỳ bình thường, và thực chất vấn đề nằm ở nội dung nghiêm trọng hoàn toàn khác theo kết luận của phân tích.

Để phục vụ cho bài viết này, phần định nghĩa sau cung cấp ý nghĩa các thuật ngữ đúng như mong muốn của người viết cả trong diễn đạt ngữ nghĩa và biểu đạt tu từ của định hướng hàn lâm:

Bauxite: dùng theo tiếng Anh, không theo kiểu Việt hóa phiên âm tiếng Việt bô-xít vốn nên chấm dứt sử dụng tại Việt Nam trong thời đại cách tân.

Cyanide: dùng theo tiếng Anh, không theo kiểu Việt hóa phiên âm tiếng Việt xi-a-nuya vốn nên chấm dứt sử dụng tại Việt Nam trong thời đại cách tân.

Phản Biện: hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống thứ yếu có thể cản trở để tìm lời giải đáp thuyết phục, giúp sự việc chính yếu trở nên có tính thuyết phục cao nhất có thể được. Người Việt hay dùng lẫn Phản Biện với Tranh Luận, nhầm nghĩa Phản Biện với Phản Bác hay Phản Đối, và chưa nhận định rõ ý nghĩa của Phản trong Phản Biện không hàm nghĩa chống lại như trong Phản Bác hay Phản Đối. Phản BiệnỦng Hộ là hai hình thức khác nhau của sự đồng tình.

Ủng Hộ: hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách bổ sung những tình huống thứ yếu mang tính giá trị cộng thêm mà không cần có những bổ sung ấy bản thân sự việc cũng đã có sức thuyết phục cao nhất. Ủng HộPhản Biện là hai hình thức khác nhau của sự đồng tình.

Tranh Luận: hình thức bày tỏ sự chưa đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống chính yếu hoặc thứ yếu để đối đáp hoặc đối thoại tìm lời giải đáp mà kết quả là sự thắng thế của một bên, hoặc hậu quả là sự gãy đổ của một lập luận, hay hệ quả là tiến trình bảo lưu các nội dung đối kháng cho đến khi có tư liệu mới trong một thời điểm thích hợp mới. Theo ý nghĩa duy nhất đúng đắn này, tranh luận sẽ được dùng xuyên suốt bài viết này.

 

II- Tài Nguyên Thiên Nhiên & Thảm Họa Môi Trường

 

A- Vấn Đề Muôn Thủa

Đã là tài nguyên thiên nhiên thì mọi hình thức khai thác dù sơ khai thô thiển thủ công quy mô nhỏ hay hiện đại tự động hóa quy mô lớn thì vẫn gây tác động xấu đến môi trường sống và cuộc sống con người. Bauxite chỉ là một thứ khoáng chất mà sự bình tĩnh của dư luận rất cần thiết, nhất là bauxite chưa bao giờ được liệt kê vào danh mục 10 tai họa nhãn tiền – tác động nguy hiểm ngay lập tức – đối với môi trường mà không thể ngăn chặn được ngay cả khi đã từng xảy ra nhiều thảm họa. Bauxite có thể tiềm tàng một nguy cơ cực kỳ hiếm khi xảy ra và dễ đề ra các biện pháp ngăn chặn một khi đã có sự cố thực sự xảy ra ở một nơi nào đó trên thế giới.

Do đó, trước khi bàn đến bauxite, các phân tích sau mời gọi sự quan tâm của cộng đồng đến những vấn đề khủng khiếp để có sự điềm tĩnh cần thiết trong tranh luận về bauxite.

 

B- Mười Tai Họa Nhãn Tiền Đối Với Môi Trường

Những tai họa sau xảy ra nhãn tiền đối với môi trường sống và cuộc sống của cư dân trên hành tinh này.

1) Khai Thác Vàng với Sáu Điều Tàn Độc

Khai thác vàng thường đi đôi với việc sử dụng các hóa chất độc hại để trích xuất hay bóc tách qu‎ý kim và bảo thạch. Tai họa nhãn tiền xảy đến trước tiên với những thợ mỏ trực tiếp tham gia khai thác vàng khi làm việc tiếp xúc thường xuyên với độc chất, tuôn các chất độc như thủy ngân và cyanide vào nguồn nước và không khí, gây hại dây chuyền cho gia đình thợ mỏ cùng cộng đồng dân cư xung quanh. Đặc biệt nghiêm trọng khi thủy ngân phát tán rộng xa khu vực mỏ dưới dạng methyl thủy ngân, một trong số những độc tố nguy hiểm nhất đối với hệ thần kinh các sinh vật sống trong đó có con người và gây nhiễm bẩn đến chuỗi thức ăn qua hiện tượng tích tụ sinh học. Số liệu của Tổ Chức Phát Triển Công Nghiệp Liên Hợp Quốc UNIDO cung cấp những thông tin đầy quan ngại như trên thế giới có khoảng 15 triệu thợ mỏ vàng, trong đó có gần 5 triệu phụ nữ và hơn nửa triệu trẻ em, và mỗi năm có 1000 tấn thủy ngân tức 95% tổng lượng thủy ngân sử dụng trong khai thác vàng đã được thải ra tự nhiên, chiếm đến 30% tổng lượng thủy ngân do con người thải ra thiên nhiên mỗi năm trên toàn thế giới, gây tác hại mọi mặt về kinh tế, môi trường, và sức khỏe giống nòi. Một nghiên cứu khác ở Peru còn cho thấy cứ mỗi gram vàng thu được, người ta đã thải vào khí quyển ít nhất 2 gram thủy ngân, chất có thể gây ra các chứng bệnh thận, viêm khớp, sẩy thai, mất trí nhớ, thiểu năng trí tuệ, tâm thần, hô hấp, bại não, và tử vong. Thế giới đã nêu nhiều điều tàn hại nhãn tiền của khai thác mỏ vàng đối với môi trường, trong đó có sáu nội dung nghiêm trọng nhất như sau:

a- Diệt Chủng

Lịch sử loài người đã ghi lại rằng mỗi một cuộc đổ xô tìm vàng đều đồng nghĩa với sự giết chóc, tiêu diệt, và tàn phá. Những cư dân bản địa vùng California (Hoa Kỳ) chỉ còn lại 10% dân số, còn thổ dân Galamsey (Tây Phi), Igorot (Philippines), và Macuxi cùng Yanomami (lưu vực sông Amazon, Brazil) đều bên bờ tuyệt diệt. Điển hình là thổ dân Yanomami từ 20.000 người nay chỉ còn 8.000 người sống sót sau khi 40.000 thợ mỏ đổ xô đến đãi vàng năm 1989 gây ô nhiễm các dòng sông, đem bệnh tật đến dân bản địa và muông thú.

b- Hủy Nước

Tàn hại nước và nguồn nước được xem như hậu quả khủng khiếp nhất mà ngành khai thác mỏ vàng gây ra cho môi trường sinh thái. Từ vùng Sierra Nevada ở Bang California Hoa Kỳ trong những năm 1850 đến lãnh địa tộc người Pemon của dân Amerindian tại Venezuela hiện nay, thợ mỏ đã hủy hoại các dòng sông bằng cách cày nát bờ sông đãi khoáng vàng, tiêu diệt thực vật và các giống thủy sinh. Thậm chí công nghệ kỹ thuật cao sử dụng trong khai thác vàng như tại mỏ Nevada – chiếm phần lớn sản lượng vàng của Hoa Kỳ – lại thậm chí hủy phá nguồn nước ghê gớm hơn vì sử dụng lượng nước nhiều hơn lượng tiêu thụ của dân cư toàn tiểu bang. Kết quả điều tra địa chất Hoa Kỳ US Geological Survey cho thấy tình hình nghiêm trọng của mực nước tụt xuống đến 300 mét tại một số mỏ ở Nevada, và một mỏ tiêu thụ mỗi ngày hết 380 triệu lít nước, bằng tổng lượng nước sử dụng cho dân cư thủ phủ Austin của tiểu bang Texas. Tồi tệ hơn nữa là hệ thống thủy lợi và nguồn nước quanh vùng chưa sử dụng đến cũng trở nên không thể sử dụng được do bị nhiễm độc bởi các hóa chất trong đó có cyanide.

c- Hủy Đá

Để có một dây chuyền vàng bình thường cho một cô dâu, ít nhất gần 3 tấn đất đá đã bị đào xới, đập vụn. Viện Worldwatch điều tra với kết quả sản lượng 2.402 tấn vàng khai thác được trong năm 1997, đã có 725 triệu tấn đất đá bị hủy hoại, thậm chí không thể sử dụng được do nhiễm kim loại, acid, và hóa chất dung môi. Tỷ lệ tiêu chuẩn của kỹ nghệ khai thác mỏ vàng ở Hoa Kỳ là 1/3.000.000, nghĩa là cứ mỗi tấn vàng thu được sẽ có 3 triệu tấn đá phế thải. Những gì còn lại sau khi một mỏ vàng đã được khai thác hết sẽ là địa hình đá nham nhở bị bóc thịt trần, môi trường hủy hoại và với một giá sinh thái cực đắt.

d- Độc Chất Cyanide

Cyanide là hóa chất chủ lực trong tách vàng ra từ quặng. Vào năm 1998, một vụ tràn cyanide tại một mỏ vàng thuộc sở hữu của một công ty Canada ở nước Kyrgyzstan đã làm bốn người chết và hàng ngàn người phải sơ tán khỏi vùng hạ lưu. Còn dân chúng tiểu bang Colorado đã phải mất 100 triệu USD chi cho Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường EPA chỉ để khoanh vùng nhiễm độc của các con sông chứ chưa thể tẩy độc chúng sau sự cố ở mỏ vàng Summitville.

e- Độc Chất Thủy Ngân

Nhiều trăm năm nay, thủy ngân được dùng để tách vàng khỏi quặng, và đã gây ra bao bệnh tật cho thợ mỏ và cộng đồng dân cư quanh mỏ. Trong thời đổ xô tìm vàng ở Bang California đã có gần 8.000 tấn thủy ngân bị thải vào sông ngòi, ao hồ, gây ra nhiều bệnh tật về thần kinh và tử vong của dân cư. Thậm chí hơn 50% lượng thủy ngân hiện nay còn đang treo lơ lửng ám áng vùng Vịnh San Francisco là phần còn sót lại của cuộc đổ xô tìm vàng năm 1849, tức cách nay những 200 năm.

f- Gây Hại Hệ Sinh Thái

Tình trạng nhiễm độc nước, tàn hại môi trường sống và hủy phá đa dạng sinh học, công nghiệp hóa vùng nguyên sơ, xây dựng cầu đường, và vấn nạn núi rác thải ở những vùng khai thác mỏ vàng đã gây những tác động tiêu cực đến môi trường khu vực. Ngành đánh bắt thủy sản đặc biệt bị ảnh hưởng do tình trạng bùn đất và độc chất từ mỏ vàng chảy vào sông ngòi, còn động vật hoang dã thì chết vô số. Năm 1990 người ta đã đếm được 7.000 chim muông chết cạnh các hồ nhiễm cyanide tại các mỏ vàng ở các bang California, Nevada, và Arizona. Chỉ riêng việc khai thác vàng đã bóc tách khỏi vỏ trái đất và đẩy đi một lớp đất đá nhiều hơn lượng đất đá bị các sông ngòi trên toàn thế giới xói mòn theo quy trình tự nhiên.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: TRƯỚC CÁC DỮ LIỆU NGUY HẠI NHÃN TIỀN NÊU TRÊN MÀ MỨC ĐỘ TÀN KHỐC VƯỢT XA TAI NẠN BAUXITE, LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ SẼ ĐỀ NGHỊ CẤM KHAI THÁC VÀNG KHÔNG NẾU VIỆT NAM CÓ NHỮNG MỎ VÀNG LỚN THIÊN NHIÊN BAN TẶNG?

2)   Nhiễm Bẩn Nước Ngầm

Nhiễm bẩn nước ngầm là đại họa môi trường thứ hai mà loài người và dân chúng ở từng quốc gia phải quan ngại ưu tiên. Nước ngầm được hình thành từ nước dưới lớp đất thịt tích tụ trong những khoang trống dưới lòng đất theo cấu tạo địa chất hoặc từ sự thẩm thấu từ mặt đất của nước mưa hay tuyết tan, hoặc từ các khe nứt dưới đáy các sông hồ; hoặc từ nước bị lưu giữa các địa tầng hóa thạch thời khai thiên lập địa. Đây là nguồn nước ngọt cực kỳ quan trọng, chiếm 97% trữ lượng nước ngọt mà nhân loại có thể tiếp cận được cho sự sống, nhất là khi chỉ có 6% nước ngọt trên tổng lượng nước của địa cầu, và 0.3% có thể uống được. Song, vấn nạn thời đại là đã không có những biện pháp hữu hiệu mang tính chiến lược cấp quốc gia trong bảo vệ nước ngầm cho các thế hệ mai sau, khiến việc đào xới đất đai vô tổ chức, xây dựng hạ tầng thiếu nghiên cứu khoa học bảo vệ địa tầng nước ngầm, khai thác nước ngầm tùy tiện, đã làm nước ngầm bị nhiễm bẩn, nhiễm độc, và thậm chí không thể sử dụng được cho sự sinh tồn của con người dưới sức nặng tàn phá của đô thị hóa, kỹ nghệ hóa, tưới tiêu canh nông tùy tiện, và tiêu dùng cá nhân sai mục đích. Tác động đến nước ngầm còn đến từ hóa chất độc hại trong quá trình khai khoáng, sự lạm dụng hóa mỹ phẩm trong đời sống hàng ngày như chất tẩy rửa và tắm gội, sự chôn lấp tùy tiện rác kỹ nghệ và chất thải công nghiệp cũng như sự lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, có thể gây ra bệnh tật như ung thư, mất khả năng sinh sản hoặc sinh quái thai, tiêu chảy cấp, v.v., cho dân cư.

Nhiễm bẩn nước ngầm do đó là một đòi hỏi bức thiết phải giải quyết ngay vì sự sống hiện nay và sự tồn tại của thế hệ mai sau của mỗi dân tộc.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: SAO CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CHỈ ĐỀ NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE VÌ LO SỢ SỰ CỐ HÃN HỮU CÓ THỂ XẢY RA THAY VÌ NGƯNG KHAI THÁC NƯỚC NGẦM VÔ TỘI VẠ MÀ THẾ GIỚI ĐÃ CẢNH BÁO TỪ LÂU ĐỂ LO CHO THẾ HỆ NGƯỜI VIỆT MAI SAU?

3)   Kỹ Nghệ Khai Khoáng (Khai Thác Khoáng Sản)

Kỹ nghệ khai khoáng bao gồm các hoạt động khai thác kim loại và khoáng chất nói chung, từ vô hại đến cực độc, và từ bình thường đến có giá trị cao. Những vấn nạn ô nhiễm thường gặp từ hoạt động khai khoáng bao gồm việc vứt bỏ hay xử lý chất thải loại và phế loại. Chất thải loại chủ yếu là những loại bùn và đất đá còn lại sau khi đã trích ly hay bóc tách để thu những phần quặng có giá trị, kèm theo những dư chất độc hại của các loại hóa chất sử dụng trong quy trình khai thác, khi được thải tuôn ra các hệ thống sông ngòi sẽ gây tác động tiêu cực đến hệ thủy sinh và thực vật của cả khu vực hạ lưu, gây hại cho các nông trang và thảm thực vật đáy sông, chưa kể làm hẹp lòng sông gây ra lũ lụt nghiêm trọng và thường xuyên chứ không chỉ nạn phá rừng là nguyên nhân của lụt lội.

Tác hại đến sức khỏe dân cư từ các hoạt động khai khoáng bất kỳ đều bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các bệnh l‎ý kinh niên ở mắt, cổ họng, mũi, da, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, suy thận, hư gan, các chứng ung thư, hủy hoại hệ thần kinh, bộ phận sinh dục, và sinh quái thai.

Gần đây đã xảy ra một sự cố đặc biệt nghiêm trọng chưa từng được biết đến trong toàn bộ lịch sử cận đại của nhân loại khi nổ dàn khoan và khai thác dầu khí của tập đoàn BP Anh Quốc ở Vịnh Mexico trên thềm lục địa Hoa Kỳ gần vùng châu thổ sông Mississippi từ ngày 20-4-2010 đến ngày 19-9-2010, làm thoát ra đại dương 791 triệu lít dầu thô (640.000 mét khối) tạo vết loang rộng 128.000 km2, gây ra thảm họa sinh thái khủng khiếp cho môi trường sống sinh vật hoang dã và sinh vật biển, ngành đánh bắt hải sản và du lịch.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TIẾP THEO SAU KIẾN NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE CÓ LẠI SẼ CỰC ĐOAN ĐỀ NGHỊ HỦY BỎ TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI KHOÁNG, CHẤM DỨT TẤT CẢ CÁC VIỆC THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU HỎA DO THẤY CÓ SỰ CỐ BP Ở VỊNH MEXICO, BIẾN VIỆT NAM THÀNH QUỐC GIA DUY NHÁT TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGÀNH KHAI KHOÁNG ?

4)   Kỹ Nghệ Luyện Kim

Khi nói đến kỹ nghệ luyện kim không thể không nhắc đến những kim loại được “luyện” như đồng, chì, kẽm, bạc, cobalt, cadmium, v.v. , chứ không chỉ là cán kéo sắt thép xây dựng. Quy trình luyện kim có qua sử dụng nguồn nhiệt từ than cốc hay than củi hay một nguồn nhiệt khác. Các chất cực kỳ độc hại thải vào khí quyển với khối lượng thể tích khổng lồ gây ô nhiễm nghiêm trọng không khí bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – hydrogen fluoride (HF), sulfur dioxide (SO2), nitric oxide (NO), nitrogen dioxide (NO2), khói bụi đậm đặc độc hại, khí độc và các chất độc, chưa kể khối lượng kim loại nặng như chì, thạch tín, chromium, cadmium, nickel, đồng và kẽm cũng bị phát tán. Thêm vào đó, việc sử dụng khối lượng lớn các acid trong một số quy trình luyện kim cũng khiến phát tán sulfuric acid (H2SO4) và carbon dioxide (CO2 ). Những ống khói cao mọc lên như nấm với những cột khói khổng lồ của thời kỳ phát triển công nghiệp đã gây ra hiện tượng sương khói nguy hiểm, chứa khí bẩn ozone (O3), carbon monoxide (CO) và các khí độc khác; chưa kể các phân tử bụi kim loại theo gió bay xa có thể làm ô nhiễm đất canh tác và mặt nước.

Những tác hại nhãn tiền đến với sức khỏe con người trước hết là những nhân lực phục vụ ngành luyện kim luôn trực tiếp tiếp xúc với chất gây ô nhiễm, sau đó là đến những cư dân quanh vùng hoặc sử dụng thực phẩm nuôi trồng hay đánh bắt từ mặt đất và mặt nước bị nhiễm độc, dẫn đến những bệnh kinh niên nghiêm trọng như bệnh tim, phổi, thai chết lưu, sinh quái thai, đau thận, suy gan, đau mắt/mũi/họng, hệ tiêu hóa, đau khớp, hô hấp, và hệ sinh dục.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN NƠI CÁC NƯỚC CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ THẬM CHÍ VỚI HỆ QUẢ NGHIÊM TRỌNG CỦA HIỆU ỨNG NHÀ KÍNH ĐANG ĐE DỌA TRỰC TIẾP NHIỀU TRIỆU NGƯỜI DÂN VIỆT NAM TIẾP THEO SAU KIẾN NGHỊ NGƯNG DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE CÓ LẠI SẼ CỰC ĐOAN ĐỀ NGHỊ HỦY BỎ TOÀN BỘ CÁC HOẠT ĐỘNG LUYỆN KIM, BIẾN VIỆT NAM THÀNH QUỐC GIA DUY NHÁT TRÊN THẾ GIỚI KHÔNG CÓ NGÀNH CÔNG NGHIỆP NẶNG?

 

5)   Mỏ Uranium và Chất Thải Phóng Xạ

Các chất phóng xạ và chất thải phóng xạ là những nguồn phát tán phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người. Nguyên liệu phóng xạ được dùng cho ngành điện lực, phục vụ các mục đích quân sự, và trong chữa trị hay phân tích y tế. Có bốn loại phóng xạ gây hại cho sức khỏe con người như phân rã Alpha, Beta, và Gammy cùng phóng xạ Neutron. Việc khai thác mỏ Uranium trên thế giới đặt ra mối quan ngại sâu sắc do mười nước sản xuất uranium nhiều nhất thế giới lại toàn là những quốc gia có thu nhập thấp và không phải luôn đáp ứng được các yêu cầu kỹ nghệ tốt nhất, như Kazakhstan, Nga, Niger, Namibia, Uzbekistan, Ukraine và Trung Quốc.

Do hàm lượng uranium trong quặng cực thấp, vấn đề trở nên nghiêm trọng do lượng bùn đất thải loại vừa rất cao lại vừa chứa lượng phóng xạ cao, đến 85% lượng phóng xạ ban đầu của quặng khi chưa tách xuất. Độ đậm đặc phóng xạ càng cao khi bãi chứa chất thải tập trung tại một khu vực, và sự phát tán còn làm nhiễm xạ sông suối ao hồ do hoạt động bơm nước ra khỏi mỏ trong quá trình khai khoáng.

Hoạt động phóng xạ ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể sống của con người bằng nhiều cách mang tính bi kịch, tấn công toàn bộ hệ chức năng cơ thể, gây ra nhiều chứng ung thư di truyền cho nhiều thế hệ sau đó. Không có mức độ an toàn bất kỳ trong việc bị nhiễm phóng xạ vì độ nhiễm cao có thể dẫn đến tử vong sau vài giờ, trong khi mức độ không chết người của phóng xạ lại gây ra thay đổi về huyết học, nôn mửa, kiệt sức, và biến đổi gen di truyền, hệ quả là thị lực giảm, bộ não teo nhỏ, phát triển chậm hoặc bất thường, và thiểu năng trí tuệ.

Việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và viện hạt nhân ở mỗi quốc gia đều tiềm tàng những nguy cơ nhiễm xạ đối với các nhân viên làm việc tại đó, gia đình họ, và dân cư quanh vùng, chưa kể vấn đề an ninh yếu kém có thể dẫn đến sự cố mất trộm các thanh uranium ra ngoài hay việc phá hoại hoặc tai nạn ngẫu nhiên như vụ nổ nhà máy điện Chernobyl của Ukraine ngày 26-4-1986 gây thảm họa cho dân cư tại chỗ và nhiều quốc gia lân cận mà di chứng còn đến tận ngày nay.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN CỦA PHÓNG XẠ NGUYÊN TỬ KHÔNG NHỮNG ĐẾN MẠNG SỐNG NGƯỜI DÂN MÀ CÒN ĐẾN HỆ DI TRUYỀN NÒI GIỐNG VIỆT, CÓ SẼ VẪN KHÔNG CHO ĐÂY LÀ VIỆC QUAN TRỌNG HOẶC SẼ ĐỀ NGHỊ KHÔNG XÂY DỰNG BẤT KỲ NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN HAY BẤT KỲ VIỆN NGHIÊN CỨU HẠT NHÂN NÀO TẠI VIỆT NAM SAU KHI TRANH LUẬN XONG VỀ DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

6)   Nước Cống Rãnh Không Qua Xử Lý

Nước cống rãnh gồm các loại chất thải dạng lỏng từ chất thải của con người và chất thải phi công nghiệp từ sinh hoạt tắm gội giặt giũ của con người. Tại các vùng nghèo trên thế giới, cống rãnh được cho chảy vào sông rạch tại chỗ. Nước cống không qua xử lý có thể gây bệnh tật nghiêm trọng cho con người vì có chứa các mầm bệnh lây lan qua nước uống, hủy phá hệ sinh thái thủy, đe dọa môi trường sống con người khi mức ô-xy sinh học đồng hành và các dưỡng chất trong nước ở mức thấp hơn mức có thể duy trì sự sống.

Tổ chức World Health Organization (WHO) năm 2008 ước tính có 2,6 tỷ người không tiếp cận được các điều kiện vệ sinh tốt hơn, theo đó 37% thuộc khu vực Hạ Sahara Châu Phi, 38% Nam Á, và 45% Đông Á, và mỗi năm có 1,5 triệu ca tử vong do nước không an toàn mà lẽ ra đã có thể cứu sống được. Việt Nam hiện đang phải đương đầu với vấn đề nước cống kể cả ngay tại các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh. Nước cống có thể tràn lan theo triều cường, xâm nhập vào hệ thống nước ngầm hoặc hệ thống nước máy sinh hoạt, dẫn đến lan truyền các dịch bệnh do người dân vô tình uống phải hoặc tắm gội từ nước máy bị nhiễm, dẫn đến các bịnh về da, mắt, tai, hoặc các bịnh truyền nhiễm hiểm nghèo như dịch tả, thương hàn, kiết lỵ, giun, sán sơ mít, viêm gan siêu vi A, và vô số các bịnh khác.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM TRƯỚC CÁC HẬU QUẢ NHÃN TIỀN CỦA NƯỚC CỐNG ĐANG GÂY HỌA CHO SINH MẠNG NGƯỜI DÂN VÀ LÀM XẤU HÌNH ẢNH MỘT DÂN TỘC MẤT VỆ SINH TRƯỚC MẮT THẾ GIỚI CÓ SẼ TIẾP TỤC ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

7)   Ô Nhiễm Không Khí Chốn Thị Thành

Có hai tác nhân gây ra ô nhiễm không khí chốn thị thành là (a) chính cấp như khói từ việc đốt cháy nguyên liệu hóa thạch như từ xe cộ, nhà máy, hoạt động sản xuất công nghiệp, chất thải nông nghiệp làm biogas, gió bụi tự nhiên, kể cả sự hô hấp của thực vật; và (b) thứ cấp gồm các phản ứng hóa học khi các tác nhân chính cấp tương tác với ánh nắng, khí ô-xy, nước và các hóa chất khác có sẵn trong không khí. Các chất chính gây ô nhiễm không khí thường gặp là PM, O3, NO2, và SO2.

Tổ chức WHO ước tính mỗi năm trên thế giới có gần một triệu người tử vong do những bịnh lý từ ô nhiễm không khí ngoài trời ở thành thị. Dân cư sống gần nhà máy điện, các nhà máy sản xuất, xa lộ hay các tuyến giao thông chính thường chịu phơi nhiễm với lượng khí bẩn độc hại nhiều hơn và lâu dài hơn, dẫn đến nguy cơ mắc phải các chứng bệnh kinh niên nghiêm trọng như bệnh phổi, tim mạch, hô hấp, các bệnh ung thư như ung thư phổi, hen suyễn trầm trọng, viêm phế quản mãn tính, đặc biệt đối với trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, và người già, làm gia tăng số lượng tử vong hàng năm. Những nỗ lực nhằm gia giảm ô nhiễm không khí ngoài trời nơi thành thị bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – loại hẳn xăng pha chì khỏi thị trường, quy định chặt chẽ về lượng khí thải của xe, và phát triển hệ thống giao thông công cộng như xe bus và xe điện.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ ĐANG SỐNG TẠI THÀNH THỊ VÀ CÓ NHẬN THỨC ĐẦY ĐỦ VỀ MỨC ĐỘ NGUY HIỂM CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ NGOÀI TRỜI TẠI THÀNH THỊ HAY KHÔNG, CÓ XEM MỌI ĐẦU TƯ VÀ NỖ LỰC TRƯỚC MẮT VÀ DÀI HẠN NÊN DÀNH VÀO VIỆC LÀM GIA GIẢM SỰ XUỐNG CẤP NGHIÊM TRỌNG CỦA KHÔNG KHÍ CÁC THÀNH PHỐ, HAY VẪN XEM MỌI ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

 

8)   Tái Chế Pin-Ắc Quy Chì

Chì được dùng trong bình ắc-quy ô-tô trên toàn thế giới, và khi bình ắc-quy không còn sử dụng được, nó trở thành ULAB tức bình ắc-quy chì đã qua sử dụng và bị Công Ước Basel liệt vào hàng phế thải độc hại. Chì tái chế là thứ hàng hóa có giá trị và mua ULAB từ các nước công nghiệp để tái chế thu hồi chì là thứ công việc sinh lợi đối với nhiều dân cư các nước đang phát triển, thậm chí tiến hành nấu chảy thu hồi chì tại nhà trong khu dân cư khiến gây ra ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinh thái. Hàng năm 6 triệu tấn chì được sử dụng trên thế giới và ¾ dành cho sản xuất bình ắc-quy dành cho xe ô-tô, hệ quả là làm gia tăng các hoạt động tái chế thu hồi chì, gây nhiễm độc cho người trực tiếp tái chế, cả cộng đồng dân cư, nguồn nước, không khí, và đất trồng trọt. Sự nhiễm độc nặng xảy ra khi hít thở phải bụi chì, khói chì hay hơi chì, và trong thời gian dài. Đặc biệt nghiêm trọng do chì có thể thâm nhập vào cơ thể người qua phổi và miệng, tích tụ ở các mô xương, gây còi cọc chậm phát triển, hư thận, chậm phát triển trí não, thậm chí tử vong. Dấu hiệu của nhiễm độc chì gồm kiệt sức, đau đầu, nhức xương, đau cơ bắp, nghểnh ngãng, biếng ăn, ngủ chập chờn, đau bụng; tình trạng nặng hơn còn gây ra co giật, hôn mê, sốt cao. Trẻ em bị nặng hơn, với biến chứng bại não; còn phụ nữ mang thai bị nhiễm độc chì có nguy cơ chết lưu thai hoặc sinh quái thai.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ NHẬN RA ĐIỀU ĐANG ĐE DỌA CUỘC SỐNG CỦA DÂN NGHÈO TỪ VIỆC TÁI CHẾ THU HỒI CÁC LOẠI KIM LOẠI ĐỘC HẠI CHÍNH LÀ ĐIỀU CẦN ƯU TIÊN GIẢI QUYẾT TỪ NHỮNG ĐẦU TƯ HUẤN NGHIỆP, HỖ TRỢ MUA SẮM TRANG THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ THÍCH HƠP ĐỂ GIA GIẢM NGUY CƠ NHIỄM ĐỘC VÀ GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, MÀ VIỆC ĐẦU TƯ NÀY CẦN ĐẾN NHIỀU NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CÓ THỂ CÓ ĐƯỢC TỪ KHAI THÁC BAUXITE, THAY VÌ VẪN XEM MỌI ƯU TIÊN TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

9)   Nhiễm Bẩn Nước Sông

Mỗi người hàng ngày cần 20 lít nước sạch để sinh tồn. Song, sự gia tăng dân số, sự phát triển mạnh công kỹ nghệ, cùng tình trạng gây nhiễm bẩn cho nguồn nước khiến nguồn nước hiện có trở nên ngày càng có tỷ lệ không dùng được cao hơn. Nhiều dòng sông không còn sự sống sinh học và trở nên độc hại, khiến con người phải sử dụng đến nguồn nước ngầm dưới lòng đất dù thậm chí ngày nay ngay cả nước ngầm cũng bị ô nhiễm nặng. Vấn đề hàng triệu cư dân sống ở lưu vực một con sông cũng đủ khiến việc kiểm soát ô nhiễm nước sông trở nên bất khả thi: lượng mầm bệnh từ chất thải của con người đổ ra sông ngòi và nước từ sông được đưa vào sử dụng dù qua hệ thống lọc vẫn không bảo đảm có tính an toàn vệ sinh cao nếu thiết bị và quy trình công nghệ không hiện đại, chưa kể nước sông nhiễm bẩn dùng tưới tiêu canh nông sẽ cho ra những sản phẩm nông nghiệp chứa mầm bệnh, gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng , chẳng hạn các chứng bệnh đường ruột, tiêu hóa, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ nhỏ. Việc đun sôi nước nhiễm độc và nhiễm bẩn chỉ có thể giết một số mầm bệnh, song không thể loại trừ các tạp chất độc hại. Các loại thủy cầm cũng bị tiêu diệt do môi trường nước bị nhiểm bẩn và nhiễm độc, khiến đời sống dân chài càng gặp khó khăn. Sự việc nghiêm trọng do Vedan và nhiều nhà máy sản xuất khác gây ra đã làm chết những con sông, tức triệt mất nguồn nước của sự sống của cư dân Việt Nam vùng châu thổ các dòng sông này, chứ không chỉ giản đơn là đoạt mất nguồn thu nhập từ đánh bắt thủy sản của dân chài.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: PHẢI CHĂNG CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM DO VẪN CHƯA CÓ NHẬN THỨC ĐÚNG VÀ ĐỦ VỀ SỰ CỐ VEDAN VÀ CÁC SỰ CỐ TƯƠNG TỰ ĐANG LÀM CHẾT CÁC DÒNG SÔNG, TRIỆT MẤT NGUỒN NƯỚC TỨC SỰ SỐNG CỦA HÀNG TRIỆU CON NGƯỜI, NÊN THAY VÌ SỬ DỤNG CHẤT XÁM CỦA NHỮNG NHÀ KHOA HỌC TÌM CÁCH CỨU SỐNG CÁC DÒNG SÔNG, ĐÃ TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

 

10)   Ô Nhiễm Không Khí Trong Nhà

Ô nhiễm không khí nội thất tức IAP là vấn nạn tình hình chất lượng không khí trong nhà, tại trường, nơi làm việc, và ở những chốn tập trung đông người như nhà hàng, nhà thi đấu, rạp hát, v.v. Hầu hết nguyên nhân gia giảm nghiêm trọng chất lượng không khí nội thất đến từ việc hút thuốc, sử dụng bếp lò, máy móc thiết bị, hoặc nhiên liệu sinh học thô như trấu, phân chuồng, hoặc gỗ, để nấu nướng, v.v, đặc biệt nghiêm trọng nếu không có hoặc chỉ có hệ thống thông gió không hiệu quả, mà phụ nữ – do thường xuyên nấu ăn ở bếp – và trẻ em chưa đến tuổi đi học thường gánh chịu hậu quả nặng nề hơn.

Ô nhiễm không khí nội thất gây ra cái chết cho 3 triệu người mỗi năm trên thế giới, chiếm 4% tổng số các nguyên nhân. Các tác động đến sức khỏe bao gồm, song không chỉ giới hạn bởi:
a- ARI tức nhiễm đường hô hấp cấp: chiếm 1/8 tổng số các bệnh, và là loại có nhiều bệnh nhân nhất ở Ấn Độ

b- COPD tức nghẽn phổi mạn tính, bao gồm viêm phổi, chiếm 16% số tử vong nữ tại Trung Quốc

c- Ung thư phổi: 2/3 phụ nữ Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico mắc bệnh này dù họ không hút thuốc

d- Đục thủy tinh thể: các nghiên cứu cho thấy phụ nữ dùng nhiên liệu sinh học nấu ăn có nguy cơ mù lòa cao hơn gấp 2,4 lần

e- Ho lao: các nghiên cứu cho kết quả phụ nữ Ấn Độ dùng củi nấu ăn có nguy cơ bệnh lao cao gấp 2,7 lần so với người khác

f- Sinh non: phụ nữ vùng quê Guatemala nấu ăn bằng củi sinh con non hơn các phụ nữ dùng gas và điện nấu ăn.

CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ: LIỆU CÁC NHÂN SĨ VIỆT NAM CÓ NHÌN NHẬN RẰNG HÀNG CHỤC TRIỆU PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐANG HÀNG NGÀY TIẾP CẬN VỚI BAO NGUY CƠ TỪ VIỆC NỘI TRỢ BẾP NÚC, RẤT CẦN ĐƯỢC CHĂM SÓC Y TẾ, HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN CHO BẢN THÂN TỪ NHỮNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC NHÂN SĨ, HAY HỌ VẪN XEM NHƯ ĐÓ LÀ THÂN PHẬN MÀ PHỤ NỮ VIỆT NAM PHẢI TIẾP TỤC GÁNH CHỊU, NGÕ HẦU CÁC NHÂN SĨ CÓ THỂ TẬP TRUNG THỜI GIAN CÔNG SỨC NÊN DÀNH CHO VIỆC TRANH LUẬN GẮT GAO VÀ GẮT GỎNG CHO NƯỚC BÙN ĐỎ CỦA DỰ ÁN KHAI THÁC BAUXITE?

III- Bô-xít

Các phân tích dưới đây làm rõ thêm về vấn đề của bauxite Việt Nam.

A- Tìm Hiểu Sự Thật Về Bô-xít

Ở Việt Nam, bauxite được phân bổ tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Sơn La, Bắc Giang, Nghệ An, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên, và Quảng Ngãi. Sau khi khai thác, bauxite được tinh chế thành alumina theo quy trình Bayer, sau đó alumina trở thành aluminium qua quá trình điện phân Hall/Heroult. Thường thì từ 2 đến 3 tấn bauxite sẽ sản xuất được 1 tấn alumina, và cần đến từ 4 đến 6 tấn bauxite đế chế ra 1 tấn nhôm.

Những nguyên liệu khác cũng có thể dùng để chế tạo alumina như alunite, anorthosite, coal wastes, và oil shales. Dù theo quy trình và công nghệ khác, những nguyên liệu phi-bauxite này vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất gạch chịu nhiệt, hóa chất nhôm và chất mài mòn.

Vấn đề đáng quan ngại đối với bauxite là điện năng. Khai thác bauxite không tốn nhiều năng lượng nhưng công đoạn tinh chế và điện phân cần tiêu tốn nhiều điện hơn.

1) Giá Trị và Trị Giá

Bauxite là một trong những thứ nguyên liệu dùng chế tạo alumina. Nhiều tài liệu ước tính trữ lượng của bauxite trên thế giới là khoảng từ 55 đến 75 tỷ tấn; trong khi thống kê của cơ quan địa chất hoa Kỳ nêu con số 38 tỷ tấn (Bảng 1)

 

Thường thì giá bán buôn của alumina loại tốt vào đầu mỗi năm dao động từ 210 đến 240 USđ/tấn theo giá tải đăng trên tạp chí Metal Bulletin. Từ tháng 2 đến tháng 4, giá ở mức 170-200USD/tấn, sau đó lên lên USD230/tấn đến cuối tháng 6. Giá tăng nhanh và đến cuối tháng 9 sẽ ở khoảng 300-310USD/tấn. Đây là chu kỳ giá bình thường đối với alumina.

2) Vị Trí Của Bô-xít Trong Tác Hại Với Môi Trường

Mười loại tai họa nhãn tiền kể trên là đối với các cơ sở sản xuất bình thường nên thế giới không liệt kê thêm loại công trình khác có quy mô cực lớn, có mức độ tàn hại môi trường vừa nhãn tiền vừa cực lớn, trong khi có hai nguy cơ cực lớn là (a) đã xây dựng không bao giờ có thể trở lại hình thái ban đầu và (b) nếu vỡ sẽ là sự tàn phá tàn khốc đến độ nó được ghi thành quy định của chiến tranh quy ước là trong tất cả các cuộc xung đột vũ trang và chiến tranh có hay không có tuyên bố không bên nào được tấn công vào công trình như vậy của bên kia, đó là: Đập Thủy Điện. Việc xây dựng một đập thủy điện sẽ xóa sạch vĩnh viễn rừng cùng thảm địa sinh thực vật, thay đổi vĩnh viễn địa hình cả khu vực rộng lớn, xóa sổ vĩnh viễn môi trường sống của dân cư khu vực, trong đó có các tộc người thiểu số. Khi xây dựng đập thủy điện Trị An, các chuyên gia nước ngoài có tuyên bố sẽ cẩn trọng về chất lượng vì nếu Trị An vỡ, cả một biển nước cao hàng trăm mét sẽ ào ạt cuốn phăng toàn bộ thành phố Hồ Chí Minh ra biển, nghĩa là hàng chục triệu người bị tiêu diệt ngay lập tức, hơn cả sức tàn phá của vài chục quả bom nguyên tử. Gần đây, nguy cơ vỡ đập Hố Hô đã khiến sơ tán dân cư các tỉnh hạ nguồn.

Điểm giống nhau giữa dự án bauxite và đập thủy điện là sự thay đổi địa hình một khu vực rộng lớn và sự di dời một bộ phận dân bản địa. Nhưng chỉ có thế. Dự án bauxite ở các nơi trên thế giới đều có những điểm giống nhau rất thuận lợi, không như đập thủy điện, đó là (a) có chương trình hoàn thổ tái lập địa tầng thảm sinh thực vật như trước, sau khi kết thúc khai thác bauxite, và (b) ngay cả trong trường hợp tai họa xảy ra như với hồ chứa bùn đỏ ở Hungary thì thảm họa môi trường không tàn khốc như vỡ đập thủy điện, không gây cái chết cho hàng chục triệu người ngay lập tức; do đó chưa bao giờ việc khai thác bauxite bị liệt vào danh sách những dự án đặc biệt nghiêm trọng với môi trường.

B- Vấn Nạn Thật Sự Của Vấn Đề Bô-xít Việt Nam

Không như báo chí hay nêu nguy cơ vỡ đập tràn bùn đỏ là vấn nạn của dự án khai thác bauxite,  những vấn nạn nghiêm trọng theo phân tích của bài nghiên cứu này lại chỉ nằm trong phạm vi “phần cứng” tức những vấn đề kỹ thuật thuần túy của dự án mà thôi, do các tai nạn đều hoặc có thể giảm thiểu hay ngăn chặn được từ kinh nghiệm những sự cố trước đó trên thế giới, hoặc mang tính rủi ro luôn được tính đến trong tất cả các dự án khai thác tài nguyên.

 

1) Những Khiếm Khuyết Của Dự Án

Dù trên danh nghĩa dự án bauxite đã được nghiên cứu trong rất nhiều năm qua, vẫn không thể phủ nhận sự thật là (a) trình độ của những nhà nghiên cứu mà danh tính vẫn còn là bí mật với công chúng rất không đáng tin cậy do họ chưa có tên tuổi ngay cả trong nước cho bất kỳ công trình khoa học lớn nào, (b) nội dung nghiên cứu vẫn là bí mật không được kiểm chứng độc lập, (c) các khiếm khuyết luôn xảy ra trong các đại công trình, từ thủy điện Hòa Bình, hệ thống cầu đường Văn Thánh, hầm vượt sông Thủ Thiêm, sửa chữa Cầu Thăng Long, hầm giao thông Hà Nội, hầm Đèo Hải Vân, thủy điện Hố Hô, đến cầu đường và chống ngập Thành phố Hồ Chí Minh chứng tỏ Việt Nam đã không có lực lượng kỹ sư và chuyên viên kỹ thuật đáng tin cậy cho bất kỳ dự án công nghiệp kỹ nghệ nào, và (d) nhất là dự án vẫn còn thiếu nhiều khâu quan trọng sống còn đối với khai thác bauxite.

Các điểm thiếu sót của dự án có thể bao gồm:

a- Nhà Máy Phải Đạt Chuẩn ISO 14001 về Quản Lý Môi Trường

b- Công Tác Bảo Lưu Lớp Bóc Tách Thảm Thực Vật:

Đối với các dự án bauxite, phần lớp đất bề mặt được bóc tách chuyển đến nơi tập kết khác, và sẽ được chuyển trở về nơi cũ khi đã xong giai đoạn khai thác và qua công đoạn hoàn thổ tái lập môi trường. Thảm thực vật được duy trì sự sống và phát triển bình thường tại nơi tập kết, bảo đảm sự tái lập môi trường gần với hiện trạng tự nhiên trước khai thác.

c- Các Biện Pháp Gia Giảm Tác Hại Môi Trường

d- Các Biện Pháp Bảo Vệ Quần Thể Động – Thực Vật

e- Chi Tiết Công Tác Hoàn Thổ

f- Công Tác Nghiên Cứu và Phát Triển

Đối với dự án khai thác bauxite thường có những công trình điều nghiên đi kèm phục vụ chu trình khai thác – chế biến – hoàn thổ – tái lập môi trường, chẳng hạn các nghiên cứu về:

- Thủy Văn

- Gia Tăng Đa Dạng Sinh Học Tại Những Khu Vực Hoàn Thổ Bao Gồm Cả Khu Bảo Tồn Gien

- Rút Ngắn Chu Trình Hoàn Thổ Với Công Đoạn Trồng Cỏ, Rau và Cây Mọc Nhanh

- Tạo Tính Hấp Dẫn Muông Thú Nơi Hoàn Thổ

- Hoàn Thiện Quản Lý Đất Canh Tác và Kỹ Thuật Làm Đất

- Trồng Rau Luân Canh

- Chu Kỳ Dinh Dưỡng và Tái Cư Đối Với Quần Thể Sinh Vật Đất và Cộng Sinh Nấm và Cây

- Các Chỉ Số Thích Hợp Đánh Giá Mức Độ Tái Cư Thành Công và Bền Vững

2) Chủ Quan Về Yếu Tố Nhân Lực

Sự việc tồi tệ của ban quản lý VINASHIN và ban quản lý Thủy Điện Hố Hô, tình trạng vô tổ chức của Bộ Y Tế trong tổ chức nhập khẩu Tamiflu và tình trạng bất lực cũng của Bộ này trong xử lý vụ việc và đùn đẩy lên bàn làm việc của Thủ Tướng, cũng như sự thật thất bại của ngành điện trong bảo đảm lượng điện cho toàn dân hay của ngành than khoáng sản trong bán nguyên liệu than thô không với giá tốt đã chứng minh một điều rõ ràng là Việt Nam không có kỹ sư tài đức, các tổng công ty Nhà Nước không có nhà quản l‎ý tài đức, và dự án khai thác bauxite không thể là ngoại lệ rằng sẽ được quản lý tốt và dự án sẽ sinh lợi như ý.

Dự án khai thác bauxite của Brazil có hiệu quả kinh tế tốt đẹp do có lực lượng biên chế chính thức của rất đông chuyên gia đẳng cấp cao cho mỗi nhà máy. Chẳng hạn chỉ riêng cho nội dung hoàn thổ, một nhà máy bauxite có 21 chuyên gia bao gồm 15 chức danh chuyên môn nghiệp vụ sau:

a- khoa học gia nông nghiệp

b- chuyên viên vườn tược

c- khoa học gia thổ nhưỡng

d- khoa học gia đất trồng trọt

e- nhà động vật học

f- nhà sinh học

g- nhân viên kiểm lâm

h- nhà khí tượng thủy văn

i- nhà địa mạo học

j- nhà quản lý môi trường

k- nhà sinh học bảo tồn biến dị gien động-thực vật

l- khoa học gia phát triển nông thôn

m- nhà thực vật học

n- khoa học gia môi trường

o- nhà quản lý tài nguyên thiên nhiên

Cơ cấu tổ chức mới chỉ cho một bộ phận cũng cho thấy nhận thức đúng đắn của chính phủ đối với tài nguyên và khai thác tài nguyên quốc gia, trách nhiệm cao của các nhà khoa học đối với bảo tồn môi trường sống, đưa đến sự hài lòng và đồng thuận của toàn dân dối với dự án khai thác bauxite ở nước họ, dễ dàng nhận ra một điều là ngay cả khi thiên tai có gây ra thảm họa cho khu vực khai thác bauxite thì chính phủ cũng không bị kết tội bởi người dân.

Trong khi đó, dự án bauxite cực kỳ quan trọng của Việt Nam đã không được tổ chức quy mô tương tự. Một nhà máy bauxite dứt khoát không giống như một nhà máy chè hay nhà máy dệt vì quy mô xử lý bùn đỏ trên một diện tích khổng lồ là cả một đại công trình kinh tế, chính trị, môi trường, quân sự, an ninh, đòi hỏi ngay cả khoa học công nghệ thám sát viễn sát cao để quản lý dự án qua vệ tinh, và quản lý hoàn thổ cực kỳ tinh vi, tinh tế, và dài hạn. Xây dựng nhà máy bauxite và chỉ bổ nhiệm ban giám đốc cùng tuyển mộ công nhân chứng tỏ khâu tổ chức và thái độ đối với ý nghĩa dự án đã bị xem thường, tất sẽ dẫn đến những sự cố tắc trách gây phương hại đến an ninh trật tự quốc gia.

Song, điều khó khăn nhất vẫn là: Việt Nam không sẵn có những nhà khoa học thực thụ cho những đại công trình thực thụ, và đây là hậu quả của các cải cách giáo dục không đúng tầm, lệch trọng tâm, sai định hướng, do những quan chức thiếu kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, và thiếu năng lực quán xuyến chiến lược giáo dục và đào tạo quy mô quốc gia. Song, ngày nào chưa thể công bố danh sách các nhà khoa học, thì việc thực hiện dự án bauxite Tây Nguyên hay hoạch định tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam vẫn là việc làm đầy nguy hiểm, lắm rủi ro, không thể tiến hành cho đến khi đã đào tạo xong đội ngũ kỹ sưvà nhà khoa học cần thiết.

3) Giá Trị Thực Tiễn Của Dự Án Bô-xít

Do trữ lượng bauxite lớn trên thế giới và do có nhiều nguyên liệu khác có thể dùng chế alumina, cũng như công nghiệp bao bì có nhiều sự lựa chọn ngoài nhôm, nên tài nguyên bauxite hiện vẫn chưa thể giữ vị trí quan trọng trong công nghiệp khai khoáng của Việt Nam. Sự cố bùn đỏ ở Hungary giúp Việt Nam xem xét lại tính vững chắc của các hồ chứa cùng các biện pháp xử lý tình huống thích hợp.

Song, vùng bauxite nếu để các thế hệ sau này khai thác sẽ có nhiều thuận lợi hơn do có thể có công nghệ mới và giá bán sẽ cao hơn do giảm sút trữ lượng bauxite trên thế giới và do có thể có những sử dụng và ứng dụng khoa học mới cho nhôm. Tương tự, Hoa Kỳ gia giảm mức khai thác dầu hỏa nội địa, tăng cường nhập khẩu dầu và hệ thống kho trữ, để bảo đảm nguồn cung ứng cho các thế hệ sau này, hoặc Trung Quốc giảm khai thác bauxite nội địa, tăng cường khai thác mua của Việt Nam để hạn chế nguy cơ sự cố trong nước và đồng thời bảo vệ nguồn nguyên liệu bauxite nội địa.

IV- Công Dân Hoàng Hữu Phước Tư Vấn Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam Và Chính Phủ Việt Nam

Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam nhất thiết phải cẩn trọng trong mọi hành sử với Trung Quốc về kinh tế vì không thể có bất kỳ cách lập luận hay thuyết phục nào có thể làm thay đổi định kiến luôn đúng của người dân Việt Nam trong cảnh giác cao độ và sự phản kháng mang đậm tính hận thù không thể chối cãi hay che dấu được đã khắc sâu vào ý thức và vô thức người Việt Nam đối với Trung Quốc. Những nhân nhượng hay ưu ái trong mậu dịch với hay đầu tư từ Trung Quốc sẽ khiến Đảng và Chính Phủ đối diện với sự bất mãn của nhân dân và sự công kích bôi nhọ của bọn chống cộng hải ngoại. Những hành động bá quyền nước lớn của Trung Quốc tại Biển Đông không là việc riêng của Đảng và Chính Phủ Việt Nam mà là vấn đề quan ngại của tất cả công dân Việt Nam. Lắng nghe, hiểu biết, tôn trọng, và đáp ứng hay thỏa mãn các mong muốn của nhân dân chính là tạo sự bền vững trường tồn của vị thế của Đảng và Chính Phủ với nhân dân, mà một trong những điều mong muốn đó là không chấp nhận sự nhân nhượng hạ mình của Đảng và Chính Phủ trong các hoạt động kinh tế, đầu tư.

Chất lượng tồi tệ cùng sự thất bại trong tiến độ thi công các dự án do các công ty Trung Quốc thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh không thể không là sự yếu kém hạ đẳng của chất lượng công nghệ của Trung Quốc hoặc không thể không là ý đồ phá hoại kinh tế Việt Nam. Do đó việc Đảng và Chính Phủ thông qua chủ trương hợp tác với Trung Quốc khai thác bauxite vùng Tây Nguyên khó được người dân đồng thuận, dẫn đến các tranh luận gây phức tạp nội tình đất nước và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài nói chung.

Đối với người Việt, Trung Quốc luôn là kẻ thù, chưa bao giờ là đồng chí, kể cả trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ. Đó là sự thật hiển nhiên. Không cố gắng phủ nhận sự thật đó của tư duy người Việt bằng những lời nói chính trị ngoại giao, Đảng và Chính Phủ mới có thể không vướng vào những phức tạp không cần thiết như trong chủ trương dành sự ưu ái cho Trung Quốc khai thác bauxite Tây Nguyên.

V- Công Dân Hoàng Hữu Phước Tư Vấn Công Dân Việt Nam

 

Qua các thông tin và phân tích ở trên, việc khai thác bauxite là việc cực kỳ bình thường, có mức độ gây hại cho môi trường không nghiêm trọng như tất cả các hoạt động khai thác hay sản xuất khác, và tai họa nếu xảy ra cũng là phần rủi ro luôn có trong bất kỳ hoạt động khai thác nào chứ không chỉ riêng bauxite. Việc một nhà văn mãi phát biểu đặt vấn đề môi trường văn hóa sinh tồn của dân sắc tộc là kiểu lập luận phiến diện vì ở bất kỳ đâu trên thế giới, việc đầu tư khai thác hay xây đập thủy điện đều dẫn đến hệ quả tương tự với cư dân, chứ không chỉ riêng dự án bauxite.

Điềm tĩnh đóng góp ý kiến kịp thời – nếu có ý kiến xác đáng, khả thi, khả dụng, mang tính thuyết phục cao – cho đúng quan chức hay cơ quan hữu trách là hành động duy nhất đúng, có tinh thần trách nhiệm cao, và có vị thế trang trọng của một công dân, đồng thời triệt bỏ thói quen bầy đàn cố hữu của người Việt khi nương theo ý kiến mời gọi của một nhóm công dân khác. Không phát tán những mẫu tin dè bỉu của bọn chống Cộng đối với dự án bauxite cũng là hành vi đúng đắn của những công dân nghiêm túc, có trách nhiệm và có trình độ nhận thức cao.

Ngoài ra các công dân nguyên là quan chức cao cấp đã nghỉ hưu nên nêu gương nghiêm túc trong đóng góp ý kiến cá nhân kịp thời điểm, gởi đúng cơ quan hữu trách, để chứng tỏ bản thân có trách nhiệm cao, luôn lo cho vận nước và quan tâm đến các vấn đề của xã hội nước nhà, thay vì nêu vấn đề quan ngại quá chậm khiến có nghi vấn bản thân đã chưa từng thực sự quan tâm đến một vấn đề hay dự án nào, hoặc thể hiện phong cách bầy đàn khi có thu thập chữ ký cho một kiến nghị dễ khiến bản thân mất đi uy thế một người tự chủ, có trách nhiệm, biết suy xét, và có khả năng nhận xét hiểu biết riêng.

VI- Kết Luận: Phản Biện của Phản Biện

 

Như đã nói ở phần định nghĩa thuật ngữ, phản biện là một hình thức bày tỏ sự đồng tình với một sự việc chính yếu bằng cách đặt ra những tình huống thứ yếu có thể cản trở để tìm lời giải đáp thuyết phục, giúp sự việc chính yếu trở nên có tính thuyết phục cao nhất có thể được. Đối với các phản biện như vậy từ các quan chức chính phủ, nhất thiết cần có các phản biện của phản biện ấy, nhằm làm rõ hơn sự phân định mang tính thực tế chiến lược quốc gia mà các quan chức đã chưa hoặc không thể có đủ đẳng cấp, tầm cỡ, hay uy thế và uy tín để nói về trước công chúng.

Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có những vấn đề riêng của nó và không thuộc các lý do mà dư luận bấy lâu nay hay tập trung nói đến. Việc khai thác bauxite – hay bất kỳ tài nguyên nào, kể cả sức nước của thủy điện hay sức mạnh của nguyên tử lực – là việc cực kỳ bình thường ở mọi quốc gia. Vấn đề là phải chăng Việt Nam còn quá nhiều tài nguyên để có thể cứ tiến hành khai thác, hay đất nước đã lâm cảnh cùng đường phải vơ vét tài nguyên cứu nguy xã tắc, hoặc quê hương đã cạn kiệt tài nguyên nên nhất thiết chúng ta phải hy sinh chịu thắt lưng buộc bụng sống dè xẻn để dành tài nguyên bauxite cuối cùng lại cho con cháu Việt Nam ngày sau khai thác để tiếp tục sống còn, như một tập tục mang tính đạo lý truyền thống của người Việt luôn chăm lo cho hậu thế.

Điều cuối cùng song có phần quan trọng nhất là mọi kế sách quốc gia đều phải được đặt trên cơ sở vì sự an nguy và sinh tồn của dân tộc, điều mà bất kỳ dự án nào thực hiện với Trung Quốc, dù lớn hay nhỏ, cũng sẽ vĩnh viễn không bao giờ mang lại. Công tác đối ngoại khéo léo, sự chủ động ngoại giao, việc đề ra các quyết sách an dân cùng những định hướng kinh tế chiến lược của Đảng và Chính Phủ luôn được toàn dân tộc cậy tin phó thác toàn quyền; song, các thực hiện cụ thể những dự án kinh tế không thể là phạm trù Đảng và Chính Phủ gánh vác thực hiện trực tiếp như một pháp nhân, mà nhất thiết phải qua tư vấn độc lập với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh từ ngay giai đoạn phát triển ý tưởng của cơ quan chức năng hay của lãnh đạo Đảng và Chính Phủ, và do các doanh nghiệp thực hiện qua đấu thầu công khai. Nếu đã có khâu tư vấn độc lập, lẽ ra đã không thể phát sinh các kiến nghị không còn thời gian tính, không trên cơ sở hiểu biết đủ đầy, và không đồng thuận.

Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền. Đất nước Việt Nam là của công dân Việt Nam. Bọn chống cộng ở hải ngoại không là công dân Việt Nam nên mọi công kích dự án bauxite đều là hành vi vô văn hóa, trái với văn minh của nhân loại tiên tiến khi tự tiện phê phán khi không là người dân có đóng thuế cho Việt Nam.

Bauxite là tài nguyên của Việt Nam, và việc khai thác khoáng sản là việc nội bộ của Việt Nam, mà người Việt Nam tự giải quyết với nhau, không cần nghe sự kêu gào của những kẻ bại trận.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tài liệu tham khảo:

Cầm, Bảo. 2010. Còn Ý Kiến Về Bauxite, Còn T iếp Tục Lắng Nghe. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101023141847.aspx

Buckles, D. 2003. Cultivating Peace – Conflict and Collaboration in Natural Resource Management. Ottawa: IDRC

De Koninck, R. 1999. Deforestation in Vietnam. IDRC

Environment and Sustainability.Bauxite Resources Limited http://www.bauxiteresources.com.au/content/environment_and_sustainability/

Environmental Aspects of Bauxite, Alumina and Aluminium Production in Brazil. 1995. UNCTAD Secretariat.

Fourth Sustainable Bauxite Mining Report . 2008. International Aluminium Institute.

Fred, P. 1998. Arsenic in the Water. The Guardian. http://www.lifewater.ca/887805655-arsenic.htm

Global Mercury Project. 2006.UNIDO. GMP News. http://www.globalmercuryproject.org/documents/gmp_news/GMP_News_January_2006.pdf

Kình, CầmVăn. 2010. Dự Án Bô-xít: Tiếp Hay Dừng?  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/407262/Du-an-boxit-tiep-hay-dung.html

Klauber, C., M. Grafe and G. Power. 2009. Review of Bauxite Residue “Re-use” Options. DRET – Department of Resources, Energy and Tourism of Australia

Lan, Hoàng and Khánh Linh. 2010. Kiến Nghị Dừng Dự Án Bô-Xít. http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/10/3BA21F73/

Mol, J.H. 2009. Environmental impacts of bauxite and gold mining in Nassau Mountains, Suriname.

Nguyễn, Tuệ. 2010. Bauxite ở Việt Nam, Về Lý Thuyết Là An Toàn. http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201043/20101023003500.aspx

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài http://www.emotino.com/m.php?p=17900

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Công Chúa Bà Cố Nội Đi Tắt Đón Đầu Đường Sắt Cao Tốc Việt Nam. http://www.emotino.com/m.php?p=18663

Phước, Hoàng Hữu. 2010. Phản Biện. http://www.emotino.com/m.php?p=18392

Pound, B, S. Snapp, C. McDougall and A. Braun. 2003. Managing Natural Resources for Sustainable Livelihoods. London: Earthscan Publications Ltd.

Slum at the Summit. Earth Report. Television Trust for the Environment. http://www.tve.org/earthreport/archive/doc.cfm?aid=1623

Sustainable Development at Risk. New Delhi: Cambridge University Press India Pvt. Ltd.

Ten Problems with Gold Mining. 2001. Project Underground. Dollars and Sense Magazine. http://www.thirdworldtraveler.com/Transnational_corps/Fools_Gold.html\Joseph H. Hulse. 2007.

Tyler, S. 2006. Communities, Livelihoods, and Natural Resources. Warwickshire: Intermediate Technology Publications Ltd

Tyler, S. R. 2006. Comanagement of Natural Resources. Ottawa: International Development Research Centre.

Veiga, M.M. 2005. Pilot Project for the Reduction of Mercury Contamination Resulting from Artisanal Gold Mining Fieldsin the Manica District of Mozambique.

*********

Nói tóm lại, nhiều “nhân sĩ, trí thức” tự phong đã đặt câu hỏi ra vẻ xót xa cho tình hình kinh tế Việt Nam như thể họ chả có lỗi gì sất mà bởi tại bị vì bởi cái chủ nghĩa cộng sản nên kinh tế nó mới như thế; rằng việc ký tên vào kiến nghị bầy đàn đã chứng minh quá rõ là  các vị ấy có biết viết hẳn hoi chứ không phải chẳng có trình độ hàn lâm không tự mình viết nên cái gì cả dù ở cấp chuyên gia; rằng có công lấy số liệu của các báo cáo của Ngân hàng Thế giới chứ nào phải ở không; và rằng tham gia đòi hỏi cải tổ chính trị vì có lòng yêu nước để người dân quên phéng đi rằng các vị đã không làm được bất kỳ việc gì cụ thể phục vụ cho sự phát triển kinh tế nước nhà. Đó là chưa kể khi các vị còn tại nhiệm trên ngôi cao ở viện này viện nọ, các vị vừa yếu chuyên môn (điển hình là chẳng có kế sách gì để giúp chính phủ phát triển kinh tế, hoặc có nhưng sức yếu tài hèn đã không thể hiện được bằng công trình nghiên cứu hàn lâm rồi thất bại trong bảo vệ “luận án”), vừa yếu bóng vía (không dám nói gì, không dám kiến nghị gì, không dám tố cáo ai tiêu cực, để giữ cho được cái ghế của mình cho đến khi về hưu hưởng lương hưu trọn đời).

Người đời chỉ cần tỉnh táo và nhớ sử nước nhà là đã có thể nhận ra sự khác biệt rõ nét giữa  trí-thức-nhân-sĩ  với trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn. Trí-thức-nhân-sĩ luôn có cái tôi rất lớn, vì đó là từ giòng dõi hoặc thế gia vọng tộc trâm anh, hoặc tứ thân phụ mẫu đạo cao đức trọng; từ thành quả cao thật sự của kết quả học tập cao thực sự; từ quá trình miệt mài thật sự cho chuyên môn cao với kết quả cao thực sự; có được sự tôn kính thực sự từ những người đoan chính thực sự; và được thực sự biết đến qua những kỳ tích thực sự về chuyên môn thực sự của cá nhân mình; và sự “hợp tác” nếu có sẽ là tổng công trình của một tác phẩm cụ thể để xuất bản hoặc để cùng nhau chia sẻ giải thưởng Nobel. Trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn dứt khoát không thể nào là trí thức hay nhân sĩ vì hoàn toàn không cùng đẳng cấp với trí-thức-nhân-sĩ, vì trí-thức-nhân-sĩ-bầy-đàn chỉ đóng góp mỗi chữ ký của mình để được hưởng danh.

Ngoài ra, lịch sử nước này nước nọ còn cho thấy có một tư duy lệch lạc của tầng lớp “sĩ phu” luôn cho rằng chỉ có mình mới có đặc quyền nắm quyền “trị quốc” và xem thường những tầng lớp yếu thế trong “thứ dân”. Trong khi các tay “võ biền” xông pha trận mạc, giữ vững biên cương, thì các “sĩ phu” choảng nhau ở triều đình, bên này gọi bên kia là “nịnh thần” và tự phong cho mình là “trung thần” để rồi có khi làm các võ tướng phải chịu án oan tru di cửu tộc, kéo theo sự sụp đổ của cả vương triều. Đối với cuộc chiến tranh chống Pháp, chỉ đến khi đảng cộng sản dựa vào sức mạnh toàn dân với sự công nhận sức mạnh của giai cấp công nhân phi-sĩ-phu thì mới có chiến thắng. Còn nội tình Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ có việc nghị sĩ quốc hội không thuộc tầng lớp “trên” – theo nghĩa có sức mạnh của hoặc “thế gia vọng tộc” hoặc “thế lực quân đội”.  Sự hình thành những vụ “bầy đàn” ký tên kiến nghị lung tung của những người nêu học vị lung tung là minh chứng rõ ràng rằng họ muốn tách bạch họ ra khỏi hàng ngũ “thứ dân” thấp kém, như thể chỉ có họ mới xứng đáng có vị trí lãnh đạo đất nước, như thể việc họ phải chịu ở dưới những người cộng sản gốc gác nhân dân lao động không có học vị cao đã làm họ thù hận rồi hoang tưởng mình đang gặm mối căm hờn trong cũi sắt , nhất thiết phải “đứng lên”, phải “vùng dậy” chiếm lại quyền trị quốc, đồng nghĩa với việc đẩy “thứ dân” xuống trở lại kiếp “dân đen.”

Hỡi người dân Việt thông tuệ, hãy lưu ý một điều rằng một nhân sĩ/trí thức thực thụ không bao giờ hạ mình ký tên cho một cái chung đụng chung chạ chung chung. Vì rằng nhà trí thức và bậc nhân sĩ luôn là những vì sao độc lập sáng vằng vặc giữa trời cao, và vì rằng có thể có nhiều ngôi sao tạo nên chòm Bắc Đẩu, nhưng mỗi vì sao là một thực thể riêng, mà tạo hóa đã xếp đặt và định vị, như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, v.v. Các ngôi sao không dính chùm nhau. Chỉ có mấy cục kẹo dẻo rơi rớt trên đất ẩm mới dính vào nhau. Các ngôi sao không cùng ký tên vào một bài viết nếu đó không phải là một công trình nghiên cứu hàn lâm.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các bài mới tiếp theo:

-  Tôi và Lê Hiếu Đằng

-  Tôi và Trần Huỳnh Duy Thức

Các bài sẽ đăng lại:

- Tôi và Cu Huy Ha Vu

- Tôi và Lê Công Định

Mạng Xã Hội

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nhận được thông điệp trên của Ban Quản Trị LinkedIn, một mạng xã hội của Mỹ dành cho giới doanh nhân toàn cầu đã có từ năm 2003 và hiện nay có hơn 225 triệu người đăng ký sử dụng, thông báo “Chúc Mừng Phước Hữu! Trang tin của Ông trên LinkedIn là một trong số 5% hồ sơ được bạn đọc vào xem nhiều nhất năm 2012. LinkedIn hiện có 200 triệu thành viên. Cảm ơn Ông đã giữ một vai trò đặc sắc trong cộng đồng của chúng ta! ” kèm một bức thư điện tử của Ông Deep Nishar, Phó Chủ Tịch Cấp Cao của LinkedIn, nhân danh cá nhân để cảm ơn tôi vì đã là một thành viên tích cực của cộng đồng, tôi chợt nhớ đến đề mục “mạng xã hội” mà tôi đã bao lần bình luận và tiên tri thấu thị về cái tiền đồ tăm tối của nó qua những bài viết trong đó có vài bài tiêu biểu trên Emotino như:

- Blogging (đăng ngày 01-10-2008)

- Mạng Xã Hội: Ảo Tưởng Hoang Đường (đăng ngày 09-4-2010)

- Sự Cáo Chung Của Facebook (đăng ngày 21-6-2011)

- Mạng Xã Hội Đe Dọa Xã Hội (đăng ngày 19-8-2011)

- Ngày Tàn Của Mạng Xã Hội (đăng ngày 21-8-2011)

Trong khi thiên hạ phấn khích phấn khởi về sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin và của các mạng xã hội, tôi ngay từ thời của Yahoo! 360 đã khẳng định rằng công nghệ thông tin sẽ không bao giờ phát triển được ở Việt Nam dù nó có được quy hoạch làm ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước hay không, và rằng Facebook và những thứ tương cận sẽ bị diệt vong bởi vì chưa gì hết mà bao người – có cả người nước ngoài – đã coi cái mạng xã hội miễn phí ấy (mà tiếng lóng Việt Nam gọi là “của chùa”) là của báu rồi vì cái thứ miễn phí dành cho con nít ấy mà nheo nhéo mắng mỏ Chính phủ Việt Nam ngăn cản truy cập, đàn áp tự do ngôn luận. Tôi cũng đã viết retort  (không phải report) bằng tiếng Anh trên một “mạng xã hội” để mắng một doanh nhân ngoại quốc khi y viết nhăng viết cuội trên “mạng xã hội” về cái gọi là “ngăn cản truy cập” của Chính phủ Việt Nam vì tôi quyết không tha bất kỳ ai dù ở bất kỳ quốc gia nào và thuộc giống dân nào nếu kẻ đó dám phát huy cái “tự do ngôn luận” để láo xược xúc xiểm Việt Nam.

Trong khi chờ đợi truy xuất các bài viết của tôi theo từng chủ đề trong suốt thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đến nay để đăng lại trên các blog cá nhân tôi vừa xây dựng, tôi muốn chia sẻ cùng những vị khách ghé uống nước tại Thùng Nước Đá các thông tin, ý kiến và nhận định sau:

1) Từ lâu tôi đã không tiếp tục dùng Facebook (và những mạng xã hội khác tôi từng có account như MySpace, v.v.) vì tôi là người khó tính, không bao giờ muốn gắn kết với bất kỳ cộng đồng mạng nào hỗn tạp pha trộn chung đụng với mọi hạng người như Facebook. Nhiều người đã muốn liên kết với tôi trên Facebook (tính đến 27-7-2013 đang có 151 yêu cầu) và nhiều năm nay vẫn nhắc nhở tôi đáp ứng yêu cầu kết nối của họ, nhưng tôi buộc phải im lặng, không phản hồi, đơn giản vì nếu tôi trả lời họ và cho biết lý do vì sao tôi nhún vai đối với Facebook thì sợ làm buồn lòng họ chăng.

 

2) Hiện tôi vẫn duy trì sinh hoạt trên một số mạng xã hội “đẳng cấp cao” như LinkedIn (mạng xã hội của Mỹ dành cho doanh giới toàn cầu như đã kể trên) và Anphabe (mạng xã hội của Việt Nam dành cho doanh giới tại Việt Nam).

 

3) Điểm đặc biệt là tại các mạng xã hội tôi tham gia, tôi đều nêu rõ chính kiến của mình chẳng hạn:

Thí dụ tại hai trong số những mạng xã hội tôi tham gia như trong ảnh trên, tôi đã nêu rõ: về Quan điểm về tôn giáo, tôi “OK” với bất kỳ tôn giáo nào không can dự vào bất kỳ hành vi hành động nào chống lại nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; cũng như về Quan điểm chính trị thì tôi theo Chủ nghĩa cộng sản dân tộc với khuynh hướng trọng Khổng (Nationalist Confucianist Communism).

Còn trong Lời khuyên cho ai muốn liên hệ với Phước Hữu trên một mạng xã hội khác tôi tham gia như trong ảnh dưới đây, tôi đã nêu rõ: Tôi là nhà chuyên nghiệp chân chính; do đó, tất cả các ý kiến hoặc tài liệu nào có nội dung chống Cộng, chống Việt Nam, và/hoặc bài xích tôn giáo sẽ không bao giờ được chào đón, nghĩa là đừng bao giờ gởi đến tôi những ý kiến hoặc các tài liệu nào có nội dung chống Cộng, chống Việt Nam, và/hoặc bài xích tôn giáo, vì tôi sẽ xóa ngay chứ không bao giờ đọc những gì tôi xếp vào loại có giá trị không cao.

 

4)  Tại các mạng xã hội tôi còn tham gia, tôi sử dụng chúng không như những “diễn đàn” vì tôi đã có các “thùng nước đá” riêng, mà như nơi để tôi (a) giúp ý kiến tư vấn miễn phí cho các doanh nhân trong cộng đồng, (b) đáp lại các lời mời liên kết với tôi của các doanh nhân trong và ngoài nước, (c) gặp lại học trò và người thân cũ, và (d) đánh đổ tất cả những lập luận chống lại chính phủ, chính sách, chính đạo, và thể chế chính trị của Việt Nam. Chẳng hạn để phản bác mạnh mẽ ý kiến một người nheo nhéo nói Facebook bị chính phủ Việt Nam ngăn chặn đường truy cập, tôi đã viết dồn dập tràn ngập tổng lực bằng tiếng Anh như sau mà tất cả các doanh nhân nước ngoài trong cộng đồng sau đó không bao giờ có thể viết chỏi lại được, đơn giản vì họ không bao giờ có thể viết tranh luận sâu sắc bằng tiếng Anh và không bao giờ có thể viết đủ dài bằng tiếng Anh dù họ là dân Anh hay dân Mỹ, và dù để ủng hộ kẻ ủng hộ Facebook hay kẻ chống Facebook (như lời của ông Steven Roelandts: “bạn nói thế về việc chính phủ Việt Nam ngăn chặn Facebook chứ tôi thấy vô Google mới hay gặp trục trặc”), đơn giản vì chỉ có kẻ thất học mới chống Việt Nam nên cách chi mà có đủ sức viết lách gì được cho ra hồn, và đơn giản vì đã là doanh nhân thì rất yếu trong biện luận ngôn ngữ hàn lâm:

 

Gần đây nhất, vào tháng 8 này doanh nhân Matthew Collier đã đăng lại bài của Jon Russell có dòng tít ”Việt Nam ra quy định cấm người sử dụng internet được chia sẻ thông tin…”

và tôi đã bảo vệ đất nước bằng lời đanh thép – vẫn với vũ khí cố hữu khiến 100% bọn Âu Mỹ phải chào thua: đó là hùng biện thật dài bằng Anh ngữ – như sau:

 

Nội dung nghĩa tiếng Việt:

Kẻ viết bài trên dứt khoát là tên vô lại hoặc ngu đần không rõ ý nghĩa thật sự của nguyên bản nghị định, hoặc cố tình chống lại Việt Nam, hoặc dị ứng trầm kha với chủ nghĩa cộng sản. Bộ việc sao y bài viết thuộc bản quyền và chủ quyền của người khác rồi dán vô blog của ai đó để ra vẻ như blog mình chuyên nghiệp lắm, sâu sắc lắm, phong phú thông tin lắm, là việc sạch sẽ, đúng đắn, và đoan chính hay sao? Nếu có kẻ muốn “chia sẻ thông tin” sao không cung cấp đường link để may ra nếu có ai quan tâm thì cứ lựa lúc nhàn cư mà truy cập tự xem lấy?

Vào thời khắc Hoa Kỳ đang muối mặt điếm nhục gia phong với vụ việc PRISM, chính quyền Mỹ đã ra sức dàn dựng vở kịch bịp lừa thế giới với lời la toáng hoang đường về nguy cơ khủng bố chống nhân dân Mỹ dẫn đến việc đóng cửa nhiều văn phòng ngoại giao của Mỹ đó đây trên toàn thế giới, cùng lúc đó rống họng về nhân quyền đó đây trên toàn thế giới, chỉ để người dân đó đây trên toàn thế giới bị bịt mắt trùm đầu trong mớ hỗn độn mù mịt khói mây mà quên phức vụ PRISM..  

Nếu ông cho rằng có một bó những luật lệ áp dụng chung cho hết thảy các dân tộc thì ý ông là ông ở cùng một giuộc với cái bọn vô lại viết những thứ vớ vẩn ấy ư. Nếu ông đăng lại bài vớ  vẩn ấy là để người đọc nhận ra đó là bài rác rưởi thì ông đích thị là bậc quân tử hiền nhân thông tuệ. Còn nếu ông đăng lại bài ấy vì ông bất tài chả viết được cái quái gì ra hồn, chỉ để khoe mẽ là ông sâu sắc, chuyên nghiệp, và dồi dào thông tin, thì tôi chắc chắn sẽ chứng minh cho ông thấy rằng so với mức độ sâu sắc, chuyên nghiệp, và phong phú thông tin của tôi thì ông chỉ đáng là quân tép riu chiếu dưới.

Chính quyền Mỹ có PRISM (để vi hiến, xâm phạm tự do dân chủ của nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân thế giới). Chính phủ Việt Nam có những quy định rõ ràng để tôn trọng tác quyền, và tôn trọng người dân qua việc khuyên họ cung cấp đường link chứ đừng ăn cắp bài của người khác. Tôi là người Việt Nam. Và thật là thương hại người dân Âu Mỹ bị bịt mắt trùm đầu mà vẫn cứ ngỡ mình thông tuệ có quyền lực tối thượng để sủa nhặng lên về nhân quyền và  quyền tự do ngôn luận. Tôi đang sử dụng quyền tự do ngôn luận để gọi tác giả bài viết đó là tên vô lại vất đi trời đánh thánh vật. Liệu ông nghe có lọt lỗ tai không? Vì vậy, đừng bao giờ nói động đến Việt Nam.

Xin cảm ơn ông rất nhiều về lòng tử tế và lịch sự của ông.

Hoàng Hữu Phước

 

Hoặc để tranh luận, chẳng hạn như khi doanh nhân Áo Quốc tên Rick Yvanovich nêu lên chủ đề  ”Những quyết định chậm có thể làm triệt tiêu đà tiến của công ty bạn”, tôi đã góp ý như sau: ”Đúng là những quyết định chậm có thể làm triệt tiêu đà tiến của công ty bạn, nhưng những quyết định chóng vánh có khi lại đẩy công ty bạn đổ nhào qua bờ vực thẳm của hư mất. Tôi cho rằng mọi sự dựa trên 4 khía cạnh của sự đúng đắn, sự thông tuệ, sự chuẩn bị kỹ càng, và sự kịp thời, rồi sau đó là cái mà chúng ta gọi là sự may mắn. Việc kinh doanh nào phải như cuộc thi điền kinh chung chung; nó tùy thuộc vào việc cái cơ hội kinh doanh ấy có thể lớn đến cỡ nào. Chạy đua tốc độ 60 mét rất khác với chạy đường trường cự ly 10.000 mét. Đối với cơ hội kinh doanh lớn, sẽ cần khoản đầu tư khổng lồ, và điều này cần đến một quyết định đúng đắn, khôn ngoan, cẩn trọng, và kịp thời, chứ nào phải là vấn đề của cái sự chậm hay nhanh” 

 

5) Điều đáng tiếc là có nhiều người không thuộc doanh giới vẫn gia nhập để đưa lên bản lý lịch tìm kiếm việc làm, với hy vọng trong cộng đồng doanh nhân ấy sẽ có vị quan tâm tuyển dụng mình. Có nhiều bạn trẻ vừa tốt nghiệp đại học, làm nhân viên kinh doanh của công ty nào đó, đã lẹ làng gia nhập và xin liên kết với các doanh nhân, ắt do muốn tìm kiếm khách hàng để chào bán hàng hóa của công ty mình. Có nhiều người dường như chỉ muốn gia nhập để xin liên kết với mọi doanh nhân ngõ hầu có được số lượng liên kết “khủng”. Và có nhiều người thậm chí đưa “nick name” thay vì tên thật, còn hình ảnh bản thân thì hoặc đưa hình diễu cợt, hình của hài nhi, hình con thú cưng, hoặc chẳng có hình ảnh tự giới thiệu gì cả. Tất cả những cái hoặc vội vàng, hoặc nhí nhố, hoặc vô tâm vô tư trẻ con như thế ắt đã làm doanh nhân nước ngoại ngạc nhiên trước sự “vào lộn sân” và “múa tá lả” của những người kiếm tìm cơ hội việc làm và rao bán hàng chứ không có khả năng sẻ chia kinh nghiệm, kiến thức, ý tưởng kinh doanh, thông tin thương trường, v.v.; vì rằng chỉ có doanh nhân tay mơ mới gia nhập cộng đồng để tìm khách hàng và đối tác, vì những đại gia đều đã có thị trường phát triển riêng cùng những khách hàng riêng hoặc đã biết rõ ai là khách hàng tiềm năng hoặc ai cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp đẳng cấp cao nên sinh hoạt trong cộng đồng tất nhiên nhằm vào mục đích khác của “thượng tầng”.  Những thí dụ sau minh họa cho sự thiếu chuyên nghiệp khi dùng hình trái tim, tên doanh nghiệp chứ không phải tên doanh nhân, hoặc không có hình ảnh tự giới thiệu và không có chi tiết bất kỳ về bản thân trong phần “profile” nhưng lại muốn liên kết với những doanh nhân như tôi vốn đã có profile cực kỳ hoàn chỉnh và nghiêm túc y như hàng trăm triệu doanh nhân khác..

 

Nói tóm lại:

- khi cái gọi là mạng xã hội dù bản thân, xuất thân, tự thân, chỉ là một thứ sân được bao vây kín mít với hàng chục lớp hàng rào kẻm gai điện tử để không ai thoát ra được, để mọi người vào đó rồi tùy theo tính cách cá nhân mà dạo chơi, nghỉ ngơi, nghĩ ngợi, chuyện trò, quậy phá, nhậu nhẹt, bài bạc, hút xách, xả rác, khạc nhổ, phóng uế, v.v., để nhân vật chủ nhân từ bi bác ái có cơ hội vừa thu tiền quảng cáo vừa quay phim chụp hình cung cấp cho CIA và chính phủ Mỹ trong chương trinh PRISM vi hiến vốn đã làm chuyên viên tin học của Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIA và Cơ Quan An Ninh Quốc Gia NSA Edward Joseph Snowden đào thoát sang Nga tháng 5 vừa qua;

- khi điều đáng tiếc luôn tồn tại ở tất cả mọi ngóc ngách của đời sống con người trên chiếc hành tinh đơn độc này là chỉ có một số cực kỳ ít ỏi hiếm hoi xem internet như nguồn tư liệu để tra cứu mở mang tri thức và kiến thức hàn lâm của tất cả các ngành học nhằm phục vụ nghề nghiệp, phục vụ công ty, phục vụ gia đình, phục vụ xã hội, phục vụ đất nước, phục vụ nhân loại; và

- khi đời sống xã hội xoay vòng như trốt xoáy cuốn hút vào đó bất kỳ ai có đôi tay không đủ mạnh để bấu víu vào một vật thể mà bản thân vật thể ấy như quyển kinh kệ bằng giấy bồi cũ kỹ mong manh mỏng manh tiêu biểu cho chân lý tinh thần;

thì mạng xã hội vẫn làm được điều mà không bất kỳ một mạng-có-trả-tiền nào có thể làm được, đó là sức quy tụ của số đông, và do đó lời khuyên sau vẫn cứ là lời khuyên dành cho người không cố chấp:

- rằng bạn chí ít cũng đừng nên buông xuôi để cơn trốt xoáy của mạng xã hội muốn nuốt bạn đến đâu thì cứ nuốt và muốn ném hất đâu thì cứ mà hất ném;

- rằng bạn chí ít cũng công nhận một điều là trốt xoáy cuốn vào nó từ những chiếc ô-tô Buick đắt tiền, những tác phẩm nghệ thuật vô giá thời Phục Hưng văng ra từ bảo tàng mỹ thuật, đến những rác rến cùng bụi bẩn chuột bọ kinh tởm từ miệng cống;

- rằng bạn chí ít cũng công nhận một điều là trong trận cháy kinh hoàng vẫn có kẻ cơ hội rình rập hôi của, huống gì tại một sân chơi miễn phí nơi mà người ta không có cớ gì để luôn phải cảnh giác như lúc đang trong địch họa thiên tai; và

- rằng nếu muốn liên kết với tôi, bạn (a) đừng mãi gởi tin qua Facebook để chẳng nhận được trả lời vì tôi đã từ bỏ nó từ lâu vì cái tội của nó là đã thành cái ổ chứa chấp quá nhiều kẻ chống lại Việt Nam, (b) hãy gia nhập đúng sân, đúng cộng đồng mà bạn trong lĩnh vực hoạt động có liên quan; (c) hãy chuẩn bị cho trang profile của bạn thật đầy đủ chi tiết và nghiêm túc với hình ảnh và thông tin để phần tự giới thiệu tương xứng công bằng với profile của tôi hay của những người như tôi mà bạn đã đọc kỹ và biết rõ, vì rằng việc bạn có dùng ảnh chụp của người khác và dùng tên giả với chi tiết giả chí ít còn cho thấy bạn tôn trọng chủ nhân mạng cộng đồng doanh nghiệp cùng thành viên của nó, vì ngay cả vận động viên xe đạp cùng quốc tịch với Tổng thống Obama nhiều năm đoạt chức vô địch Tour de France vẫn sẽ bị đội bảo vệ điệu ra ngoài ngay lập tức nếu  vận áo pull quần short đạp xe vào một câu lạc bộ polo dành riêng cho quý ông quý bà Anh Quốc “trang bị tận răng”: mặc áo chẽn quần bó hàng hiệu, đội mũ Casablanca giá 500 bảng, đi ủng Fagliano cao đến gối giá 650 bảng gắn thêm bộ đinh thúc ngựa hiệu Prince of Wales 20 bảng và bộ bảo hộ đầu gối Casablanca 200 bảng, đeo kính Oakley, găng tay Neumann, cầm roi có tay cầm bọc bạc, và gậy đánh bóng Gold Bands bằng gỗ manau-cane được chế tác thủ công từ New Zealand chỉ khi có đơn đặt hàng cá nhân, cùng danh sách dài bao thứ lỉnh ca lỉnh kỉnh khác, chưa kể thẻ hội viên vài chục ngàn bảng y như thẻ sân golf; và (d) hãy công bằng vì khi bạn gia nhập để tìm những mối lợi cho bạn thì bạn cũng phải cho người xem xét yêu cầu làm quen của bạn biết họ có thể học hỏi được gì từ bạn nếu chấp thuận yêu cầu được liên kết của bạn.

Đó là tất cả những gì người thận trọng, tự trọng, nghiêm túc, nghiêm trang, đáng kính, đáng nể, và yêu nước, yêu thân, nên tính đến trước khi tham gia một mạng xã hội nói chung và một mạng cộng đồng doanh nghiệp nói riêng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Khi hình ảnh minh họa không xuất hiện trong các bài viết

Hoang Huu Phuoc, MIB

Khi các bạn không thấy hình ảnh minh họa trong một hay nhiều bài viết trên blog này, xin các bạn vui lòng chuyển sang blog dự phòng tại  http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com .

Các blog dự phòng khác sẽ được xây dựng và sớm thông tin đến các bạn.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Những Phân Tích Mới L‎ý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

Tham Luận của ThS Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức tại Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10/2010


Tóm Tắt Nội Dung

Từ bấy lâu nay việc phát triển mạnh các trường đại học ở Việt Nam dường như càng tạo nên sự cách biệt ngày càng lớn hơn giữa kết quả đào tạo số lượng cao với nhu cầu lao động chất lượng cao của thị trường, dẫn đến các nhận định và đánh giá tuy chưa đúng nhưng có tác động nhất định đến uy tín về chất lượng đào tạo của hệ thống cao đẳng – đại học Việt Nam đối với các doanh nghiệp có nhu cầu nhân sự và đối với các trường đồng cấp nước ngoài.

Từ sự thật là đã chưa từng có các phân tích đúng và thích hợp về hiện trạng hay vấn nạn trên,  tham luận này đưa ra những điểm mấu chốt mang tính thực tiễn trong nhận định thẳng thắn, thực tế trong đánh giá trực diện để làm cơ sở có so sánh và nhận diện các vấn nạn nhất thiết cần đến những biện pháp cách tân cả về tư duy lẫn tổ chức nơi bản thân trường đại học và sinh viên, theo đó nội dung hướng nghiệp không chỉ là sự tư vấn ban đầu cho và xuyên suốt quá trình học tập của sinh viên mà còn là chương trình cụ thể và chi tiết được thực hiện ngay nơi trường đại học, song song với nội dung hàn lâm truyền thống luôn có tại bất kỳ trường đại học nào trên thế giới.

Cuối cùng, những lý giải giúp giải thích và giải quyết căn cơ vấn nạn bất tương thích nêu trên để việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ đại học ở Việt Nam thực sự đáp ứng hiệu quả nhu cầu việc làm của sinh viên tốt nghiệp và tuyển dụng của doanh nghiệp, góp phần tạo nên giá trị cộng thêm thật sự với nguồn nhân lực Việt Nam và trường đại học Việt Nam.

A- Dẫn Nhập & Giải Thích Thuật Ngữ

Đáp ứng hiệu quả nhu cầu lao động trong nền kinh tế quốc dân luôn là mối quan tâm của bất kỳ quốc gia nào, dù đó là cường quốc kinh tế truyền thống như Anh, Đức, Nhật, hay cường quốc kinh tế cơ hội như Trung Quốc, và tùy theo thực tế và văn hóa riêng của mỗi nước, những hệ thống và phương pháp giáo dục – đào tạo thích hợp đã được dựng xây, áp dụng, bổ sung, điều chỉnh, hoàn chỉnh, và phát triển. Song, quy trình đã kinh qua thực tế áp dụng hiệu quả trên thế giới này dường như đã không được Việt Nam – đất nước của một dân tộc thường được phong tặng và thường tự hào tự tặng phong là ham học hỏi – quan tâm học tập, mô phỏng, khiến chất lượng đào tạo của các trường đại học Việt Nam vừa không cao so với hệ hàn lâm truyền thống cổ điển bảo thủ của nước ngoài vừa thấp so với hệ thực dụng hiện đại cấp tiến cũng của nước ngoài, mà tác nhân gây ra hiện trạng bất tương thích, bất tương hợp này chính là cách tư duy nghịch với văn hóa xã hội đặc thù cùng với các kế sách không khả thi, không khả dụng.

Để phục vụ yêu cầu ngữ nghĩa dùng cho những biện pháp cách tân khả dĩ khắc phục những vấn nạn trên, những thuật ngữ sau (xếp theo thứ tự mức độ liên quan) được sử dụng theo ý nghĩa đặc biệt trong tham luận này:

1) Trường Đại Học: gồm trường đại học và trường cao đẳng.

Trước 1975 tại Việt Nam Cộng Hòa có nhiều trường đại học, song khi viết tiếng Anh thì chỉ có Viện Đại Học Sài Gòn và Viện Đại Học Huế được sử dụng từ “University”. Tất cả các trường đại học khác đều có tên tiếng Anh là “Faculty” (đồng nghĩa với “College”) tức đại học chuyên ngành trực thuộc hệ thống đại học đa ngành (tương đương “đại học tổng hợp”) tức viện đại học (“University”), thí dụ:

a- Đại Học Văn Khoa: Faculty of Letters

b- Đại Học Khoa Học: Faculty of Science

c- Đại Học Luật Khoa: Faculty of Law

Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa có hai hệ Đệ Nhất Cấp 3 năm và Đệ Nhị Cấp 4 năm để đào tạo “giáo sư” trung học cấp 2 và cấp 3. Ngay sau ngày Giải Phóng Miền Nam, Ủy Ban Quân Quản Thành phố Hồ Chí Minh tách bộ phận Đệ Nhất Cấp sang tiếp thu cơ sở vật chất trường Thiên Phước của người Hoa, lập thành trường Cao Đẳng Sư Phạm, dùng từ University cho Đại Học Sư Phạm, và từ College cho Cao Đẳng Sư Phạm, trong khi cả hai theo cách gọi truyền thống ở tiếng Việt đều là “đại học”, và cả hai đều phải dùng chung từ tiếng Anh là Faculty hay College hoặc School do cả hai cùng chung chỉ một ngành duy nhất là đào tạo giáo viên.

Việc tước bỏ danh xưng “đại học” của “college” vừa sai ý nghĩa tiếng Anh vừa gây mất lợi thế tâm lý nơi sinh viên, gây tác hại nhãn tiền đến tất cả các kế sách đào tạo nguồn nhân lực quốc gia. Do đó, bài tham luận này gọi tất cả sinh viên tốt nghiệp cao đẳng 3 năm hay đại học 4 năm đều là nhân lực trình độ đại học, và các biện pháp cách tân đại học đều áp dụng cho universitycollege ở Việt Nam.

2) Đại Học/Cao Đẳng Nghiệp Vụ:tương đương từ tiếng Anh Career College hay Vocational School, thay thế danh từ không thích hợp “Cao Đẳng Nghề”.

3) Nghiệp Vụ: từ trang trọng dùng thay thế từ bình dân “Nghề” vốn không bao giờ thích hợp trong hệ thống giáo dục Việt Nam do gây phản tác dụng về tâm lý nơi học sinh và phụ huynh học sinh. Trong nội dung tham luận này, nghiệp vụ theo thực tế tổ chức hướng nghiệphuấn nghiệp ở các cường quốc nên bao trùm cả những ngành mà Việt Nam gán ghép vào chỉ hệ đại học (Phụ Lục 1).

4) Giáo Dục: chức năng không thuộc phạm vi trách nhiệm của tất cả các trường đại học trên toàn thế giới.

5) Giảng Dạy: là từ tiếng Việt dùng trong rất nhiều trường hợp nhưng có ý nghĩa khác nhau và thường không được người Việt phân định rõ.

Giảng dạy với nghĩa teaching trong tiếng Anh sẽ chỉ thích hợp cho các cấp tiểu học và trung học, nơi giáo viên cung cấp kiến thức phổ thông và bao quát mà mỗi công dân tương lai phải có để là người trưởng thành có hiểu biết về bổn phận công dân, thích nghi với các yêu cầu xã hội trong cuộc sống, và khả năng nhận định để có quyết định thích hợp trong lựa chọn một ngành nghề theo đuổi vì mục đích chính: kế sinh nhai tự lập cho bản thân.

Ở tất cả các trường đại học, giảng dạy được hiểu như lecturetrain trong tiếng Anh tức thuyết trình huấn luyện , là công việc hướng dẫn thực hiện những phần việc chuyên môn cho một nghề nghiệp đặc thù mà sinh viên sẽ lập lại tại nơi cung cấp kế sinh nhai tự lập cho bản thân nên không thể không găn liền với huấn nghiệp.

6) Đào Tạo: chức năng liên quan đến huấn nghiệp; chức năng này là duy nhất đúng ở tất cả các trường đại học Việt Nam.

7) Huấn Nghiệp: dùng thay thế từ Dạy Nghề vì lý do bất lợi tâm lý do tên gọi bình dân bình thường và vì ở Việt Nam đã tầm thường hóa Dạy Nghề khi thiên nhiều hơn về các ngành nghề lao động chân tay và kỹ thuật cơ bản mà cao nhất là hệ trung cấp.

Huấn Nghiệp chức năng chính của tất cả các trường đại học.

8)Hướng Nghiệp: công tác tư vấn của hội đồng tư vấn ở mỗi trường đại học gồm các giáo viên có kinh nghiệm thực tiễn đối với công tác doanh nghiệp, thị trường lao động, liên kết doanh nghiệp bảo đảm thực hiện đầy đủ nội dung không thể thiếu của thực tập thực tế tại doanh nghiệp cũng như bảo đảm nơi đến cho “đầu ra” output của lực lượng nhân lực đã hoàn tất chương trình đào tạo trình độ đại học.

Công tác hướng nghiệp với đầy đủ các yêu cầu công việc nêu trên cũng có thể được thực hiện bởi đơn vị dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp bên ngoài hợp đồng hợp tác liên kết với mỗi trường đại học (Phụ Lục 2).

Hướng nghiệp không là nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục hay bất kỳ cơ quan nào của Nhà Nước tại địa phương hay ở cấp trung ương.

Công tác hướng nghiệp chuyên nghiệp được tiến hành dưới các dạng:

a- Hội thảo tuyển sinh

b- Tư vấn giai đoạn đầu với sinh viên năm thứ nhất. Mục đích: cung cấp thông tin như nêu ở Phần B, giải đáp thắc mắc.

c- Tư vấn giai đoạn giữa chương trình đào tạo. Mục đích: cập nhật thông tin Phần B, giải đáp thắc mắc, tư vấn lựa chọn phân ban chuyên môn chủ lực.

d- Tư vấn giai đoạn cuối với sinh viên năm chót. Mục đích: cập nhật thông tin  Phần B, giải đáp thắc mắc, tư vấn việc làm / hồ sơ việc làm / nhà tuyển dụng tiềm năng / thực tập các kỹ năng tìm việc và làm việc.

e- Tư vấn doanh nghiệp trong phát triển kinh doanh và phát triển nguồn nhân lực, đào tạo và bồi dưỡng, nâng cấp trình độ cho nhân lực đã đào tạo, nhằm xây dựng các mối liên kết chiến lược giữa trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.

B- Khái Quát Các Chuẩn Mực Hiện Đại Trong Tuyển Dụng Nhân Lực

Để chuẩn bị nội dung huấn nghiệp thích hợp nơi trường đại học, đồng thời sinh viên cần hiểu biết để tự đầu tư, tự tập trung rèn luyện, và tự tìm tòi học hỏi qua các phương tiện truyền thông đại chúng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nhằm tự trang bị tạo thế cạnh tranh cao trên đường tìm việc và lập nghiệp sau tốt nghiệp, các chuẩn mực sau được nêu như nguồn tham khảo khái quát.

1) Đặc Điểm Con Người

Doanh nghiệp thời hiện đại trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu đều nhận thức rõ về tầm quan trọng của đội ngũ nhân lực tài giỏi trong tạo sức cạnh tranh tốt hơn của doanh nghiệp trong thị trường. Dù có những khác biệt trong cách nhìn nhận thế nào là nhân lực tài giỏi, nội dung văn hóa doanh nghiệp được thực thi, các chủ trương kinh doanh và cách xác lập chiến lược cùng chiến thuật kinh doanh, đa số vẫn quan tâm đến những điểm chung nơi tính cách người nhân viên, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – sự tận tụy, không có quá trình công tác có quá nhiều thay đổi ngành nghề trong ngắn hạn, có kiến thức nghề nghiệp và nghiệp vụ chuyên môn vững, có tính chuyên nghiệp, đạo đức kinh doanh, trung tín, có văn hóa, k‎ỹ luật, tự trọng, có đồng thời khả năng làm việc chủ động độc lập và làm việc trong đội ngũ, và có sức khỏe tốt.

Trong những tính cách trên, người sinh viên cần đến các chương trình đào tạo của nhà trường về nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp, đạo đức kinh doanh, và các kỹ năng mềm cần thiết cho làm việc trong tập thể cũng như quản lý công việc nơi doanh nghiệp.

Nhân cách không tách rời con người nghiệp vụ, nên đối với những “đức tính” khác như tận tụy, trung tín, có văn hóa, k‎ỹ luật, tự trọng, chủ động, sáng tạo, tích cực, lạc quan, cầu tiến, và có sức khỏe tốt, v.v., người sinh viên bắt buộc phải tự dựng xây trang bị cho chính mình vì đó là những điểm cộng thêm giữ vai trò quyết định trong tìm việc, làm việc, và thăng tiến trong công việc. Không có những đức tính nhân cách này, nhân lực dù được đào tạo có trình độ đại học nghiệp vụ cao thực sự vẫn khó được sử dụng.

Đáp ứng yêu cầu đẳng cấp qua thể hiện bốn vai trò sau tại doanh nghiệp thường là mục đích đào tạo của các trường đại học nghiệp vụ cung cấp nhân lực có chất lượng cho thị trường lao động:

2) Đặc Điểm Tính Chuyên Nghiệp                     

Tính chuyên nghiệp là một trong những kỹ năng không thể thiếu nơi nhân lực trong doanh nghiệp, và thường bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – những thể hiện như:

a- Hiểu biết mục tiêu, giá trị, sứ mệnh của doanh nghiệp

b- Hiểu biết trách nhiệm của bản thân đối với công việc được giao, vị trí công tác, vai trò đối với doanh nghiệp, tập thể, và đội ngũ

c- Hiểu biết cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, hệ thống báo cáo và nội dung phân công phân nhiệm trong doanh nghiệp

d- Hiểu biết sự kỳ vọng của doanh nghiệp với bản thân

e- Nắm vững nghiệp vụ, kiến thức chuyên ngành, và các mối quan hệ nghề nghiệp khi tác nghiệp

f- Hiểu biết các yêu cầu luật định đối với ngành nghề kinh doanh và nghiệp vụ chuyên môn đảm trách

g- Tự giác làm việc tận tụy và có tinh thần kỷ luật tự giác

h- Không ngừng hoàn thiện phương pháp làm việc và nâng cao hiệu quả việc làm

i- Luôn có định hướng phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp

j- Không ngừng học hỏi để nâng cao tính cạnh tranh của bản thân

3) Đặc Điểm Công Việc

Ngay cả khi tình hình kinh tế thế giới không có suy thoái hay khủng hoảng thì yêu cầu tuyển dụng vẫn theo các chuẩn mực tuyển dụng cao như phương cách tạo thế cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp trong cùng một quốc gia đối với sự cạnh tranh cao trong thị trường. Do đó, nhân lực có trình độ đại học cao về chuyên môn nhất thiết vẫn phải có các kỹ năng khác để thích nghi và phát triển trong môi trường doanh nghiệp, nơi nhân lực có trình độ đại học cao ấy thực hiện chuyên môn vì kế sinh nhai tự lập cho bản thân. Chuyên môn hóa cực cao và riêng lẻ là yêu cầu chỉ còn tồn tại trong vài ngành đặc thù liên quan đến công nghiệp vũ trụ, hàng không, quân sự, hóa học và hóa dầu, v.v., trong khi tuyệt đại đa số sinh viên tốt nghiệp lại nhắm đến các cơ sở kinh doanh, nơi quan tâm tuyển dụng nhân lực đa năng mà chuyên môn đã qua đào tạo được xem như thành tố đương nhiên phải có, doanh nghiệp không phải ưu tiên đòi hỏi, kiếm tìm.

Nhân lực tốt nghiệp Cử Nhân Anh Văn sẽ phải cạnh tranh với rất nhiều ứng viên khác cho một vị trí thư ký văn phòng, chức danh đòi hỏi nhiều kỹ năng quan trọng hơn là trình độ Anh Văn Đại Học, bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi –  kỹ năng quản lý văn phòng, quản lý hành chánh, dịch vụ khách hàng, quan hệ công chúng, giao tiếp, xử lý tình huống, truyền thông nội bộ, đánh máy vi tính, xử lý dữ liệu thông tin, tốc ký và kế toán doanh nghiệp, kể cả phiên dịch là nghiệp vụ không có trong nội dung đào tạo một Cử Nhân Anh Văn. Thêm vào đó, kinh nghiệm làm việc, kỹ năng cùng kỹ thuật trả lời phỏng vấn tuyển dụng, và kiến thức sâu rộng thực tế về ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp còn làm gia tăng số lượng những yêu cầu phải có nơi ứng viên có tính cạnh tranh cao hơn số còn lại.

Trong khi đó, nhân lực tốt nghiệp Đại Học Y Dược, hay một kỹ sư từ Đại Học Bách Khoa sẽ vấp phải sự cạnh tranh gay gắt để có một việc làm tại một dưỡng đường hay một nhà máy đòi hỏi ứng viên phải vừa có trình độ ngoại ngữ cao vừa có kỹ năng lãnh đạo nhóm, kể cả có mối quan hệ rộng với danh mục riêng những khách hàng tiềm năng.

Không nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, sự quan tâm của doanh nghiệp, trường đại học khó đào tạo nhân lực tương thích.

Không nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, sự quan tâm của doanh nghiệp, nhân lực có trình độ đại học khó đáp ứng các yêu cầu tuyển dụng, làm trầm trọng thêm số liệu thống kê nhân lực chưa có việc làm sau đào tạo.

C-   Các Biện Pháp Cách Tân

Từ những khái quát được nêu ở Phần B, các biện pháp cách tân sau cần được xem xét bởi các trường đại học Việt Nam:

 

1)  Tái Phân Định Giữa Hàn Lâm Và Nghiệp Vụ

Trường đại học ở Việt Nam dường như đã thiên về khuynh hướng hàn lâm khiến chức năng đào tạo bị khiếm khuyết. Nhất thiết phải có các phân định sau cả về ngữ nghĩa và chức năng thực tế:

 

a- Đào Tạo Hàn Lâm:

Đào tạo hàn lâm là chức năng hẹp khi trường đại học cung cấp kiến thức và tạo môi trường nghiên cứu cho sinh viên theo các phân môn mà họ theo đuổi nhằm thỏa mãn sở thích hay mối quan tâm cá nhân, không liên quan đến yêu cầu cho một kế sinh nhai tự lập cho bản thân, hoặc có liên quan đến một kế sinh nhai tự lập cho bản thân họ chủ động tự lo liệu lấy với tư thế một doanh chủ entrepreneur, hoặc đơn giản vì họ có thiên hướng một nhà nghiên cứu hay trở thành giáo sư đại học hàn lâm. Nắm bắt được nguyện vọng của sinh viên như nêu ở phần C.2, trường đại học cung cấp chương trình đào tạo hàn lâm, tập trung duy chỉ vào kiến thức của và phương pháp nghiên cứu cho các vấn đề hàn lâm của những phân môn có liên quan. Những học bổng tiến sĩ Phật Học do các trường đại học danh tiếng Hoa Kỳ cấp cho sinh viên nước ngoài – kể cả sinh viên Việt Nam – tất nhiên không nhằm cung ứng lao động hay các nhà sư cho các cơ sở tôn giáo, mà chỉ đáp ứng nhu cầu nghiên cứu mang tính cá nhân của sinh viên và bổ sung vào kho tàng kiến thức chung của nhân loại các bản luận án tiến sĩ có nội dung mới.

 

b- Đào Tạo Nghiệp Vụ:

Đào tạo nghiệp vụ là chức năng chính của bất kỳ trường đại học nào trên thế giới vì đáp ứng ba nhu cầu lớn: nhu cầu tìm việc của sinh viên, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, và nhu cầu giải quyết công ăn việc làm của quốc gia và xã hội. Chuẩn bị “đầu ra” output nguồn nhân lực thích hợp sẽ hoàn toàn khác với đào tạo hàn lâm, đòi hỏi giáo viên và giáo trình không chỉ là những tổng hợp và phân tích mang tính liệt kê sử học những tồn tại hay diễn biến của các chủ đề hàn lâm, mà là những nêu bật và phân tích những vấn đề hay những ngành liên quan mật thiết đến thực tế đời sống, liên quan đến các ngành học của sinh viên mà họ có thể tự kiểm chứng giá trị qua thực tế, tự học hỏi từ thực tế, tự nghiên cứu qua đối tượng cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của các case study và lập lại trong tác nghiệp thực tế cho một kế sinh nhai tự lập cho bản thân.  Xa rời chức năng này đồng nghĩa với việc bản thân trường đại học không có chương trình đào tạo đúng và dủ, đồng thời sai lệch trong định vị thương hiệu.

Từ sự tái phân định nêu trên, có thể nói nhất thiết một số lượng hạn chế trường đại học có cả hai hệ đào tạo hàn lâm và đào tạo nghiệp vụ, và đa số các trường đại học thực hiện chức năng đào tạo nghiệp vụ, thay vì tuyệt đại đa số các trường đại học hiện nay đào tạo nghiệp vụ (dựa vào tên mỗi trường và danh mục tuyển sinh mỗi trường) theo bài bản giảng dạy hàn lâm.

 

2) Xác Định Vai Trò Quyết Định Duy Nhất Của Sinh Viên

Trong điều kiện giả định rằng các trường đại học ở Việt Nam đã hoàn tất việc tái phân định như đã nêu ở Phần C.1, sinh viên sẽ phải chịu trách nhiệm tuyệt đối và duy nhất đối với quyết định lựa chọn phân ban cụ thể, chuẩn hàn lâm hay nghiệp vụ, và trường đại học cung cấp hình thức và nội dung đào tạo thích hợp.

Tình trạng sinh viên cố gắng thi cho bằng được vào một trường đại học chỉ với ý nghĩ đơn giản và duy nhất rằng mình cần tự trang bị một bằng đại học để thuận lợi hơn cho mục đích tìm kế sinh nhai tự lập cho bản thân, mà không có hiểu biết phân định giữa hàn lâm và nghiệp vụ, thì đó không là lỗi của bất kỳ trường đại học nào đã thực hiện chương trình đào tạo theo định hướng huấn nghiệp của tái phân định giữa hàn lâmnghiệp vụ.

 

3) Vai Trò Phụ Trợ Tư Vấn Hướng Nghiệp Của Đại Học

Từ phân tích tầm quan trọng của tái phân định và khẳng định sự quyết định trong trách nhiệm và nhận thức đầy đủ của mỗi cá nhân sinh viên đối với tương lai công việc và sự nghiệp của chính họ, trường đại học đóng góp một vai trò thứ yếu trong bằng cách thực hiện chức năng chủ lực của mình đối với nội dung hướng nghiệp chuyên nghiệp (Phần A.8) vốn không thể thiếu vì đó là trách nhiệm đương nhiên của bất kỳ cơ sở đào tạo nào và cũng vì đó là sự thể hiện đẳng cấp chuyên nghiệp cao của bất kỳ trường đại học nào.

Tư vấn hướng nghiệp còn để phục vụ việc thiết kế chương trình giảng dạy phù hợp của mỗi trường đại học, tránh được các phương hại đến uy tín của trường trước vấn nạn nhân lực do trường đào tạo không thích hợp với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Tư vấn hướng nghiệp do đó là biện pháp chủ động một cách thực sự hàn lâm (academically) của mỗi trường đại học nhằm bảo đảm “đầu ra” output của nguồn nhân lực có trình độ đại học do mình đào tạo luôn thích ứng và đáp ứng được các yêu cầu tuyển dụng tinh tế và thực tế của doanh nghiệp và thị trường một cách thực sự thực tiễn của nghiệp vụ (practically feasibly and viably).

 

4) Đáp Ứng Tâm Lý Người Việt – Giải Pháp Thích Ứng

Các đề xuất nhằm thay đổi nhận thức về huấn nghiệp dù đến từ lãnh đạo Chính Phủ, Bộ Giáo Dục hay Hiệu Trưởng các trường đại học đều hoặc không có tính khả thi, hoặc viễn vông không thực tế, không chuyên nghiệp, hoặc cục bộ khi đề nghị giao hẳn “công tác đào tạo nghề nghiệp” cho hệ thống chung gộp của hệ trung cấp và cao đẳng một cách phi kiến thức về vai trò huấn nghiệp của trường đại học, hay đơn giản nói theo mô hình nước ngoài hoặc nêu cả khó khăn của cường quốc kinh tế như Nhật Bản trong vấn nạn đào tạo hướng nghiệp ở nước họ để làm lá chắn biện minh cho những vấn nạn vẫn còn nan giải của Việt Nam.

Giải pháp thích ứng Customization phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam, tâm lý người Việt, và văn hóa tập tục gia đình Việt, nên là các tái cơ cấu như sau:

a- Đổi tên tất cả các trường đại học và cao đẳng thành “đại học” theo đúng ý nghĩa như trong tiếng Anh; cho phép các trường cao đẳng “được đổi tên” này sử dụng chung từ tiếng Anh University với các trường đại học khác, dù ý nghĩa của University có khác biệt (Phần A.1).

b- Đổi tên các trường Trung Cấp Nghề thành Cao Đẳng Nghiệp Vụ.

Ghi chú:

(*) Tính hấp dẫn 1:

- Thời gian học: mỗi tuần từ 2 đến 5 ngày, thích hợp với đa số học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn

- Ưu tiên về tài trợ Nhà Nước

- Có thu nhập trong thời gian học nếu có thực tập thực tế tại xí nghiệp, cơ quan, doanh nghiệp

- Thỏa mãn tâm lý: Trường Nghề luôn tạo mặc cảm tự ti do mặc định dành cho học sinh yếu văn hóa, yếu tài chính. Trường Cao Đẳng Nghiệp Vụ có danh xưng Hán Việt trang trọng, tạo mặc cảm tự tôn do mặc định dành cho học sinh có năng khiếu kỹ thuật.

- Có “danh dự” đạt cấp Cao Đẳng về văn hóa và nghiệp vụ khi kết thúc chương trình trung học nghiệp vụ, có thể kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp, so với bạn học đồng cấp ở hệ phổ thông thi Tú Tài chưa thể có việc làm.

(**) Tính hấp dẫn 2:

Học sinh có bằng cán sự diploma được ưu tiên vào học Đại Học Bách Khoa hay Đại Học Kỹ Thuật, bảo đảm chất lượng “đầu vào” input hoàn toàn phù hợp với các đại học này, giúp chất lượng “đầu ra” gồm những kỹ sư có thực tài đã kinh qua 8 năm được đào tạo và thực tập thực tế về kỹ thuật, so với việc tuyển sinh từ học sinh phổ thông có bằng tú tài vào đào tạo từ đầu các ngành kỹ thuật, khó thể bảo đảm chất lượng “đầu ra” của những kỹ sư chỉ có 4 năm được đào tạo về kỹ thuật.

Việc tái cơ cấu và tái tổ chức trên sẽ giúp hóa giải vấn nạn các đầu tư cực kỳ tốn kém vào lĩnh vực huấn nghiệp đã chưa bao giờ đạt được kết quả như ý do không lưu ý đến các vấn đề nhạy cảm của tâm lý Việt và tư duy Việt đặc thù “chuộng danh”.

Đồng thời, số lượng cao của học sinh tham gia học tập hệ “cao đẳng” – một danh xưng mới thay thế cho trung học nghề hay trung học chuyên nghiệp – chắc chắn giúp cải thiện đáng kể công cuộc xóa đói giảm nghèo khi gia đình nghèo không cố gắng bằng mọi giá để con chỉ học chữ để vào đại học, vì học sinh học chữ tại trường cao đẳng vừa có thể tự tạo công ăn việc làm khi tốt nghiệp vừa có thể nếu muốn sẽ học tiếp lên đại học ở các trường đại học danh giá không phải dự tuyển sinh.

Điều cuối cùng song không kém phần quan trọng là xã hội có nguồn cung ứng cán sự (chuyên viên) kỹ thuật và kỹ sư đáp ứng được nhu cầu gia tăng trong xây dựng phát triển công nghiệp của nền kinh tế quốc dân, thay vì cứ mãi trở trăn than thở về sự bất túc nghiêm trọng mang tính trầm kha của nguồn cung ứng lao động kỹ thuật đối với nhu cầu to lớn của thị trường công nghệ và công nghiệp nước nhà.

 

5) Đổi Mới Nội Dung Giảng Dạy Theo Phân Định

Việc đổi mới theo phân định hệ hàn lâm và hệ nghiệp vụ của cùng một phân môn tại cùng một trường đại học theo phân định là việc tất nhiên, theo đó, giả dụ như một học sinh có bằng tú tài muốn thi vào Khoa Anh văn trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn sẽ được tư vấn đễ lựa chọn hướng theo đuổi để được giảng dạy phù hợp với nguyện vọng và kế hoạch sự nghiệp cá nhân theo mẫu giả định sau của tư vấn hướng nghiệp:

Các chi tiết về những tín chỉ cần cho mỗi phân môn có thể tham khảo ở Phụ Lục 1 để thiết kế phong phú hơn, thực tế hơn, và đẳng cấp đại học  hơn so với nội dung chất lượng của chương trình tín chỉ huấn nghiệp trung học nước ngoài.

 

6) Đổi Mới Tổ Chức Đại Học Theo Phân Định

 

a- Sự Cần Thiết Phải Đào Tạo Nghiệp Vụ Huấn Nghiệp Cho Giáo Viên Cơ Hữu

Do kiểu tư duy mặc định không xem trọng tính áp dụng và hữu dụng của các chương trình đào tạo, chưa phân định được sự khác biệt giữa giảng dạy và đào tạo, không hoặc chưa có liên kết hữu hiệu giữa đào tạo và tính tương thích tương hợp của kết quả đào tạo với yêu cầu tuyển dụng cụ thể của doanh nghiệp và nhu cầu thực tế của thị trường lao động, đa số các giáo viên đại họcdễ phát huy hiệu quả giảng dạy đối với nội dung hàn lâm, nhưng lại không có kinh nghiệm công việc cụ thể và trực tiếp trong từng ngành kỹ nghệ, chưa kinh qua quá trình đào tạo dựa trên cơ sở các kỹ năng cũng như áp dụng lý thuyết vào thực hành trong môi trường doanh nghiệp nên vai trò tư vấn hướng nghiệp hoặc không thể thể hiện hoặc thể hiện rất mờ nhạt và vô hiệu, dẫn đến tình trạng không thể biên soạn giáo trình phù hợp và định ra được phương pháp đào tạo thích hợp nếu chức năng huấn nghiệp được bắt đầu hay được tái khởi động ở trường đại học/cao đẳng.

 

b- Xây Dựng Cơ Chế Theo Định Hướng Lấy Sinh Viên Làm Trung Tâm

Từ bỏ lối tư duy không còn thích hợp của sự đặt các hoạt động giáo dục và đào tạo ra ngoài ý niệm kinh doanh, các trường đại học phải là những doanh nghiệp thành công trong cung cấp dịch vụ đào tạo cho đối tượng khách hàng là sinh viên, thay vì ở tháp ngà giảng dạy như ban phát ân huệ cho sinh viên như người cấp thấp của kiểu cũ (“không Thầy đố mày làm nên”, hay “một chữ cũng Thầy, nửa chữ cũng Thầy). Cơ chế tổ chức lấy sinh viên là trung tâm là thể hiện chuyên nghiệp của dịch vụ khách hàng đẳng cấp cao, đáp ứng nhu cầu học tập hàn lâm hay nghiệp vụ của sinh viên bằng dịch vụ cao cấp được thực hiện bởi những giáo viên cao cấp với giáo trình cao cấp trong môi trường tiện nghi vật chất cao cấp. Việc xây dựng này tương tự như hoạt động của các đại học nước ngoài vốn luôn quan tâm đầu tư cao vào giáo dục huấn nghiệp hiện đại bao gồm – song không chỉ giới hạn bởi – các cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, mà còn ở các định hướng nghề nghiệp chuyên nghiệp, xác lập mục tiêu và mục đích đào tạo, thiết kế chương trình đào tạo trên cơ sở tương thích tương hợp năng lực nhằm đạt hiệu quả chuyển giao bí quyết và phát triển năng lực sinh viên đáp ứng yêu cầu của các ngành kỹ nghệ trong nền kinh tế quốc dân.

D- Kết Luận

 

Từ những phân tích trên, việc tái phân định là nhu cầu cấp bách của hệ thống giáo dục và đào tạo ở Việt Nam, không những phù hợp với quy mô các trường đại học nước ngoài trong công cuộc phát triển huấn nghiệp tại quốc gia của họ, mà còn nhằm hiện đại hóa tư duy của ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Một khi lấy con người làm trung tâm – trong phạm vi tham luận này là sinh viên – thì việc tìm hiểu tâm tư nguyên vọng và tâm lý của sinh viên cũng như các quan tâm của gia đình sinh viên và cộng đồng doanh nghiệp cũng là điều nhất thiết phải tính đến không những trong hoạch định các kế sách chiến lược quốc gia mà còn trong tổ chức hiệu quả các chương trình giáo dục và đào tạo phù hợp, phát huy các giá trị cộng thêm nơi những sản phẩm của các trường đại học nước nhà.

Phụ Lục 1:

Tham Khảo Danh Mục Huấn Nghiệp Nước Ngoài

 

Phụ Lục 2:

Doanh Thương Mỹ Á

Doanh Thương Mỹ Á (MYA BizCorp – www.myabiz.biz) cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp và giải pháp hàn lâm cũng như nghiệp vụ sau cho các trường Đại Học và Cao Đẳng Việt Nam:

1) Tư vấn xây dựng chương trình đại học nghiệp vụ (career college) lồng ghép trong tổ chức hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng khối kỹ thuật.

2) Tư vấn xây dựng và hợp tác thực hiện chương trình đại học nghiệp vụ (career college) lồng ghép trong tổ chức hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng khối ngoại ngữ Anh

3) Tư vấn xây dựng và hợp tác thực hiện chương trình ngoại khóa hay chính khóa về tất cả các kỹ năng mềm trong quản trị kinh doanh và quản trị doanh nghiệp lồng ghép trong chương trình chính quy hiện hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng tất cả các khối, các ngành, các ban, theo hình thức

a- Chìa Khóa Trao Tay (Turn Key Project): huấn luyện giáo viên cơ hữu của trường Đại Học và Cao Đẳng, tư vấn kỹ năng, tư vấn kiến thức thực tiễn kinh doanh, cung cấp tài liệu in ấn và PowerPoint slideshow kèm các chuyên đề trên.

   b- Cộng Tác Giảng Dạy: thực hiện các lớp ngoại khóa trên cho sinh viên, giảng dạy bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh.

   c- Dịch Vụ Tư Vấn Kỹ Năng: thực hiện tất cả các yêu cầu của trường Đại Học và Cao Đẳng đối với bất kỳ chủ đề kỹ năng nào trong danh mục, ngoài danh mục, mới xuất hiện hay chưa có trên thế giới, hoặc phát sinh từ thực tiễn hoạt động của trường Đại Học và Cao Đẳng.

   d- Dịch Vụ Biên Soạn Giáo Trình, Hiệu Đính Giáo Trình, Dịch Thuật Giáo Trình Anh-Việt Việt-Anh: đặc biệt để trường Đại Học và Cao Đẳng tự tiến hành giảng dạy sinh viên.

   e- Tư Vấn Hướng Nghiệp: hợp đồng với trường Đại Học và Cao Đẳng làm việc với sinh viên năm đầu và sinh viên năm cuối.

4) Tư vấn xây dựng chương trình đại học nghiệp vụ (career college) riêng biệt hoặc lồng ghép trong tổ chức các dự án thành lập mới trường Đại Học và Cao Đẳng.

5) Tư vấn xây dựng chương trình và cùng thực hiện chương trình đại học nghiệp vụ (career college) trên cơ sở nâng đẳng cấp các Trường Trung Cấp Nghề hiện hữu.

 

Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo

A Curriculum for Excellence, the Scottish Executive. 2004. The Curriculum Review Group.

Casey, Helen, Olga Cara, Jan Eldred, Sue Grief, Rachel Hodge, Roz Ivanicv, Tom Jupp, Desiree Lopez and Bethia McNeil. 2006. Embedding Literacy, Language and Numeracy in Post-16 Vocational Programmes – the Impact on Learning and Achievement. London: NRDC, Institute of Education.

Decennial Census Program. 2010. US Census Bureau, US Department of Commerce.

Dự Báo Cả Cung Và Cầu Để Lập Quy Hoạch Nhân Lực 2011-2015-2020. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/DU-BAO-NHU-CAU-NHAN-LUC/Du-bao-ca-cung-va-cau-de-lap-quy-hoach-nhan-luc-.aspx#neo_content

Importance of Vocational Skills and Careers. 2010. EngineeringUK.

Initial Teacher Training in Vocational Subject.  2007. Crown. www.ofsted.gov.uk

Institute of Technology. 2010. http://en.wikipedia.org/wiki/Institute_of_technology

Learning and Teaching in Vocational Subjects MA / Postgraduate Certificate. 2010

Minh Nhật. 2010. Phát Triển Giáo Dục Dạy Nghề: Cần Một Cuộc Cách Mạng Về Nhân Thức. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/DU-B

Ghi chú:

Bài trên là tham luận của Hoàng Hữu Phước tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức tại Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23/10/2010. Được đăng lại trên emotino.com ngày 25-10-2010 (http://www.emotino.com/bai-viet/18856/nhung-phan-tich-moi-ly-giai-van-nan-bat-tuong-thich-giua-dao-tao-su-dung-nhan-luc-trinh-do-dai-hoc-va-cac-bien-phap-cach-tan)

Chất Lượng Giáo Dục ở Việt Nam

Hoang Huu Phuoc, MIB

Theo tin tức báo chí, tại hội nghị lấy ý kiến nâng cao chất lượng giáo dục do Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam tổ chức ngày hôm qua 31-7-2013 tại Hà Nội, Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan đã cho rằng khâu quản lý thi cử và quản lý chất lượng người thầy đã bị buông lỏng. Đây là một nội dung quan trọng mà tôi lâu nay cũng đã thường hay nhận định. Tiếc là phát biểu của các vị giáo sư tiến sĩ được báo chọn để kể cho người đọc báo biết thì chỉ toàn là những ý kiến mà chắc chắn sẽ có những hậu quả nhãn tiền – y như rất nhiều chục năm qua việc cải cách giáo dục đã luôn dựa trên những ý kiến được chọn lọc từ những đề xuất của các vị giáo sư tiến sĩ khác, hóa ra cùng trên cơ sở thăng hoa chủ quan cực kỳ quen thuộc đến nhàm chán nhằm phủ lớp sơn mới lên bề nặt tượng gỗ mục ruỗng thay vì gia cố vững chắc từ bên trong, nên đã theo cái cách gở rối bằng hành động vò thêm để cuộn rối trông tròn trịa hơn may ra thiên hạ quên đi thực chất đó vẫn là cuộn chỉ rối, hoặc như rải hắc ín lên bề mặt đường giao thông mà không xới đào nện chắc đất nền khiến ai cũng thấy đường sá đẹp hơn, mới hơn, cao hơn để đổ nước mưa dạt ra hai bên xuống ngập khu dân cư ở vị trí ngày càng thấp hơn mặt đường, nhưng sau đó nhanh chóng hư hỏng và lún sụp thành ổ gà, ổ trâu, ổ voi như tấm da beo, y như cái sự nghiệp giáo dục nhiều chục năm qua vẫn cứ tuột dốc do được điều hành và vấn kế bởi những người không trình độ, không trách nhiệm, và không phù hợp.

Như đã giới thiệu trên blog này, tôi đã lập trang http://hoanghuuphuocteachers.blog.com tập trung đăng các bài tôi viết về các Thầy Cô của tôi cùng các ý kiến, phê bình, nhận định của tôi về giáo dục, chẳng hạn như:

Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô

Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh

Tôi Và Thầy Lê Văn Diệm

Cựu Nhà Giáo Hoàng Hữu Phước Viết Bức Tâm Thư Gửi Nhà Giáo Hiện Tại và Tương Lai

Phong Cách Người Thầy

Lời Ngỏ Cùng Học Sinh

Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Lịch Sử

Khiêm Tốn

Bí Quyết Thành Công

Cảm Ơn Học Trò

Lời Động Viên Luôn Cần Thiết Cho Đời

Nay nhân có hội nghị nói trên, tôi chọn đăng lại trên blog này những bài viết sau bắt đầu từ ngày mai để một lần nữa khẳng định việc cách tân giáo dục phải đi vào thực chất chứ không dựa vào sự thăng hoa của trí tưởng tượng:

1- Tham luận của Hoàng Hữu Phước: “Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân” tại Hội Thảo “Hợp Tác Đào Tạo Nhân Lực Chất Lượng Cao” do Viện Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh và Báo Người Lao Động tổ chức ngày 23-10-2010 tại Đại Học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh.

2) Bài “Lời Khuyên Dành Cho Các Giáo Viên Sử” của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino ngày 18-9-2012.

Những bài viết khác của tôi về chuyên đề cách học để thật sự giỏi tiếng Anh cũng sẽ được tập hợp trong một blog khác và được giới thiệu trong thời gian sớm nhất.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tòa Án Nhân Dân Tối Cao: Thành Lũy Tư Pháp

Hoang Huu Phuoc, MIB

Theo Điều 134 Hiến pháp hiện hành (Hiến pháp Năm 1992 – đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Tòa án Nhân dân Tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, giám đốc việc xét xử của các Tòa án Nhân dân địa phương, các Tòa án Quân sự, Tòa án Đặc biệt và các tòa án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thành lập tòa án đó. Trong các vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài thì Tòa án Nhân dân Tối cao trở thành nơi nhiều bị đơn hoặc nguyên đơn mong được “đèn trời soi xét” để cho sự cầu cứu của họ được xem xét theo chiều hướng khác hơn.

Sau khi trúng cử Đại Biểu Quốc Hội Khóa XIII, cùng các đại biểu khác, trong nhiều loại công việc mới theo chức năng và nhiệm vụ, tôi bắt đầu tiếp công dân tại Văn Phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp. Hồ Chí Minh theo lịch phân công, và ngày càng hiểu rõ hơn vị thế thành lũy tư pháp vững vàng của Tòa án Nhân dân Tối cao.

Ngày 06-9-2011 tôi có tiếp và nhận đơn của công dân Trương Thị Kim Nhỏ ở Quận 12, là bị đơn của một vụ kiện phức tạp tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa nhiều bên từ năm 1976, đến gặp tôi khiếu nại bản án dân sự phúc thẩm số 03/2010/DSPT ngày 07-01-2010 của Tòa Phúc Thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi đọc lại hồ sơ có liên quan và so sánh với nội dung bà Kim Nhỏ đã trực tiếp trình bày trong buổi tiếp dân, ngày 13-9-2011 tôi gởi công văn đến Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao đề nghị xem xét theo thẩm quyền, trả lời công dân, và thông báo kết quả đến đoàn đại biểu quốc hội.

Ngày 24-5-2013 vừa qua, Văn phòng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội Tp. Hồ Chí Minh nhận được công văn số 308/TANDTC-DS ngày 26-4-2013 của Tòa Án Nhân Dân Tối Cao gởi cho tôi,  thông báo rằng Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao đã có Quyết định số 535/2012/KN-DS ngày 27-12-2012 kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và tạm đình chỉ thi hành bản án cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm. Nhìn những chi tiết về ngày tháng, người ta có thể nghĩ đến sự chậm trễ, nhưng tôi lại cảm nhận được nỗ lực của Tòa án Nhân dân Tối cao trong điều tra tìm hiểu chân tơ kẽ tóc của từng vụ việc để xét xử công minh cho người dân, mà số lượng chất chồng của các đơn thư khiếu tố theo thứ tự trước sau ắt sẽ cứ luôn dâng cao hơn và cao hơn trong khi số lượng thẩm phán và cán bộ tòa án gần như là cố định, quá rõ và quá đủ để thấy thế nào là ý nghĩa của áp lực công việc cũng như của sự thúc bách của tính hiệu quả và chuyên nghiệp.

 

Tôi đã có bức thư ngày 14-4-1993 của Ngân hàng Nhà nước trả lời kiến nghị của nhà giáo Hoàng Hữu Phước đối với việc tại sao các tờ giấy bạc Việt Nam chỉ in hình Chủ tịch Hồ Chí Minh mà không có các danh nhân lịch sử khác,

 

và nay là công văn ngày 26-4-2013 nói trên của Tòa án Nhân dân Tối cao (cùng những công văn khác của các cơ quan khác trong xử lý những vụ việc khác) thông báo cho đại biểu dân cử Hoàng Hữu Phước về kết quả giải quyết các đơn thư khiếu nại khiếu tố của người dân, tất cả sẽ là những bằng chứng củng cố trong tôi niềm tin rằng các cơ quan ấy luôn là những thành lũy vững chắc bảo vệ người dân trong môi trường luật pháp nghiêm minh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Báo Sài Gòn Giải Phóng

 -  Ý kiến của Hoàng Hữu Phước –

(Bài có kèm hình ảnh đăng đồng thời tại: http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com/2013/07/21/bao-sai-gon-giai-phong/)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Tôi đã từng có sở thích dấn thân vào nghề báo nhưng phải là với tòa soạn báo chí nước ngoài để có thể viết về Việt Nam bằng tiếng Anh, vinh danh đất nước Việt Nam với thế giới, chống chọi với các thế lực truyền thông kém thân thiện chống phá Việt Nam. Tất nhiên làm sao mà viết cho “họ” khi “họ” nheo nhéo nói quàng nói xiêng về Việt Nam, còn ở Việt Nam thì tôi đâu có tốt nghiệp ngành báo chí nên chỉ có thể viết dăm ba bài dạng phản ảnh cho các báo ở Thành phố Hồ Chí Minh, chẳng hạn về việc làm trên báo Người Lao Động, về học tiếng Anh hay phê bình phim ảnh trên báo Tuổi Trẻ, v.v. Và tất nhiên, báo Sài Gòn Giải Phóng, cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh, là tờ báo chính thống và quan trọng nhất của Thành phố Hồ Chí Minh, trở thành nơi tôi yên tâm gởi đến các góp ý, kiến nghị. Một thí dụ là trong số nhiều thư gởi đến báo Sài Gòn Giải Phóng, tôi đã lấy thư trả lời của Ban Thư Ký Bạn Đọc được ký bởi Ông Chu Uyên để minh họa trong bài viết “Các Cơ Quan Ngôn Luận Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Luôn Trân Trọng Các Đóng Góp Ý Kiến Nghiêm Túc Của Công Dân Nghiêm Túc” đăng trên Emotino ngày 03-02-2010.

Nguyên vào thời điểm 1988 có các kiểu phá hoại của giặc ngoài sử dụng một số người đội lốt tu sĩ sử dụng bình phong tôn giáo kích động bộ phận người xấu trong giáo dân chống phá cách mạng. Ban Giám Hiệu trường Cao Đẳng Sư Phạm TP HCM có một quyết định miệng là đình chỉ hoạt động giảng dạy của các giáo viên có đạo Chúa. Hay tin Cô giáo Nguyễn Thị Vinh, giảng viên Anh Văn đồng nghiệp lớn hơn tôi 15 tuổi, buồn khóc vì không được đứng lớp mà phải thui thủi giam mình trong phòng thính thị tối tăm (cúp điện tuần đủ 6 ngày), dù đã chuyển sang công tác kinh doanh khu vực nước ngoài tôi vẫn một mặt an ủi, khuyên Cô phải tích cực đấu tranh tư tưởng với người trong đạo và các tu sĩ để không ai trong họ họ – nếu có – làm chuyện thất đức vô đạo là chống phá cách mạng, gây bất ổn xã hội, đồng thời khuyên Cô kiên nhẫn chờ đợi sự công bằng từ chính sách tôn giáo của Đảng; một mặt tôi gởi thư cho báo Sàigòn Giải Phóng nêu ý kiến rằng việc bọn phản loạn đội lốt tôn giáo Trời không dung Chúa cũng không tha, và rằng những ai xuẩn động bị dẫn dụ thì cũng đã có pháp luật xử l‎ý đúng tội đúng người. Còn các công dân khác của Miền Nam tuy thuộc các tôn giáo khác nhau nhưng đều giống nhau ở hai điều là có sự thông tuệ không mù quáng về tôn giáo, và sống qua thời kỳ gian khổ của chiến tranh nên đều hoan hỷ trước chiến thắng của cách mạng. Nay không thể vì một bọn xấu xa phản loạn đội lốt tu sĩ xách động mà gia giảm các chính sách tốt đẹp về tín ngưỡng cho tất cả người dân. Thời gian ngắn sau, Cô Vinh được đi dạy lại, và Chính phủ cho phép các chủng viện hoạt động để đào tạo các tu sĩ phục vụ cho sự phát triển mạnh hơn các hoạt động và sinh hoạt tôn giáo. Tôi có thể nói qua kinh nghiệm thực tế bản thân rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam đã tôn trọng tín ngưỡng toàn dân, và các tôn giáo tại Việt Nam đều phát triển nhờ vào các chủ trương và chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chính Phủ Việt Nam.

Công văn viết tay số 1013/VTBĐ ngày 26-11-1988 Báo SÀI GÒN GIẢI PHÓNG gởi đến tôi như kể trên có nội dung như sau:

*****

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26-11-1988

Kính gởi: đồng chí Hoàng Hữu Phước

Chúng tôi đã nhận được bài “Góp Thêm Vài Ý Kiến Về Vấn Đề Tôn Giáo” của đồng chí. Ban Biên Tập đã đọc, rất tâm đắc với ý kiến của đồng chí và thấy cần thiết phải có những ý kiến cụ thể như vậy để những người có trách nhiệm có thêm thực tiển mà suy nghĩ để có các chính sách đúng đắn về vấn đề tôn giáo, nếu không thì rất có hại cho sự nghiệp chung của đất nước.

Chúng tôi rất muốn đăng những bài như đồng chí đã viết, nhưng mong đồng chí thông cảm cho những khó khăn, hạn chế hiện nay của báo chí. Vì vậy, xin đề nghị, nếu đồng chí đồng ý, chúng tôi sẽ sao nguyên văn bài viết của đông chí để gởi cho Ban Tôn Giáo Trung Ương, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, và Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ đề nghị nghiên cứu.

Chúng tôi mong sớm nhận được ý kiến của đồng chí .

Xin cảm ơn và chúc sức khỏe đồng chí cùng gia đình.

TL Ban Biên Tập

TM Ban Công Tác Bạn Đọc

Chu Uyên

*****

Tất nhiên, như bất kỳ tờ báo nào khác, Báo Sài Gòn Giải Phóng thỉnh thoảng vấp phải những sai sót nhất định về chuyên môn nghiệp vụ của phóng viên hay của nhân viên sắp chữ. Chẳng hạn trong số báo ngày 20-01-2000, có đăng mục quảng cáo của Thẩm Mỹ Viện Á Châu với ảnh chụp tờ xác nhận có tham dự hội thảo trong một ngày 30-9-1999 tại bệnh viện Columbia, Washington, Hoa Kỳ, do bịnh viện này cấp cho Ông “tiến sĩ y khoa” Nguyễn Xuân Ái, nhưng đã được chua dòng chữ tiếng Việt bên dưới rằng “Bằng cấp đã được Bệnh viện Columbia, Washington chứng nhận”. Nội dung chắc chắn là do Thẩm Mỹ Viện Á Châu và Ông “tiến sĩ y khoa” Nguyễn Xuân Ái soạn thảo ắt muốn nhập nhằng đánh lận con đen như thể Ông “tiến sĩ y khoa” tốt nghiệp bên Mỹ, nhưng cũng do bộ phận kiểm duyệt của tòa soạn lúc ấy thiếu nhân viên có đủ trình độ về tiếng Anh nên để xảy ra chuyện bị dắt mũi.

Nhưng những sai sót đó là rất nhỏ và mang tính khó tránh khỏi như bất kỳ tờ báo hay tạp chí lớn nào trên thế giới nhất là khi xử lý thông tin từ ngôn ngữ khác. Cái chính là Sài Gòn Giải Phóng có nhiều tính chủ động khá độc đáo, chẳng hạn như vào năm 2009 khi cả nước kỷ niệm 20 năm ngày xuất khẩu lô gạo đầu tiên có giá trị thương mại (có hợp đồng thương mại, giao hàng theo ELCEE đã nhận qua Ngân hàng Ngoại thương Vietcombank, chứ không phải hàng ra khỏi Việt Nam do viện trợ các nước xã hội chủ nghĩa anh em hay để trả nợ), phóng viên Nguyễn Duy của Sài Gòn Giải Phóng đã tìm đến tôi để phỏng vấn, và bài viết “Người Đầu Tiên Góp Phần Đưa Hạt Gạo Đi Xa” xuất hiện trên Sài Gòn Giải Phóng 12 giờ số ra Chiều Chủ Nhật
05-4-2009.

Hoặc như ngay sau khi tôi tự đến Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh xin đơn để tự ứng cử Đại biểu Quốc hội trong tháng 3 năm 2011, và hoàn tất việc nộp đơn, tôi đã nhận được lời động viên của phóng viên kỳ cựu Hoài Nam của Sài Gòn Giải Phóng.

Trong tình hình có hiện hữu căn bịnh mang tên thoái hóa đạo đức cách mạng, suy đồi đạo đức con người, suy yếu chuyên nghiệp chuyên môn, và “hai mang” hay “tự diễn biến” xuất hiện ở bất kỳ lĩnh vực nào, thì Báo Sài Gòn Giải Phóng ắt sẽ không chủ quan tự tin vào sự vô nhiễm hay miến nhiễm phi thực tế, và với sự biết rõ để giáo dục và quản lý nhân sự của mình, Báo Sài Gòn Giải Phóng sẽ ngày càng phát triển và lớn mạnh.

Từ bức thư viết tay của Ông Chu Uyên của Sài Gòn Giải Phóng, cũng như từ những bức thư trả lời của các cơ quan Nhà nước đối với các kiến nghị của tôi, trong đó có thư của Ngân hàng Nhà nước gởi tôi năm 1993 mà tôi sau này đã đăng trên Yahoo!360 bằng tiếng Anh năm 2005 và trên Emotino bằng tiếng Việt năm 2008, tôi hay viết cho người thân và học trò rằng tôi “mong sao sẽ không còn ai vô tâm vô tư phát tán những mẫu tin tiêu cực chế giễu về những vấn đề quá đỗi bình thường trong đời sống kinh tế bất kỳ quốc gia nào cũng đã, đang, và sẽ còn mãi phải đương đầu; hãy để Chính Phủ xử lý các vấn đề của quốc gia trong lúc toàn thế giới đang trong tình trạng không sáng sủa, và hỗ trợ Chính Phủ bằng những đề xuất xây dựng nào có thể có được nhằm đến một ưu thế tòan cục, an toàn dài lâu, và phát triển trong cẩn trọng của quốc gia và dân tộc,” với điểm nhấn về sự đúng đắn của các đề xuất xây dựng; ‎và kết luận rằng “Đảng Cộng Sản Việt Nam như mặt trời và không cần phải bật thêm một que diêm để giúp làm sáng hơn một mặt trời ngùn ngụt nhật quang.”

Đó là sức mạnh của báo chí cách mạng Việt Nam.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Thùng Nước Đá và Blog

Bài viết sau của Hoàng Hữu Phước đã được đăng tải trên emotino lúc 23 giờ 46 phút ngày 29-8-2012 (http://www.emotino.com/bai-viet/19675/thung-nuoc-da-va-blog). Nay được đăng lại trên tất cả các blogs của Hoàng Hữu Phước.

Hoang Huu Phuoc, MIB

Trên một lề đường ở Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, có một gia chủ nào đó hôm nào cũng đặt một thùng nước đá trên ghế, có nắp đậy và một chiếc ly, để bất kỳ ai đi ngang có nhu cầu cũng có thể ghé lại, dùng ly múc nước trong sạch lạnh mát ấy mà uống giải khát, mà đa số là những người lao động, những anh chạy xe ôm, những bạn trẻ có dáng dấp thư sinh, tắp vào uống tự nhiên, thân quen, rồi đậy nắp thùng cẩn thận, đặt lại ly vào khay, và tiếp tục cuộc hành trình mưu sinh cho hiện tại hoặc đầu tư cho tương lai. Không có cảnh viết lời cảm ơn trên thùng nước đá. Không có cảnh buộc tiền để lại như câu truyện tráng sĩ ngày xưa treo thanh bảo kiếm bên mộ cố nhân sau khi ca khúc khải hoàn thắng giặc trở về, hoặc câu truyện người khát nước ăn dưa treo tiền để lại tạ ơn chủ cánh đồng dưa. Bởi một lý do đơn giản: việc để thùng nước đá không được chủ nhân cho là đủ vĩ đại để có thể treo một quyển sổ kèm chiếc bút chì để người uống nước ghi lại đôi dòng chữ tạ ơn. Bởi một lý do đơn giản: việc cảm ơn bằng lời, bằng chữ, bằng vật chất không được người đoan chính hiền nhân quân tử uống nước cho là đủ để tôn được cái tấm lòng vĩ đại của chủ nhân, nên chính việc thường xuyên ghé uống và cẩn thận đậy nắp thùng sau khi uống, cẩn thận đặt lại chiếc ly vào chỗ cũ chính là lời cảm ơn câm lặng tuyệt hảo, tuyệt toàn, tuyệt diệu.

Trên lề đường của xa lộ thông tin thế giới, có nhiều gia chủ nào đó thường xuyên treo quyển nhật ký hoặc sổ tay ghi chép những điều tâm sự – mà thiên hạ gọi là viết blog – để bất kỳ ai đi ngang có nhu cầu cũng có thể ghé lại, lật từng trang để đọc xem những lời hay lẽ phải đầy chất xây dựng và lòng ái quốc chân thiết, để đồng cảm với chủ nhân, để tự tìm thấy cho mình những điều tương hợp giải được cái khát khao chiêm nghiệm những mới lạ hay cảm nhận được cái biết đâu sẽ là chân lý, cái biết đâu sẽ hóa giải được một khúc mắc mà cuộc sống đã lỡ tay vò rối hơn cuộn chỉ dưới vuốt mèo, hoặc đơn giản lấy được cho mình một tiếng cười khoái hoạt từ những đoạn tiếu lâm, để rồi trầm ngâm đặt lại quyển sổ ấy vào chỗ cũ, và tiếp tục cuộc hành trình mưu sinh cho hiện tại hoặc đầu tư cho tương lai. Không nhất thiết phải có cảnh viết lời cảm ơn vào các cuốn sổ tay gọi là blog ấy vì ngay từ đầu blog được định nghĩa như những trang nhật ký mà chủ nhân không cho là cần phải che dấu cho chỉ riêng mình hay bày tỏ với trăng sao mà muốn bộc bạch với con người, tức cái thực thể đáng trân trọng hơn bất kỳ vì tinh tú nào trên dãy thiên hà xa vời vợi mà ánh sáng thực tế rất có thể đã tắt ngúm từ lâu. Không nhất thiết phải có cảnh buộc tiền để lại như câu truyện tráng sĩ ngày xưa treo thanh bảo kiếm bên mộ cố nhân sau khi ca khúc khải hoàn thắng giặc trở về, hoặc câu truyện người khát nước ăn dưa treo tiền để lại tạ ơn chủ cánh đồng dưa. Bởi một lý do đơn giản: việc viết blog không được chủ nhân cho là đủ vĩ đại để có thể treo một quyển sổ kèm chiếc bút chì để người ghé đọc ghi lại đôi dòng chữ tạ ơn. Bởi một lý do đơn giản: việc cảm ơn bằng lời, bằng chữ, bằng vật chất không được người đoan chính hiền nhân quân tử đọc blog cho là đủ để tôn được cái tấm lòng vĩ đại của chủ nhân, nên chính việc thường xuyên ghé đọc và cẩn thận đặt lại quyển blog nguyên vẹn sau khi đọc chính là lời cảm ơn câm lặng tuyệt hảo, tuyệt toàn, tuyệt diệu.

Bạn nghĩ sao nếu có kẻ không cần uống nước đá “miễn phí” lề đường vì y chỉ uống bia “mua” tại quán nhậu nhưng vẫn tắp xe vào, mở nắp thùng nước, khạc nhổ vào đấy, vất rác vào đấy, ném bỏ chiếc ly, rồi cười khùng khục rồ máy xe chạy mất?

Bạn nghĩ sao nếu có kẻ không cần đọc blog loại “miễn phí” trên lề xa lộ thông tin vì y chỉ đọc bài viết loại “lửa” do chiến hữu “chuyển về quê” gởi tặng y trong cuộc “diễn tiến hòa bình” nhưng vẫn ghé vào, mở quyển nhật ký, khạc nhổ vào đấy rồi dùng hai bàn tay xoa thứ đàm nhớt ấy lên khắp trang blog, lấy sơn xịt vẽ lời tục tĩu chửi cha chủ nhân, rồi cười khùng khục rồ máy xe chạy mất?

Khi ta đã nghĩ ra về cái gọi là tư cách của những người làm các hành động nêu trên đối với thùng nước đá “miễn phí” và với trang blog “free” thì ta có thể sẽ ngộ ra hai điều rằng trên đời này cái gì cũng có thể có mối liên quan so sánh như gã Trọng Ni nước Tàu từng kể giai thoại về việc lấy cái đã biết để làm thí dụ miêu tả cái chưa biết nên dẫn đến câu chuyện ví von thùng nước đá và blog nêu trên, và rằng đâu cần phải đi du học mới biết cách hành sử của con người vì chỉ cần đứng gần thùng nước đá nhận xét thái độ của người đến uống nước và không uống nước để khinh miệt kẻ khạc nhổ vào thùng, cũng như đọc các lời viết của những người ghé đọc blog và không đọc blog để khinh bỉ kẻ bôi bẩn blog, là người ta đã có thể đặt chân lên bậc thềm đầu tiên để bước lên cõi cao trọng của các bậc hiền nhân trí hóa rồi vậy.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Các blogs đang hoạt động (tiếng Việt):

1) http://hhphuoc.blog.com : Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước

2) http://antichina.blog.com : Hoàng Hữu Phước Và Tình Cảm Dành Cho Trung Quốc Vĩ Đại

3) http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com : Hoàng Hữu Phước Vì Việt Nam

4) http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com : Hoàng Hữu Phước Và Các Tham Luận Hội Nghị

5) http://hoanghuuphuocteachers.blog.com : Hoàng Hữu Phước Và Các Thầy Cô Kính Yêu

6) http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com : Blog tương hổ (đăng cùng các bài mới đăng trên những blog nêu trên và trên những blog từ số thứ tự 9 đến 12 sắp mở nêu bên dưới)

7) http://hoanghuuphuoc.sosblogs.com : Blog tương hổ (đăng cùng các bài mới đăng trên những blog nêu trên và trên những blog từ số thứ tự 9 đến 12 sắp mở nêu bên dưới)

Các blogs sắp mở:

8 )   Hoàng Hữu Phước Và Tư Tưởng Chính Trị (trên blog.com)

9)   Hoàng Hữu Phước Và Những Sáng Tác Văn Thơ Tiếng Anh Và Tiếng Việt (trên blog.com)

10) Hoàng Hữu Phước Và Thế Giới Kinh Doanh (trên blog.com)

11) Hoàng Hữu Phước Và Cách Học Giỏi Xuất Sắc Tiếng Anh (trên blog.com)

12) Hoàng Hữu Phước Và Phê Phán (trên blog.com)

13) Hoàng Hữu Phước Và Emotino 1: chọn đăng lại 300 trong số những bài đã viết trên Emotino thời gian từ tháng 8-2008 đến 12-2012 (trên blog.com)

14) Hoàng Hữu Phước Và Emotino 2:  Blog tương hổ (trên wordpress.com) đăng cùng bài với blog Emotino 1

15) Hoàng Hữu Phước Và Emotino 3:  Blog tương hổ (trên sosblogs.com) đăng cùng bài với blog Emotino 1

Tuyệt Thực

Trò Hề Cộng Hòa

Hoang Huu Phuoc, MIB

Nhận thấy thời Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ tính đến 2015 mới có 4 phần 5 của 1 phần 2 thế kỷ kể từ 30-4-1975 mà thiên hạ do lúc bị Mỹ Thiệu hù đã bỏ chạy tán loạn khỏi Việt Nam vất bỏ sạch sành sanh ngay cả các ký ức mang tính chân lý lịch sử khách quan, tôi đành phải trở thành người Việt Nam duy nhất trên chiếc tinh cầu còn nhớ và ghi lại cái chân lý lịch sử khách quan của nào là việc zero đảng thời Việt Nam Cộng Hòa (trong bài Việt Nam Cộng Hòa Có Đa Đảng Không? Mỹ Có Đa Đảng Không? ), nào là việc cái gọi là “Đảng Dân Chủ” của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (trong bài Luận Về Đa Đảng), và nào là việc dấu gạch nối trong tiếng Việt của Việt Nam Cộng Hòa (trong bài Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Ít Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến). Nay thấy ở nước ngoài có đám dị nhân (mang quốc tịch ngoại nhưng đột biến yêu nước Việt chứ không yêu nước quốc tịch) tuyệt thực trước Tổng Lãnh Sự Quán Việt Nam (vì không đủ tiền mua vé máy bay đến Tòa Đại Sứ Việt Nam ở thủ đô nước họ) để vừa phản đối chính phủ Việt Nam, vừa tỏ tình ủng hộ một gã nào đó tên Cù Huy Hà Vũ được cho là đang tuyệt thực ở Việt Nam (rất có thể trùng tên với gã trong bài viết “Tôi Và Cu Huy Ha Vu” của tôi trên emotino), tôi buộc phải làm người Việt Nam duy nhất trên địa cầu viết thêm bài này về một cái chân lý lịch sử khách quan khác, đó là tuyệt thực của thế giới và của Việt Nam Cộng Hòa.

Cái gọi là tuyệt thực của nhân loại thì mọi người có thể tìm kiếm thông tin đủ đầy trên internet (bằng tiếng Anh, vì đừng bao giờ tin những thông tin bằng tiếng Việt trên Wikipedia nếu chúng có nội dung xúc xiểm Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), để biết khởi thủy của nó là hành vi của con nợ thực hiện trước nhà chủ nợ debtor thời trung cổ (có thể đã xuất hiện từ 400 đến 750 năm trước Công Nguyên, và luật pháp Ấn Độ cấm vào năm 1861), để biết danh tính của các bậc vĩ nhân thời cận đại (như Mohandas Gandhi) và hiền nhân quân tử nào đã hy sinh qua tuyệt thực (đã tuyệt thực thì phải chết, như Jatin Das, Thomas Ashe, Terence MacSwiney, Joe Murphy, Michael Fitzgerald, hay Bobby Sands), và để biết rằng tất cả những cuộc tuyệt thực lừng danh kim cổ ấy đều để phục vụ cho một mục tiêu cao cả: chống giặc ngoại xâm. Tuyệt thực còn là hành động quyết liệt của tập thể rất đông người bị chà đạp tàn bạo bởi chính sách đàn áp hà khắc phi nhân của Mỹ và Anh mà thế giới sử đã phải ghi nhận. Tương tự như “tự thiêu”, tuyệt thực là hành động chỉ được thể hiện bởi một cá nhân dành cho chính phủ của nước mình, như khi Norman Morrison, công dân Mỹ, đã tự thiêu ngày 02-11-1965 trước văn phòng Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Robert McNamara tại Ngũ Giác Đài để phản đối Chính phủ Mỹ gây chiến ở Việt Nam và có những tội ác tày đình gây ra cho trẻ thơ Việt Nam.

Song, khi vào đến Việt Nam thì tuyệt thực đã được Việt Nam Hóa (vietnamization) nên hễ người Việt Nam hoặc người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch nào mà tuyệt thực thì tất cả chỉ là nhịn ăn vài buổi (không phải vài ngày, vài tuần, vài tháng) do không ai muốn ghi tên mình tiếp vào danh sách các vị hy sinh, cũng không vì mục đích “chống ngoại xâm”, cũng không có mục đích lạy lục van xin hoặc làm lùm xùm vụ việc nợ nần nhắm khiến chủ nợ đừng áp dụng mức lãi suất “khủng”, và cũng chẳng ở dạng “tập thể rất đông người cùng bị chà đạp tàn bạo bởi chính sách đàn áp hà khắc phi nhân của chính quyền mà thế giới sử đã phải ghi nhận”. Việt Nam không bị thế giới sử ghi nhận lần nào là đã có chà đạp tàn bạo cái bọn người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch tuyệt thực chống Việt Nam để ủng hộ một công dân phạm pháp ở Việt Nam. Việt Nam không xâm lăng cái đất nước của cái bọn người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch tuyệt thực chống Việt Nam để ủng hộ một công dân phạm pháp ở Việt Nam. Việt Nam không cho cá nhân hay tập thể các cá nhân người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch tuyệt thực chống Việt Nam để ủng hộ một công dân phạm pháp ở Việt Nam nào vay tiền với mức ăn lời “khủng” để chúng phải quỳ mè nheo lạy lục trước Tổng Lãnh Sự Quán hay Đại Sứ Quán Việt Nam bên nước chúng. Việt Nam không xâm lăng cái đất nước của cái bọn người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch tuyệt thực chống Việt Nam để ủng hộ một công dân phạm pháp ở Việt Nam. Việt Nam không là chính phủ của cái bọn người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch tuyệt thực chống Việt Nam để ủng hộ một công dân phạm pháp ở Việt Nam. Thế nên, nhất thiết cần lột cái mặt nạ “tuyệt thực” của cái bọn người-ngoại-quốc-yêu-nước-Việt-Nam-hơn-yêu-nước-quốc-tịch tuyệt thực chống Việt Nam để ủng hộ một công dân phạm pháp ở Việt Nam. 

Do nhỡ là người Việt Nam duy nhất trên hành tinh còn nhớ về các chân lý lịch sử khách quan thời Việt Nam Cộng Hòa, tôi xin nêu thêm một sự thật mà không ai còn nhớ: đó là vào thời VAA tức Hội Việt Mỹ mở trung tâm Anh ngữ (tại nơi ngày nay là trụ sở của Mặt Trân Tổ Quốc Thành Phố Hồ Chí Minh trên đường Mạc Đĩnh Chi, Quận 1) với thư viện Abraham Lincoln cực kỳ phong phú, thì một cơ sở khác cũng được mở ra để cạnh tranh với VAA trong việc dạy tiếng Anh – đó là Hội Liên Trường tức United Schools Association, hoạt động trong khuôn viên Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. Do Chị Hai và em trai của tôi là học viên các lớp ban ngày của Hội Việt Mỹ, trong khi tôi đề cao tự học và khinh khỉnh Hội Việt Mỹ xem nó chả ra chi, nên khi thấy Hội Liên Trường mở các lớp đêm năm 1971, tôi mới ghi danh học, viện lý do đi bộ từ nhà ở Nguyễn Thiện Thuật (Quận 3) qua Đại Học Sư Phạm gần hơn. Cô giáo dạy luyện nói tiếng Anh cho lớp tôi là Lý Kim Hà. Cô Lý Kim Hà dáng người thấp, đầy đặn, rất xinh đẹp, sang trọng và quý phái. Cô là em của dân biểu Lý Quý Chung, người thuộc nhóm “dân biểu đối lập” chuyên chống đối Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Chồng của Cô là một kỹ sư dầu khí, làm việc tại giàn khoan Trái Dừa Số 9 (Coconut Number Nine) của Mỹ ngoài khơi Vũng Tàu. Là học sinh ngoan giỏi, tôi luôn làm trưởng lớp và được các thầy cô có đức hạnh yêu thương, nên Cô Lý Kim Hà không là ngoại lệ. Cô thường bảo tôi đến nhà Cô chơi ngày Chủ Nhật. Nhà Cô trong một hẻm rộng trên đường Nguyễn Trãi, Quận 5. Cô có giới thiệu một cô em gái của Cô nhỏ hơn tôi hai tuổi, nhưng tôi đã không thân với cô bé sau khi biết cô bé không chịu ăn các món nào có cá. Có lần tôi đến, Cô Lý Kim Hà đang làm bếp, cười dí dỏm má lúm đồng tiền nói rằng hôm đó Cô rất mệt vì phải nấu nhiều cơm làm nhiều bánh vì ông anh quý hóa của Cô tức Dân biểu Lý Quý Chung hôm ấy … tuyệt thực chống chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, mà mỗi lần ông anh tuyệt thực thì cô em lại phải nấu ăn nhiều hơn để ban đêm cho người đem ra hiện trường cho ông anh cùng đồng sự đánh chén tẩm bổ no say để có sức mà ngày mai…tuyệt thực tiếp. Tuyệt thực do đó đã bị các dân biểu Việt Nam Cộng Hòa biến thành ăn cơm trên mức thịnh soạn vào giờ ngủ. Thực tế đời sống cho thấy người ta luôn ăn dữ dội như hạm sau khi nhịn đói vài giờ đồng hồ. (Sau này, khi tôi đã là giảng viên Anh Văn trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, tôi có mời Cô Lý Kim Hà đến dự lễ cưới của tôi với một cô giáo đồng nghiệp năm 1987. Đến giờ Cô Lý Kim Hà cũng không biết rằng Cô luôn là người phụ nữ đẹp nhất trên đời trong tâm khảm của tôi).

Nói tóm lại, các “chính trị gia” của Việt Nam Cộng Hòa đã bỡn cợt với “tuyệt thực”, tầm thường hóa “tuyệt thực”, hề hóa “tuyệt thực”. Và khi các chính trị gia này cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng khỏi Việt Nam, một vài người trong số họ bỏ lại tất tần tật trừ những thứ đã ăn sâu vào từng tế bào của họ: đó là chống cộng điên cuồng vô lý, nói phét vu vạ chửi tục, và trò tuyệt thực cớt nhả. Đó là lý do có một vài người nước ngoài nghe đâu đã “tuyệt thực” vì một gã ở Việt Nam.

Họ là người nước ngoài vì không có quốc tịch Việt Nam.

Họ là người nước ngoài vì không hiểu ý nghĩa của từ “tuyệt thực” trong tiếng Việt Nam, vì “tuyệt thực” là “dứt khoát bỏ ăn uống” chứ không phải là “nhịn ăn vài giờ” hoặc “sẽ ăn thật nhiều lúc không ai nhìn thấy”.

Họ là người nước ngoài vì không hiểu cách sử dụng “tuyệt thực”, vì họ chỉ nên “tuyệt thực” khi quyền lợi trực tiếp của bản thân họ bị xâm hại.

Họ là người nước ngoài vì không hiểu cách sử dụng “tuyệt thực”, vì họ chỉ nên “tuyệt thực” khi họ muốn chống chính phủ của họ đã xâm hại đến quyền lợi cá nhân của họ, chứ hoàn toàn vô duyên vô lý vô đạo và vô học khi “tuyệt thực” để chống chính phủ Việt Nam.

Họ là người nước ngoài nên không hiểu cách sử dụng “tuyệt thực”, vì không hề được gọi là  “tuyệt thực” nếu đó là do kẻ tâm thần tiến hành khi đòi cưới con gái nhà lành của ai đó mà bị đuổi xua, hoặc của kẻ chưa trưởng thành (mà tiếng Anh hàn lâm nhục mạ nặng nề gọi là “unfinished” còn tiếng Anh phổ thông phổ biến phổ quát gọi là “immature”) nhõng nhẽo vòi vĩnh xin xỏ gì đó mà không được với mẹ cha.

Hỡi người dân nước Việt có quan tâm đến ngữ nguyên học và từ nguyên học, xin đừng để bọn ngoại nhân làm trò hề với từ ngữ “tuyệt thực” của tiếng Việt của chúng ta. Khi hay tin có kẻ nước ngoài (tất nhiên là kẻ nước ngoài gốc Việt) tuyệt thực chống Việt Nam, xin hãy nghĩ ngay đến việc bọn chúng có thể là con nợ của Việt Nam, bản thân bọn chúng đã bị Việt Nam chà đạp dưới chân như rác, hoặc bản thân chúng bị tâm thần hay chưa trưởng thành.

Hỡi người dân nước Việt công chính, hãy luôn nhớ rằng tất cả và bất kỳ kẻ nào ở hải ngoại xúc phạm đến Việt Nam đều là bọn thất học vô lại. (Là người dân nước Việt công chính, bạn đều biết nội dung luật pháp Việt Nam, các cơ chế phản ảnh ý nguyện người dân, luôn đặt sự an nguy của tổ quốc là trên hết, và luôn biết rằng kẻ thù của dân tộc Việt Nam là tập thể cộng sinh của bọn bá quyền Trung Quốc với bọn ở hải ngoại luôn nheo nhéo chống phá Việt Nam). Trên thế gian này chỉ đang tồn tại duy chỉ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Bất kỳ người nước ngoài nào “tuyệt thực” (hay “tự thiêu”) trước cơ quan chính phủ của họ để phản đối chính phủ của họ gây hại cho Việt Nam thì đó là những vị hiền nhân quân tử. Còn bọn tiến hành “tuyệt thực” (không dám “tự thiêu”) trước các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở hải ngoại để chống chính phủ Việt Nam thì đích thị là bọn thất phu thất học vô lý vô hạnh vô duyên vô đạo vô tổ quốc (vô tổ quốc vì quốc tịch Mỹ mà không lo phụng sự nước Mỹ mà chỉ lo vu vạ Việt Nam vi phạm nhân quyền và chỉ lo kiếm danh sách bọn vi phạm pháp luật Việt Nam bị xộ khám ở Việt Nam để tôn vinh làm anh hùng, làm “tù nhân lương tâm”, rồi ngồi trên hộp bánh mì kẹp thịt xúc xích giăm bông với vài lon Diet Coke trước cơ quan ngoại giao Việt Nam để tiến hành cái chuyện “tuyệt thực” ruồi bu).

Mọi thắc mắc về ngữ nguyên, từ nguyên, và sự thật về những vấn đề lịch sử Việt Nam Cộng Hòa chẳng mấy ai biết đến hay còn nhớ, xin gởi thư qua bưu điện về địa chỉ: Hoàng Hữu Phước, Đoàn ĐBQH TP HCM, 2bis Lê Duẩn, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Truyền thông “Vịt trời” của những nhà báo tự phong hải ngoại

Bài viết của Amari TX (Việt kiều Mỹ) trên Báo Công An Nhân Dân Online 18/06/2013

Có người tự nhận mình là “nhà báo” chống cộng ở hải ngoại, đã nói rằng: Đã là nhà báo hành nghề ở địa bàn, môi trường nào là phải viết hay, viết tốt về nơi đó. Tuyệt đối không đưa những thông tin “nhạy cảm”, “trái chiều” lên báo. Bù lại, anh sẽ nhận được sự đối đãi “tử tế” của các tổ chức chống cộng cực đoan (CCCĐ), các hội đoàn ma trơi, các đảng phái, mang hơi hướng chống cộng?!

Đó là một thực tế đã và đang tồn tại ở hải ngoại, đặc biệt ở xứ Bu (Mỹ) này. Tuy nhiên hiểu như vậy là chưa đúng, ý nghĩ đó chỉ dành cho những kẻ mạo danh “nhà báo”, “ký giả” mà chúng ta gọi chung là lũ “vịt trời” hành nghề cái được gọi là “nhà truyền thông”. Trong bài này chúng tôi không đi vào khía cạnh những ma mãnh của giới truyền thông cờ vàng CCCĐ. Ở đây chúng tôi đi vào nội dung nguyên nhân và tác động dẫn đến các món mà cờ vàng CCCĐ đã “xào nấu” đổi trắng thay đen như thế nào?

Xin thưa với các vị rằng: Nghề báo là một nghề đặc thù.

Đã dấn thân, anh bắt buộc phải chấp nhận đủ thứ rủi ro, nguy hiểm. Anh sẽ phải chấp nhận những tai ương, lạnh nhạt, lảng tránh, tính mạng. Chấp nhận cái nhìn thiếu thiện cảm hay thái độ bất hợp tác. “Nghề báo bạc lắm”. Nó không phải trò chơi của mấy ông thất nghiệp, chơi nổi, theo đóm ăn tàn mà mấy ông vỗ ngực xưng danh “Nhà báo” ở cái xứ Mỹ này.

Họ đâu có cần hội đủ các điều kiện sơ đẳng nhất để bước vào công cuộc “hành nghề”. Họ làm báo, rất đơn giản, chỉ cần thông thạo tiếng mẹ đẻ (viết sai chính tả cũng ok), độc giả sẽ tự luận ra hết; phải có thẻ hành nghề? Ồ, chuyện đó có quan trọng gì, ta tự cấp cho ta một cái “Cạc”, vậy là xong!

Nhiều vị là “nhà báo” cực đoan chống cộng ở xứ người không hiểu một chút gì về cái nghề này. Phương châm của người làm báo đích thực là “mắt sáng, lòng trong, bút sắc” thì anh phải viết đúng, viết khách quan, viết theo lẽ phải. Anh phải đấu tranh cho sự công bằng, đấu tranh đẩy lùi cái ác, cái xấu và những tiêu cực xã hội. Còn một căn bệnh phổ biến trong giới những ông “làm báo” này là họ làm theo cách của những kẻ chẳng hiểu, hay cố tình không hiểu công việc mình làm là cái gì? Các ông tự phong “nhà báo”, “ký giả”, vậy có hiểu làm báo là gì không? Ngắn gọn là làm báo là làm một liên kết xã hội, một sản phẩm báo chí, nó thông đạt một sự kiện vừa mới xảy ra tới với mọi người, nó thu hút sự quan tâm của nhiều người vào một điểm xác định. Vậy cơ sở nào để các anh “cờ vàng” viết báo có quyền mổ xẻ, cắt nghĩa, lý giải, đánh giá, nhận định sai lệch một sự kiện? Các anh chỉ lớn tiếng, cao giọng, chỉ trích hơn một chính kiến?

Sự thực là không phải vài ba cái tin, bài bới móc, vụn vặt, chạy theo tâm lý chống cộng theo đám đông, thỏa mãn tâm lý tò mò của nhóm người nào đó, sự cổ vũ của đám người cực đoan của vài ba trang mạng xã hội sặc mùi bài xích chế độ cầm quyền ở Việt Nam là anh đã oai lắm rồi, tự vỗ ngực xưng tên là nhà này, nhà nọ? Họ đã nhận mình là “nhà báo” dám “động chạm”, “bình loạn” vung trên truyền thông? Bởi vậy truyền thông ở hải ngoại giống như trời đất đảo điên, thực hư lẫn lộn, nhân tâm xáo trộn trong đống thông tin mịt mù trước những “bình loạn” mà các “nhà báo” cờ vàng đang làm.

Không ai buộc các vị phải viết theo cái lối ngược ngạo như vậy, mà đây là sự lợi dụng cái gọi là “tự do báo chí” để trục lợi về chính trị của “nhà báo” cờ vàng cực đoan mà thôi. Nếu các vị là nhà báo chân chính, tốt cho nơi mình đang đảm trách nhiệm vụ “truyền thông”, càng không có ai có thể cấm các vị viết những bài có tính chất “chống cái xấu”, “phản biện xã hội”, bảo vệ lẽ phải. Cái chính là các vị viết thế nào mới là điều đáng bàn. “Nhà báo” cờ vàng CCCĐ viết không phải bằng lập luận, không phải bằng điều tra, không phải bằng những chứng lý cụ thể, không viết bằng cái “tâm sáng” mà viết theo “cảm tính”, anh viết theo “đơn đặt hàng chống cộng”, viết theo ý kiến cá nhân, viết không khách quan, viết thiếu trung thực thì các vị đã đi ngược lại lịch sử, đi ngược lại tâm tư nguyện vọng của đa số người dân.

Chưa bao giờ như bây giờ, những “nhà báo” tự phong ở hải ngoại phát triển đông đến chóng mặt, “ra ngõ là gặp nhà báo”. Đa phần những “nhà báo” này là “tay ngang”. Có nghĩa là xuất phát điểm anh không hề “học” về báo chí, anh chưa hề làm báo. Ta thường nghe mấy vị này cao giọng tôi làm báo, đưa tin “khách quan” nghe vậy chắc nhiều người đồng tình về thái độ này, nhưng không phải vậy. Nếu không hiểu đúng nghĩa của từ “khách quan” rất dễ người ta xoá đi cái “tôi” của bản thân mình, nhưng các vị lại chuyển sang một cái “tôi” khác.

Không khó khăn gì để nhận diện đằng sau lời hô hào của các vị “nhà báo” này đó là kiểu làm báo với thái độ trốn tránh trách nhiệm, các vị sợ hãi những phản ứng của các thế lực CCCĐ khi các vị viết trung thực. Nếu viết đúng những gì ở bên Việt Nam thì gây ra sự bùng nổ, sự chống đối của các băng đảng CCCĐ, các vị làm gì có đủ dũng khí đối đầu. Nếu các vị có đủ can đảm có đủ nội lực để viết trung thực thì còn gì phải bàn cãi nữa? Nhưng đáng tiếc các “nhà báo” cờ vàng CCCĐ, hoặc thiếu một trong hai yếu tố này, hoặc thiếu cả hai. Chính vì thế mà việc đưa thông tin không chính xác, việc bình luận về thông tin theo kiểu “hóng hớt”, “nghe hơi nồi chõ” đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện” trong làng báo Việt ngữ ở hải ngoại.

Thực tế ở hải ngoại đa số người làm báo không hiểu nhiều về báo chí, có người đơn thuần chỉ là người cung cấp tin, có người viết lách với động cơ thiếu trong sáng, có người viết tin, bài… lấy nhuận bút kiếm sống, có người thậm chí không biết làm nghề gì nữa thì đi làm báo chơi.

Các vị “nhà báo” hải ngoại lúc nào cũng cao giọng tính “khách quan” của cơ quan truyền thông mà các vị đang nắm giữ, nhưng thực ra các vị không hiểu hết được nội hàm của nó thành ra nó dẫn đến những tình huống trớ trêu.

“Nghề báo là một nghề luôn được đánh giá cao ngay từ khi mới ra đời. Mục đích quan trọng nhất của nghề báo là cung cấp cho bạn đọc những thông tin thời sự chính xác và đáng tin cậy mà họ cần để có thể hành xử tốt nhất trong cuộc sống xã hội. Tuy nhiên, do môi trường kinh tế, môi trường dân tộc, môi trường chính trị… mỗi quốc gia khác nhau nên nghề báo mỗi nơi đều có những đặc thù riêng. Năm 1996, Tổ chức Các nhà báo chuyên nghiệp Mỹ đã loại bỏ khái niệm “khách quan” ra khỏi những nguyên tắc đạo đức của mình. Họ cho rằng nhà báo Mỹ là con người và đã là con người thì phải có những quan điểm cá nhân. Cho nên người làm báo càng phải cẩn trọng trong nghề để đưa ra những thông tin hữu ích cho dân tộc mình, quốc gia mình và cho nhân loại”.

Nói như vậy để thấy rằng, nguyên nhân dẫn đến tình trạng “cáo đội lốt sư tử” mang danh truyền thông mà không hiểu mình đang làm gì, từ hiểu sai, từ cố chấp, từ nhận thức. Và, cuối cùng là: vi phạm đạo đức nghề nghiệp nhà báo.

Cổ nhân từng nói “bể học mông mênh”, không ai có thể tự tin vỗ ngực rằng mình cái gì cũng biết.

Thời đại bùng nổ thông tin, thông tin lên ngôi. Nhưng, cũng vì vậy, có quá nhiều người tự xưng, giả danh “nhà báo” ở xứ cờ vàng chống cộng này để lừa đảo, xuyên tạc sự thật,… đủ mọi nhẽ. Hè nhau “truy hoan”, “tự sướng” trên sự xuyên tạc về những việc tiêu cực xảy ra ở Việt Nam sau khi chôm chỉa và cắt xén nội dung, ý nghĩa của mục đích bài viết. “Nhà báo” cờ vàng chống cộng là như vậy đó, họ sẽ bị đào thải!

Amari TX (Việt kiều Mỹ)

Phát biểu ứng khẩu của Hoàng Hữu Phước, Đại biểu TP Hồ Chí Minh, về Luật Biểu Tình

Trích lại nguyên văn từ

BẢN TỔNG HỢP THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG

(Ghi theo băng ghi âm)

Buổi sáng ngày 05/06/2013

Nội dung:

Thảo luận ở hội trường về Dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
năm 2014, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII
và năm 2013 của Quốc hội

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chủ trì điều khiển nội dung

(Đăng trên website của Quốc Hội: http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1396/C2094/C2237/default.asp?Newid=65227#0KQhUmOmWR1a )

*****

Kính thưa Quốc hội,

Tôi đồng tình với nội dung của nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013, nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014. Đồng thời, tôi ủng hộ toàn bộ nội dung về chính quyền đô thị mà đại biểu Trương Thị Ánh vừa mới phát biểu.

Tôi cũng xin nhân cơ hội này để tập trung nói về nội dung của Luật biểu tình. Ngay từ kỳ họp thứ 2, một số đại biểu đã nói về Luật biểu tình và trong đợt sinh hoạt chính trị này về góp ý cho dự thảo sửa đổi Hiến pháp một số đại biểu đã nhắc lại về nội dung luật biểu tình. Trong một đất nước dân chủ, tự do, hiện đại, cần có những đạo luật để điều chỉnh những sinh hoạt dân chủ tự do của người dân. Do đó Luật biểu tình là không thể không có.

Tuy nhiên, tôi rất đồng tình với giải trình của Thường vụ Quốc hội khi nói rằng các dự án trong đó có Luật biểu tình đã có trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ khóa XIII, cho nên theo thứ tự ưu tiên không có lý do gì để có sự nôn nóng, để đưa ra những yêu cầu nói về Luật biểu tình.

Khi chúng ta xây dựng Luật biểu tình đòi hỏi rất nhiều những công phu. Bởi vì biểu tình của tiếng Việt nó không có dính dáng, không có giống như từ của nước ngoài. Nói một cách khác, nếu như tham chiếu luật pháp của các nước, chẳng hạn như nước Úc, thì người ta có một luật gọi là luật thuộc về tụ tập bất hợp pháp đã có từ năm 1958, được sử dụng như là một công cụ để chính phủ có thể ngăn chặn những hành động có liên quan tới chính trị gây ra bất ổn. Trong một số tội có liên quan đến “biểu tình” nêu 9 tội, trong đó có 4 nội dung như: xâm phạm vào vùng cấm, có hành vi không thích hợp, gây hấn. Thí dụ như bạo loạn hay phá hoại tài sản v.v… Những điều còn lại cho vào nội dung thứ 10. Trong đó có trộm, cắp, tấn công kể cả về biểu tình xâm hại đến các sinh thực vật của các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn rừng. Nếu chúng ta nói xây dựng luật dựa trên cơ sở thực tế và dựa trên những cơ sở hiện đại. Tôi thấy nước Nga năm 2012 khi tổng thống Vladimir Putin ban hành một luật, mỉa mai là “luật chống biểu tình”, tháng 10-2012 đến phiên tổng thống Barack Obama ký ban hành luật HR347 mà giới báo chí cũng nói đây là “luật chống biểu tình”. Như vậy sự cẩn trọng đã được đặt ra ở những cường quốc có từ năm 1958 đến nay. Sự cẩn trọng như vậy chúng ta cũng có thể rút kinh nghiệm. Đồng thời khi nói về thời hiện đại và nếu nói về ý nghĩa của chữ “biểu tình” trong từ điển Việt Nam trong môi trường Việt Nam, cho văn hóa Việt Nam thì thời hiện đại của chúng ta còn có nghĩa là người dân đã có những góp ý qua email, qua thư tín và qua buổi tiếp xúc với đại biểu Quốc hội với các chức sắc cao cấp của địa phương v.v… từ trung ương đến địa phương.

Như vậy tất cả những cái chúng ta lồng trong ý nghĩa của biểu tình chỉ còn thiếu còn một chi tiết đó là tụ tập đông người, căng biểu ngữ, ngoài ra tất cả đều đã được thể hiện một cách văn minh, hiện đại. Khi chúng ta nói rằng đây là điều cấp bách phải nghĩ tới, phải đưa vào chương trình luật sớm thay vì đợi năm 2015, 2016, phải chăng chúng ta muốn nói lên một điều những buổi tiếp xúc cử tri, tiếp xúc nhân dân, lắng nghe ý kiến của người dân chúng ta đã không thực hiện một cách hiệu quả, đó là lý do tôi ủng hộ nội dung của nghị quyết. Ngoài ra, do có những dư luận, ý kiến cho rằng Luật biểu tình rất cần thiết. Tôi xin nêu một số vấn đề để mọi người quan tâm, đó là khi chúng ta ra Luật biểu tình nhất thiết phải sửa một số điều của Luật hình sự. Khi chúng ta ra Luật biểu tình phải đặt câu hỏi là đã hỏi ý kiến các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm y tế chưa. Chỉ khi nào làm việc với tất cả các cơ quan này và đưa những nội dung này vào nội dung của bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm y tế thì chúng ta mới yên tâm để có Luật biểu tình.

Thứ hai, sự gấp gáp đề nghị như vậy chúng ta đã tước đi quyền của người dân, vì người dân cần thời gian tham khảo, tham chiếu, nghiêm cứu, tìm hiểu thấu đáo, trao đổi, tranh luận về nội dung sự cần thiết của Luật biểu tình. Đó là chưa kể Luật biểu tình nếu muốn chúng ta có thể phải thông qua trưng cầu ý dân v.v… Hãy nghĩ tới một điều là chúng ta đã may mắn hơn nước Mỹ ở chỗ nước Mỹ đã cho tự do súng đạn trong Hiến pháp.

Điều quan trọng nhất tôi muốn nói đến là Việt Nam đã và đang tồn tại trên cơ sở của Hiến pháp năm 1992, trong đó Điều 3 có nội dung về thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện, tức là sự thái bình, thịnh trị mà tất cả các vị minh quân của tất cả các vương triều từ xưa ước mong xây dựng được cho nước Nam này. Vấn đề ở đây là trong nhiều chục năm qua các khóa Quốc hội có thực hiện được mục tiêu ấy vì tổ quốc, vì dân tộc, vì nhân dân chưa, nếu không thực hiện được đó là trọng tội.

Xin cảm ơn Quốc hội.

Hoàng Hữu Phước, Đại biểu Quốc hội, Đoàn Tp Hồ Chí Minh

Bài Phát Biểu của Hoàng Hữu Phước về Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992

Quốc hội Việt Nam đã dành ra hai ngày 03 và 04 tháng 6 năm 2013 cho nội dung góp ý đối với bản Dự thảo Sửa đổi Hiến Pháp năm 1992. Do rất nhiều đại biểu quốc hội đăng ký phát biểu, đã có từ 20 đến 30 đại biểu không thể được mời theo thứ tự đăng ký trước-sau. Sau đây là nguyên văn bài phát biểu của đại biểu Hoàng Hữu Phước được gởi đến lãnh đạo Quốc hội do không kịp thời gian phát biểu ở Hội trường. Kính mời cử tri và độc giả tham khảo.

***********

Kính thưa Quốc hội:

Tôi xin nêu vài ý kiến ở dạng khẳng định chính kiến với ít diễn giải.

Trước hết, những ý kiến của tôi về một số điều của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 như sau:

1) Tôi nhất trí với nội dung và các chi tiết đã được thể hiện trong Lời Nói Đầu. Đây là điểm đặc biệt độc đáo và tự hào của Việt Nam nhất thiết phải được nêu trong Hiến Pháp, vì sự rút ngắn gọn lại hoặc bỏ bớt đoạn này đoạn kia chẳng hạn như về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vinh danh chủ nghĩa Mác–Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội, hay về các ngày 2-9-1945 và 2-7-1976, sẽ khiến mất đi những nét đặc sắc của khúc dạo đầu.

2) Tôi cũng nhất trí với nội dung Điều 2.2.

3) Tôi đề nghị giữ nguyên Điều 4 về Đảng Cộng sản Việt Nam.Tại Điều 8.2: tôi đề nghị đổi nhóm từ “kiên quyết đấu tranh chống” thành “xóa bỏ triệt để” trước “nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền”  nhằm thay thế một khẩu hiệu duy ý chí bằng một khẳng định đòi hỏi hành động cụ thể và hiệu quả tại tất cả các cơ quan nhà nước cũng như nơi cán bộ, công chức, viên chức.

4) Ở Điều 10 về Công Đoàn Việt Nam, tôi chọn Phương án 2.

5) Tại Điều 11, tôi đề nghị thêm khoản số 3 rằng mọi hành động xâm lược của nước ngoài chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đều bị trừng trị. Lý do: khoản số 2 của Điều này dùng từ “Tổ Quốc” nên mang nội dung dành cho người Việt Nam. Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh. Hiến pháp nên có thêm nội dung rằng khi có chiến tranh nước khác xâm lược Việt Nam, Việt Nam sẽ đánh trả và truy đuổi, và tất cả những phần lãnh thổ của tàn quân tháo chạy sẽ trở thành cương thổ vĩnh viễn của Việt Nam. Chúng ta không bắt chước tiền nhân Lý Thường Kiệt ở ba điều là (1) không đánh phủ đầu kiểu Phạt Tống Lộ Bố Văn, (2) không đưa quân vào nước khác gây chiến, và (3) không rút quân trả đất sau khi truy đuổi thành công. Việc nêu rõ ràng này là để giúp kẻ thù của Việt Nam cân nhắc việc có nên gây hấn với Việt Nam hay không.

6) Điều 18.2 về “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác”. Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh. Hiến pháp nên có nội dung rằng khi có chiến tranh nước khác xâm lược Việt Nam, Việt Nam sẽ đánh trả và truy đuổi, và không bất kỳ quân nhân nào của Việt Nam bị giao nộp cho bất kỳ tòa án diệt chủng hay tòa án tội ác chiến tranh nào đối với những việc họ thực hiện khi truy đuổi quân thù ra ngoài biên giới Việt Nam.

7) Tại Điều 22: do được cắt ghép từ các đoạn khác nhau nên xảy ra tình trạng mà văn phạm gọi là “không song hành” hoặc “sai cấp”, như trong “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” thì các động từ “tra tấn” và “truy bức” không thể song hành đồng cấp với “bạo lực” và “nhục hình” vốn là những danh từ. Đoạn này nên được viết lại thành “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể; được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; và không bị tra tấn, truy bức,hoặc sử dụng bạo lực và nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử khác xâm phạm thân thể, xúc phạm danh dự, nhân phẩm” với dấu phẩy sau từ “thân thể” đổi thành dấu chấm phẩy, và thêm từ “và” trước cụm từ “không bị tra tấn”.

8 ) Với Điều 54, tôi chọn Phương án 3.

9) Tại Điều 70: tôi nhất trí với nội dung Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Riêng nhóm từ thực hiện nghĩa vụ quốc tế do trước đây thường mang ý nghĩa của cộng đồng các nước anh em xã hội chủ nghĩa nên tôi đề nghị xem xét đổi thành: tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam chọn lựa.

10) Tại Điều 71 và 72  đề nghị bỏ từ “từng bước” vì dù là “từng bước” hay “nhảy vọt” hoặc “đại nhảy vọt” đều không thực tế.

11) Điều 73:  đề nghị thêm “đầy đủ và hiện đại” sau từ “trang bị” trong “trang bị đầy đủ và hiện đại cho lực lượng vũ trang”.

12) Điều 120:  Xin chọn Phương án 1:  Không tổ chức Hội đồng Hiến pháp

13) Bỏ Điều 121: Không tổ chức Hội đồng Bầu cử Quốc gia

14) Về Điều 124.4:  Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định: tôi không cho đây là việc bắt buộc hay tiên quyết vì hiện chưa có Luật Trưng cầu Ý dân, vì nhân dân đã tham gia góp ý, vì đại biểu quốc hội đại diện cử tri, và vì không phải trưng cầu dân ý mang ý nghĩa tối thượng. Không cần có một hội nghị tương tự như Diên Hồng của Nhà Trần, Nhà Lý của trước đó những 209 năm đã đem quân chinh phạt đánh Tống thành công vĩ đại khi chiếm Khâm Châu, bức hạ Liêm Châu, san thành bình địa Ung Châu, triệt hạ Bạch Châu, đánh bại Tân Châu.

Và cuối cùng song lại là điều quan trọng nhất mà tôi muốn nói đến là Việt Nam đã và đang tồn tại trên cơ sở của Hiến Pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, trong đó Điều 3 có nội dung về “thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện” tức là về sự thái bình thịnh trị mà tất cả các vị minh quân của tất cả các vương triều từ xưa đều ước mong xây dựng được cho nước Nam này. Vấn đề ở đây là trong rất nhiều chục năm qua các khóa quốc hội có đã làm được những gì để thực hiện mục tiêu ấy vì tổ quốc, vì dân tộc, vì nhân dân. Không thực hiện được, đó mới có thể bị xem là trọng tội. Ấy vậy mà ngay trong Quốc hội Khóa XIII này lại có vị đại biểu tuyên bố sẽ nhanh chóng viết dự thảo Luật Biểu Tình với lý do đó là món nợ của Quốc hội với nhân dân trong khi còn biết bao bộ luật cấp thiết hơn phục vụ cho việc tái cơ cấu phát triển nền kinh tế và an sinh xã hội nước nhà, cứ như thể chỉ có Luật Biểu Tình mới có dân chủ tự do đích thực, mới được các thế lực thù địch ban ơn ngưng ngay việc chống phá Việt Nam. Bất cứ món nợ nào cũng vừa phải hoàn trả vừa có thể khất trước chủ nợ có thiện tâm và có hiểu biết, trong khi không có trọng tội nào với tổ quốc và dân tộc lại có thể được tha thứ hay được phép dần dà du di; chưa kể còn nghi vấn chưa chắc đó có thật là món nợ hay không, có được cường điệu hóa lên để tăng thêm phần kịch tính. Việc đề ra dự án luật là việc đương nhiên và thường xuyên của đại biểu quốc hội bất kể nghề nghiệp chuyên môn của đại biểu chứ không là biệt tài của riêng ai, trong khi tài kinh bang tế thế giúp đảng giúp chính phủ giúp nước giúp dân có được một thủa thịnh trị thái bình mới là tài năng đích thực của bậc hiền tài đất nước luôn cần đến. Mục tiêu ấy đã phủ bụi thời gian hơn 20 năm từ Hiến Pháp 1992, và ý nghĩa trọng đại nay không phải là vì mỗi người trong chúng ta được tham gia vào đại cuộc sửa đổi Hiến Pháp 1992, mà vì chúng ta có dịp để thảng thốt nhận ra trọng tội để nhận lấy trách nhiệm giải quyết những tồn đọng của rào cản, trì trệ, tiêu cực, suy thoái, nhắm đến vực dậy nền kinh tế, để khi chuyển giao cho Quốc hội Khóa XIV chúng ta có được sự tự hào rằng chúng ta đã tạo ra được những nấc thang đầu dẫn đến thái bình thịnh trị có thật chứ không phải là tạo ra thứ trả cho nợ ảo để phủ che tội thật còn nguyên.

Xin cảm ơn nhân dân đã lắng nghe.

Xin cảm ơn Quốc hội đã lắng nghe.

Hoàng Hữu Phước

Đại Biểu Quốc Hội

Đoàn Tp HCM

Giới Thiệu Blog Mới

Hoang Huu Phuoc, MIB

Do thời gian gần đây Blog.com, tổ hợp hàng đầu trong 10 hệ thống blog miễn phí danh tiếng nhất, có tình trạng quá tải khiến sự truy cập của của các blogger trở nên khó khăn, kéo dài trong nhiều ngày, dấy lên sự quan ngại tại nhiều nước trên thế giới.

Tôi đã tập hợp chọn lọc các bài viết của tôi (trước đây chỉ tập trung đăng trên Yahoo! 360, sau đó dời về Emotino sau khi Yahoo!360 đóng cửa, và chỉ viết cho Emotino bất kể có nhiều web khác gởi email mời cộng tác viết bài) và lập các blog sau trên nền tiện ích của Blog.com:

1 ) http://hhphuoc.blog.com : Đại Biểu Quốc Hội Hoàng Hữu Phước

2 ) http://antichina.blog.com : Hoàng Hữu Phước Và Tình Cảm Dành Cho Trung Quốc

3 ) http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com : Hoàng Hữu Phước Vì Việt Nam

4 ) http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com : Hoàng Hữu Phước Và Các Tham Luận Hội Nghị

5 ) http://hoanghuuphuocteachers.blog.com : Hoàng Hữu Phước Và Các Thầy Cô Kính Yêu

Đồng thời, đang lập tiếp các blogs có các nội dung tập trung khác cũng thông qua Blog.com mà một số trong những nội dung này gồm:

1 ) Hoàng Hữu Phước Và Tư Tưởng Chính Trị

2 ) Hoàng Hữu Phước Và Những Sáng Tác Văn Thơ Tiếng Anh Và Tiếng Việt

3 ) Hoàng Hữu Phước Và Thế Giới Kinh Doanh

4 ) Hoàng Hữu Phước Và Cách Học Giỏi Xuất Sắc Tiếng Anh

5) Hoàng Hữu Phước Và Những Ghi Nhận Về Việt Nam Cộng Hòa

Song, do có cùng sự quan ngại như vậy đối với Blog.com, tôi một mặt tiếp tục chương trình mở đủ 10 blogs cho 10 nội dung nêu trên tại Blog.com, mặt khác xây dựng thêm blog “song trùng” qua các tiện nghi của Worldpress.comSosblogs.com những blog sau:

1) http://hoanghuuphuocvietnam.wordpress.com

2) http://hoanghuuphuoc.sosblogs.com

Từ nay, mỗi khi một bài mới được đăng trên một trong các blogs của tôi trên Blog.com, bài viết ấy cũng sẽ được đăng trên Worldpress và Sosblogs. Khi việc truy cập vào Blog.com có khó khăn, quý độc giả có thể vào một trong 2 blogs “dự phòng” này để việc tìm đọc các bài viết mới được thuận tiện và liên tục.

Ngoài ra, toàn bộ những blog chuyên đề lập với Blog.coms như đã nêu ở trên cũng sẽ được chép lại vào những blog mới mà tôi sẽ lập tiếp qua các phương tiện khác của 10 blog chủ lớn nhất thế giới, để những sự cố do kỹ thuật hay đạo tặc gây ra đều không ngăn được sự quan tâm tìm đọc của độc giả của các blogs này.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Việt Nam Cộng Hòa Có “Đa Đảng” Không? Mỹ Có “Đa Đảng” Không?

Hoang Huu Phuoc, MIB

Dẫn Nhập:

Câu trả lời duy nhất đúng mà bất kỳ ai đã thực sự là dân Việt Nam Cộng Hòa có thực sự quan tâm đến chính trị và thời cuộc của Việt Nam Cộng Hòa, và đang còn ký ức đầy đủ về cái gọi là thời cuộc ấy của Việt Nam Cộng Hòa, và … biết tiếng Anh,  đều có thể cho ra ở thể khẳng định là: Việt Nam Cộng Hòa chưa từng đa đảng và Mỹ không đa đảng. Trước khi nói Việt Nam Cộng Hòa khác với Mỹ chỗ nào dù cả hai không đa đảng, cần làm rõ nội dung rằng “đảng” được bàn luận ở đây phải là “đảng chính trị”“đảng chính trị” này phải là “đảng cầm quyền”.  “Đảng chính trị” không phải là băng đảng của một nhóm người được lập nên dựa theo luật pháp hào phóng và ưa chuộng hư danh của một quốc gia nào đó (thí dụ như nước Nga sau thời Liên Xô đã xuất hiện những “đảng” như “Đảng Bia” của những người khoái uống bia), hoặc như ở Việt Nam thời Pháp thuộc có những tên Việt gian cũng mở ra những “đảng” để thờ phượng giặc xâm lăng, phá hoại tầm thế của các nhà chí sĩ cách mạng, tung hỏa mù giúp quân xâm lược phá tư tưởng cộng sản để rồi bị “đảng” cộng sản đánh cho tan tác phải bỏ chạy vào Sài Gòn mở “văn phòng” ngồi sờ cằm hoài cổ mà ngay các vị “tổng thống” Việt Nam Cộng Hòa còn phải bỉu môi khinh bỉ, không thèm gia nhập, và không cho nhúc nhích cục cựa gì về “hoạt động chính trị” để “độc quyền chính trị”, không cho ai cạnh tranh làm tôi mọi Mỹ. Còn “đảng cầm quyền” là yếu tố bắt buộc để chứng minh đó là một “đảng chính trị” thực sự. Không có quân đội, chẳng phải là đảng cầm quyền thì có khác gì những hình nộm múa may trên hý trường chính trị mà phải tốn hao giấy mực viết về! Tóm lại, “đảng” ở đây là đảng chính trị cầm quyền, với điều thú vị là gần đây Việt Nam đã tung ra những từ ngữ học thuật hàn lâm dạy dỗ thế giới về “nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như một phát kiến quan trọng về sự tước khỏi tay sở hữu độc quyền của chủ nghĩa tư bản về cái gọi là kinh tế thị trường cũng như nêu bật tính hiện hữu không bất biến của kinh tế thị trường ở mọi nơi, và “đảng cầm quyền” như một phát kiến quan trọng thứ hai nhằm giúp các nước tư bản nhận ra chân lý rằng nhiều đảng không phải là đa đảng, và không phải cứ “đảng” thì là … “đảng”.

Việt Nam Cộng Hòa:

Việt Nam Cộng Hòa chưa hề có đa đảng. Không bất kỳ ai trên thế gian này thuộc bất kỳ quốc tịch nào có thể cho biết – và tất nhiên trưng ra các bằng chứng lịch sử có thư tịch hẳn hoi tại các thư viện quốc gia của các siêu cường – rằng các ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu (tất nhiên cùng các thân bằng quyến thuộc và bè phái của các ông ấy) là “đảng viên” của bất kỳ một đảng chính trị – tức “chính đảng” – nào. Nghĩa là các vị này trở thành “tổng thống Việt Nam Cộng Hòa” một cách phi chính thống, bất bài bản, và vô hàn lâm, vì “làm tổng thống chính trị” mà trước đó không hề sinh hoạt chính trị trong bất kỳ một chính đảng nào, có bất kỳ cương lĩnh chính trịđường lối hoạt động kách mệnh hẳn hoi nào, có bất kỳ đảng viên hẳn hoi nào, có đóng bất kỳ đảng phí hẳn hoi nào, có ban chấp hành hẳn hoi nào, có bầu bán hẳn hoi nào, và có giới thiệu ứng cử viên nào thay mặt đảng ra tranh cử tổng thống. Cả hai “ông” đều do Mỹ dúi súng vào tay rồi đẩy lên, và do đó cả hai ông – trên lý thuyết – xem như đều không biết gì về “chính trị”, về “chủ nghĩa”, về “lý tưởng cách mệnh”, mà chỉ biết mồm loa mép dãi bù lu bù loa mãi miết về những nội dung hoang đường như “thế giới tự do”, “cộng sản khát máu”, v.v. và v.v., mà các ông không hề hiểu biết, để khỏi phải nói về triết thuyết học thuyết chính trị mà các ông mù tịt. Cũng do Mỹ nhào nặn ra, cả hai ông đều biết sự lợi hại của cái gọi là “đảng” ở Mỹ và ở Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Do không thể hạ mình gia nhập “đảng” của người khác (tức “đảng” của những kẻ bầy nhóm cá nhân lập ra thời Pháp thuộc để chống…Việt Minh và tự gọi mình là “đảng” mà người dân Việt Nam Cộng Hòa gọi là của đám “chính khách xôi thịt” còn hai ông lúc nắm giữ quân đội đều ra sức trấn triệt), Ngô Đình Diệm manh nha lập ra Đảng Cần Lao (do đã thấy sức mạnh ghê gớm của tầng lớp công nhân mà Cộng Sản thu hút đánh bại thực dân Pháp trong khi giới “nhân sĩ” trí thức quan trường như các cụ tiền bối của Cụ Diệm thì khinh thường), mà đã là Đảng thì phải có lý luận chính trị, có chủ nghĩa hẳn hoi, nên Ngô Đình Diệm vận dụng ngàn thành công lực để cho ra cái gọi là Chủ Nghĩa Cần Lao Nhân Vị (ắt với dụng ý là “chủ nghĩa cộng sản” bóc lột nhân dân lao động, còn “chủ nghĩa cần lao nhân vị” sẽ cưng nhân dân lao động như trứng mỏng, lập lờ từ ngữ “nhân vị” với chữ “nhân” như “nhân quyền”, “nhân nghĩa”, “nhân đạo”, “nhân văn”, hay… “nhân dân” chăng?).  Và cũng do không thể hạ mình gia nhập đảng của người khác (tức đảng của những kẻ bầy nhóm cá nhân lập ra thời Pháp thuộc để chống…Việt Minh và tự gọi mình là đảng mà dân chúng Việt Nam Cộng Hòa gọi là của đám “chính khách xôi thịt” mà cả hai ông khi nắm giữ quân đội đều ra sức trấn triệt, hay cái đảng kỳ quái “cần lao nhân vị” của vị tổng thống mà nhóm mình đã giết tại Nhà Thờ Cha Tam), Nguyễn Văn Thiệu đã lập ra Đảng Dân Chủ năm 1973 với đảng kỳ Cờ Vàng Sao Đỏ, với Đảng Trưởng là Nguyễn Văn Thiệu, nhưng rút kinh nghiệm trò hề của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu không hề cố gắng đẻ ra bất kỳ học thuyết chủ nghĩa chính trị nào cho hậu thế cười chê, và cũng chẳng cần o bế bất kỳ giai cấp nào, chỉ cần nắm quân đội trong tay, không cần đảng viên (do rất nhiều tướng lĩnh hoặc theo phe tướng Nguyễn Cao Kỳ hoặc do sợ mếch lòng tướng này, hoặc theo tướng Dương Văn Minh do muốn có cơ hội “lấy điểm” với cộng sản sau này do Dương Văn Minh có thân nhân ruột thịt làm cán bộ cao cấp của cộng sản), Nguyễn Văn Thiệu lấy hạ sách sử dụng Cục Tâm Lý Chiến của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị để bôi nhọ Bắc Việt, bôi nhọ chế độ cộng sản, bôi nhọ cá nhân Hồ Chí Minh, như cách rẻ tiền nhất và hữu hiệu để làm dân chúng khiếp sợ mà chạy về phía mình, khỏi tốn công lý luận chính trị.

Việc Ngô Đình Diệm – và chế độ Việt Nam Cộng Hòa của Diệm – đẻ ra cái chủ nghĩa quái gở “cần lao nhân vị” và lập Đảng Cần Lao sau khi làm tổng thống, cộng với việc Nguyễn Văn Thiệu dốc hết hơi tàn lập Đảng Dân Chủ sau khi làm tổng thống đã giúp khẳng định hai điều là (a) Việt Nam Cộng Hòa chưa hề có bất kỳ đảng chính trị – tức đảng cầm quyền – nào mà chỉ có những cá nhân cùng gia quyến hay phe nhóm của họ “cầm quyền”; và (b) tuy Việt Nam Cộng Hòa có chính phủ, có chính quyền, có vị thế nhất định trên trường quốc tế trong cộng đồng liên minh của Mỹ, song Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn không phải là không có lý khi trước đây gọi chính phủ ấy, chính quyền ấy, là “ngụy quyền” như  muốn nói rằng “chúng tôi có đảng chính trị, có đảng cầm quyền, có quân đội, có chủ nghĩa, còn các anh không có đảng chính trị, không có đảng cầm quyền, không có chủ nghĩa, thì các anh ở một đẳng cấp thấp hơn chúng tôi nhiều, không xứng để đứng ngang hàng đối diện đấu trên cùng một vũ đài” vậy.

Có người ngây thơ cố bào chữa rằng thời Việt Nam Cộng Hòa có dân biểu A và dân biểu B thuộc Đảng C đã đắc cử Thượng Viện hoặc Hạ Viện nên điều đó chứng tỏ Việt Nam Cộng Hòa có “đa đảng”. Họ vừa chịu thua vì không thể nêu thêm một cái tên của một cái đảng bất kỳ nào khác từ D đến Z hoặc không cho biết cái vị dân biểu ấy đã giữ chức vụ quyền lực gì của Việt Nam Cộng Hòa hay chỉ đơn giản là “đắc cử hạ viện”, vừa cố tình quên rằng đã có “đảng” thì phải do “đại hội đảng” giới thiệu ra ứng cử, trong khi ở Việt Nam Cộng Hòa chỉ có các “liên danh” mỗi khi có bầu cử, với mỗi “liên danh” có từ hai đến một chục ứng cử viên cá nhân thuộc các giới nhân sĩ ở ngành nghề khác nhau và chọn chung một biểu tượng và một slogan nào đó. Trong một bài viết trước đây, tôi có nói về liên danh “Con Tâu Tắng” (Con Trâu Trắng – do một nhân sĩ Bắc di cư nói ngọng khi đọc chương trình hành động trên đài truyền hình), và liên danh “Kỳ Lân” với slogan “Kỳ Lân Xuất Hiện, Quốc Gia Thái Bình”, v.v., vậy nếu nói Việt Nam Cộng Hòa “đa đảng”, phải chăng muốn nói rằng Việt Nam Cộng Hòa có Đảng Con Tâu TắngĐảng Kỳ Lân để noi gương Mỹ có Đảng Con Voi (Cộng Hòa) Đảng Con Lừa (Dân Chủ) ư?

Một bằng chứng khác cho việc Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ “đa đảng” là ở chỗ cộng sản cực kỳ xuất sắc trong công tác tình báo, gián điệp, và cài cắm người lèn sâu leo cao vào tất cả các ngóc ngách tối quan trọng và tối mật của hệ thống chính trị, quân sự, an ninh, v.v., của Việt Nam Cộng Hòa. Nếu Việt Nam Cộng Hòa có “đảng” thì đương nhiên các tình báo viên cộng sản đã lèn sâu leo cao vào các “đảng” ấy để lèo lái đại cuộc từ lâu rồi, dễ dàng hơn việc lèn sâu leo cao vào cơ quan tình báo tuồn tài liệu hành quân cho cộng sản hoặc qua Mỹ học lái máy bay phản lực chiến đấu tối tân rồi về ném bom Dinh Độc Lập và bay ra “căn cứ” giúp Liên Xô nắm bí mật kỹ thuật chiến đấu cơ siêu thanh. Nhưng từ năm 1975 đến nay chưa hề có bất kỳ một chiến sĩ tình báo nào của cộng sản nói về đại công lèn sâu leo cao của họ vào các “đảng” ấy cả. Trong khi đó, ngay những kẻ chống Cộng trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt cũng không có bất kỳ một tư liệu lịch sử nào chứng minh Việt Nam Cộng Hòa từng có “đa đảng”. Đã không có đảng sử, chưa từng có kinh nghiệm hay kiến thức thực tế nào về “đa đảng” của Việt Nam Cộng Hòa, mà lúc nào cũng chê bai “độc đảng” ở Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, kêu gào đòi “đa đảng, đa nguyên” cho Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thì rõ là làm cái việc không bất kỳ ai của thế giới tự do có văn minh cao, văn hóa cao, học vấn cao, tự hào cao và tự ái cao dám nghĩ đến cả.

Mỹ:

Mỹ không là quốc gia theo chế độ đa đảng với ý nghĩa đa đảng có các yếu tố “cần” và “đủ” như đã nêu ở phần dẫn nhập. Để hiểu phần nói về Mỹ này, không thể không nêu thêm một yêu cầu khác thường về… “giỏi tiếng Anh” vì nếu muốn đọc thông tin dồi dào, phong phú, đáng tin cậy hơn, như tại trang Wikipedia chẳng hạn, thì phần tiếng Anh viết về thể chế chính trị của Mỹ nêu rõ ràng Mỹ có lưỡng đảng tức hai đảng (two-party system),  trong khi phần tiếng Việt thay vì dịch từ nguyên bản tiếng Anh đã tự ý viết ngắn gọn và tự phong cho Hoa Kỳ danh đa đảng, khiến xúc phạm nặng nề hai chú Voi và Lừa. Có thể nói Mỹ có nhiều đảng, và Mỹ theo hệ thống lưỡng đảng. Nhiều đảng không phải là đa đảngđảng tức là đảng chính trị cầm quyền. Nói một cách số học, Mỹ có thật nhiều đảng, gồm 2 đảng cầm quyền, 5 đảng lớn, 29 đảng nhỏ, 31 đảng rất nhỏ (cấp tiểu bang), 30 đảng lập ra cho có chứ chẳng đoái hoài gì đến “chính trị”, và chưa kể 87 đảng đã ngừng hoạt động. Hệ thống lưỡng đảng tại Mỹ được minh chứng rõ nét qua số liệu quốc hội Mỹ hiện nay có 533 dân biểu, gồm Đảng Dân Chủ (Con Lừa) có 200 đảng viên ở Hạ Viện và 53 đảng viên ở Thượng Viện, trong khi Đảng Cộng Hòa (Con Voi) có 233 đảng viên ở Hạ Viện và 45 đảng viên ở Thượng Viện. 2 thượng nghị sĩ còn lại là ứng viên độc lập. Người Mỹ gôc Việt nếu có trình độ học tập cao, trình độ học thuật cao, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, uy tín cao, và muốn làm chính trị tất nhiên phải gia nhập đảng Dân Chủ hoặc đảng Cộng Hòa để may ra được đảng bầu chọngiới thiệu ra tranh cử, đừng nên nghĩ đến việc lập đảng mới cạnh tranh với hai đảng này (vì không bao giờ có đủ tiền để cạnh tranh với các nhà đại tư bản và sẽ chẳng bao giờ đắc cử), hoặc kêu gào đòi Mỹ phải đa đảng đa nguyên với ý nghĩ để được ngang bằng bình đẳng trong…làm tổng thống nắm quân đội và nắm quyền cai trị quốc gia  vì Mỹ chỉ cho phép tự do lập các đảng như Đảng Ăn Chay, Đảng Cần Sa, Đảng Hắc Báo, Đảng Quốc Xã, Đảng Cộng Sản, Đảng Xanh, Đảng Bạc, v.v., tức những đảngquyền tự do gọi mình là đảng chính trị nhưng chẳng bao giờ được phép là đảng cầm quyền trị quốc. Hai vị thượng nghị sĩ độc lập tại quốc hội Hoa Kỳ hiện nay rất có thể là cá nhân đơn độc hoặc là đảng viên của một đảng chính trị nào đó trong số 3+29+31+30 = 93 đảng kể trên; nhưng ngay cả khi họ ra ứng cử, họ cũng không đại diện cho đảng của họ, vì đảng của họ không phải là đảng cầm quyền để có bất kỳ tư cách gì để tổ chức đại hội bầu chọn đề cử ứng viên cả. Đấy là lý do khi đắc cử vào quốc hội (chỉ ở quốc hội, không bao giờ ở cuộc tranh cử tổng thống), họ được liệt vào nhóm có tên là độc lập chứ không được nêu danh tính của đảng họ ra.

Đa đảng thực sự tồn tại ở vài quốc gia. Tại những nơi này, có sự tồn tại cùng lúc của nhiều đảng lớn như nhau, và đồng tình cùng nhau trị quốc cùng lúc. Các đảng viên thi nhau ứng cử vào quốc hội, mỗi đảng chiếm vài ghế để có tỷ lệ phần trăm, để rồi sau khi đắc cử, họ bắt tay nhau để hình thành “liên minh” của gồm nào là đảng A, đảng B, đảng C, và đảng D, v.v., để có các con số 15% + 10% + 5% + 3,5%, v.v. nhằm tạo nên tổng số vài chục phần trăm, đủ lớn để…thành lập chính phủ với sự thỏa thuận ai của đảng nào sẽ làm bộ trưởng của bộ nào, v.v. Mỹ không theo đa đảng vì họ muốn rạch ròi giữa hai đảng gồm phe đa sốphe thiểu số tại mỗi viện, theo đó phe đa số là của đảng thứ nhất, và phe thiểu số là của đảng còn lại. Ngay cả Mỹ ắt cũng thấy được cái rối rắm của hệ thống đa đảng của phần còn lại của thế giới tự do, và đây là kinh nghiệm xương máu của Mỹ mà Việt Nam không thể không lưu tâm đến.

Kết Luận:

Như vậy, Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ đa đảng.

Như vậy, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ không bao giờ đa đảng.

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng không bao giờ đa đảng.

Cả ba đều giống nhau ở điểm ấy, và theo nguyên tắc hàn lâm chính quy chính thống chính đạo thì không bất kỳ ai trong số họ có quyền rao giảng về cái hay cái ho của đa đảng.

Điều khác biệt ở chỗ Mỹ lưỡng đảng, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam độc đảng, còn Việt Nam Cộng Hòa vô đảng.

Tiếng Anh của lưỡng đảngtwo-party system, tiếng Anh của độc đảngsingle-party system, và tiếng Anh của đa đảngmulti-party system. Đây là những hình thái hệ thống trị quốc tồn tại miên viễn trên toàn thế giới một cách chính thống và hiệu quả tùy “cơ địa” văn hóa dân tộc, tài tổ chức, điều hành, và quán xuyến phát triển vững chắc của giai tầng lãnh đạo riêng của mỗi một quốc gia.

Việt Nam Cộng Hòa đã không có chỗ đứng trong danh mục các hệ thống trị quốc chính quy chính thống chính đạo của nhân loại, mà hình thành giống tình trạng thể chế những quốc gia của  các nhà độc tài tàn bạo của Châu Á như Suharto, Park Chung Hee, và Marcos. Để Việt Nam Cộng Hòa được vinh danh như một thể chế chính trị tiên phong đột phá, thiết nghĩ người Mỹ gốc Việt chống cộng nên đấu tranh để từ ngữ tiếng Anh zero-party system hoặc zeroing-party system hoặc nay-party system tức “hệ thống chính trị vô đảng” được chính thức công nhận trong thế giới sử.

Và thiết nghĩ, ai có kinh nghiệm gì thì hoặc từ bi truyền bá thứ ấy cho người khác hoặc khư khư giữ lấy làm của báu riêng. Mỹ chẳng khuyên Anh Quốc dẹp thể chế hơi hướm phong kiến hoàng triều hay Việt Nam dẹp thể chế hơi hướm Mác-xít Lê-nin-nít để theo đa đảng vì Mỹ vừa lịch sự, vừa không có kinh nghiệm về đa đảng, vừa tôn trọng tự do của nước khác, và vừa … khôn lanh muốn giữ ghịt lấy cái “lưỡng đảng” tuyệt diệu cho riêng mình. Việt Nam không khuyên Mỹ dẹp thể chế đã chẳng sang hơn ai (vì “hơn” Việt Nam có mỗi một đảng chứ chẳng nhiều nhặn gì) mà còn bị chính thế giới tự do nhạo báng là “twin-party system” tức chế độ đảng song sinh do chỉ khác ở tên gọi chứ giống y như khuôn đúc, để  theo đa đảng vì Việt Nam vừa lịch sự, vừa không có kinh nghiệm về đa đảng (kiểu “đa” mà không “đa”, và “lưỡng” nhưng song sinh chỉ toàn tư bổn), vừa tôn trọng tự do của nước khác, và vừa … khôn lanh muốn giữ ghịt lấy cái “độc đảng” tuyệt diệu cho riêng mình. Mỹ chẳng khuyên Việt Nam đa đảng bao giờ vì Mỹ chẳng có kinh nghiệm gì sất về đa đảng. Còn Việt Nam tuy có nhiều kinh nghiệm về đa đảng do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thực sự đã đa đảng nhưng do nhận ra sức mạnh to lớn đặc trưng Việt của đoàn kết một lòng đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tự giải tán để hòa nhập vào Đảng Cộng Sản nên cũng chẳng dại gì vớ lấy cái đa đảng mà mình đã vất đi và cái đa đảng vớ va vớ vẩn được phát từ loa của những kẻ non nớt, không chuyên, không kinh nghiệm, thuộc cộng đồng thiểu số của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Tháng Tư, niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc

Nhân ngày Lễ Chiến Thắng của Việt Nam, báo Công An Nhân Dân có bài viết “Tháng Tư, niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc”của Anh Amari TX, Việt Kiều Mỹ, người đã có rất nhiều bài viết xuất hiện trên các báo của Việt Nam, mà cá nhân tôi đã có được dịp liên lạc với anh từ năm 2011. Xin trân trọng giới thiệu với các độc giả blog này bài viết trên của tác giả Amari TX:

Tháng Tư, niềm trăn trở về nhịp cầu dân tộc

Sau 38 năm chiến tranh kết thúc, cảnh đao binh mịt mù lửa khói giữa thế lực ngoại bang với hai miền Nam – Bắc lùi xa, có rất nhiều người con dòng máu Việt mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến không còn ngờ vực, không còn hận thù, mọi nỗi đau đều được chôn chặt trong tâm khảm giữa những người Việt Nam cùng dòng máu Lạc Hồng.

Đã là năm thứ 38, có rất nhiều những hậu quả chiến tranh để lại trên mảnh đất thân yêu đã được toàn dân tộc nỗ lực vượt qua bao khó khăn để xây dựng một Việt Nam mới của hòa bình và phồn thịnh. Nhưng vẫn còn có một nỗi suy tư day dứt mà chúng ta chưa toại nguyện. Vấn đề đó ngày đêm vẫn giày vò những người Việt Nam yêu nước chân chính đang sống ở hải ngoại: Hoà hợp – hoà giải lòng người.

Sau cái ngày rời đất Mẹ ra đi, biết bao nỗi cực nhọc phải vượt qua trên đất khách quê người, chăm chỉ, nhẫn nại – đức tính mà Mẹ Việt đã truyền lại cho chúng con mỗi khi đương đầu với sóng gió. Ôi! Mẹ Việt Nam ơi, hãy ôm tất cả chúng con vào lòng, dù mẹ nghèo nhưng mẹ có trái tim nhân hậu bao la. Có bao giờ Mẹ ruồng bỏ những đứa con mà Mẹ dứt ruột đẻ ra, chỉ có chúng con có những lúc chối từ tình thương của mẹ.

Các thế hệ, từ những người đã từng trực tiếp hay gián tiếp tham gia các cuộc chiến giành độc lập của dân tộc, đến những người chưa từng trải qua chiến tranh đều đang cùng nhau đánh giá, phân tích để tôn vinh sự hy sinh cống hiến to lớn của các thế hệ trước trong cuộc chiến tranh vệ quốc, rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm ngăn chặn chiến tranh đe dọa cuộc sống hòa bình.

Dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh. Vậy mà tiếc thay! Còn một số người không những vẫn hằn học hoặc cay cú với quá khứ, tiếp tục bằng mọi cách chống phá, bôi nhọ, xúc phạm sự hy sinh to lớn của dân tộc, tiếp tục chia rẽ, ngăn cản tiến trình phát triển của đất nước.

Họ núp dưới con bài “tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo” để đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập gây chia rẽ dân tộc, cản trở tiến trình hoà giải hoà hợp dân tộc mà đó là tính nhân văn của cha ông từ ngàn xưa để lại.

Một số nhóm chống Cộng cực đoan ở hải ngoại thường tổ chức “ngày quốc hận” để hoài niệm một chế độ ở miền Nam Việt Nam đã đi vào quá khứ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam. Hành động như vậy, họ đã tự hạ thấp chính họ, hạ thấp dân tộc Việt Nam và coi thường mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp của nhân dân Việt Nam với các nước trên thế giới. Đặc biệt là mối quan hệ với cựu thù là nước Mỹ, khi mà Việt Nam và Mỹ đã công nhận nhau, có quan hệ chính thức với nhau và mối quan hệ hợp tác Việt – Mỹ đang ngày càng phát triển, sự phát triển mà có nhiều người nói rằng “không ngờ ” nhanh và tốt đẹp đến như vậy.

Năm thứ 38 sau cuộc chiến, những đau thương mất mát, những vết thương còn chưa lành hết, những hậu quả do chiến tranh gây ra, có một số người họ đưa ra những đánh giá, nhận xét thiếu khách quan, thậm chí đầy tính kích động và xuyên tạc. Họ thẳng thừng tuyên bố: “ngày 30/4 là ngày toàn thắng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng là ngày thua của toàn dân tộc”.

Không thể nói lạc điệu như thế! Qua đó chúng ta nhận thấy rằng nỗi thù hận chưa tan nguôi, các tác giả các bài viết thường sử dụng những hiểu biết cũ rích, lạc hậu và lặp đi lặp lại những điều đã nói lâu nay. Họ đã bỏ qua thực tế những gì đang diễn ra trong nước, cố tình nói xấu bôi nhọ để lôi kéo những người chống đối. Tuy nhiên, trong thời đại thông tin được phổ cập và phát triển như vũ bão, khó có thể lừa được tất cả mọi người.

Chỉ có trở về dân tộc, đó chính là sự trở về với nhau với thời gian không còn nhiều của những con người Việt Nam bị xé ra từng mảnh bởi cuộc chiến tranh tàn khốc đã qua. Đã là năm thứ 38, chúng ta đã có đủ thời gian và trí tuệ để suy ngẫm về nỗi đau chia cắt lòng người. Và đối với tất cả những ai yêu dân tộc này bằng máu chảy trong trái tim mình đều nhận ra nỗi đau chia cắt nhiều lúc đến phi lý ấy.

Trong khoảng thời gian từ sau ngày 30/4/1975 đến nay ở hải ngoại, nhiều nỗi đau đã nguôi ngoai, nhiều vết thương đã lành lặn, nhiều nghi ngờ đã biến mất, nhiều sự thù hận đã chìm sâu, có biết bao người Việt Nam xa xứ đã trở về và cất tiếng nói về dân tộc mình, một dân tộc với truyền thống của tình thương yêu vô bờ bến, một dân tộc trong mọi hoạn nạn không rời bỏ nhau, một dân tộc đầy lòng vị tha, đầy lòng nhân từ bác ái ngay cả với kẻ thù của mình… Họ đã trở về trong vòng tay mẹ.

Có biết bao người Mỹ đã từng xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, đòi chính phủ phải cho con em họ ra khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cuộc chiến tranh kết thúc vào ngày 30/4/1975 để có một nước Việt Nam như ngày hôm nay, máu của dân tộc Việt thấm đẫm từng thước đất. Cái giá phải trả quá lớn. Vậy mà những người chống đối vẫn coi Ngày Chiến thắng đó là “ngày quốc hận”. Phải chăng, như thế chính họ đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng dân tộc Việt Nam, tự mình đứng ngoài sự trỗi dậy của dân tộc.

Sau chiến tranh, có rất nhiều lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam đã và đang trở lại chiến trường xưa sám hối về những tội ác mà họ gây ra, để lòng họ được thanh thản. Lòng vị tha của con người Việt Nam, lịch sử, văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam đang thu hút ngày càng nhiều người nước ngoài đến với Việt Nam, trong đó có các cựu binh Mỹ.

Có sai lầm hay không khi có những người Mỹ và nhiều nước khác tự nguyện đến với Việt Nam, coi Việt Nam hôm nay là một phần để gắn bó cuộc đời? Có sai lầm hay không khi những người nước ngoài xin được nhập quốc tịch Việt Nam hoặc nguyện ước được an táng tro cốt của mình sau khi qua đời vì kính trọng và yêu mến Việt Nam? Và có sai lầm hay không khi những tập đoàn, công ty của nước ngoài tự nguyện đến Việt Nam đầu tư, kinh doanh, làm bạn với Việt Nam? Chắc chắn là không!

Tất cả những người Việt Nam yêu đất nước, yêu dân tộc mình phải thấy đó là một điều hổ thẹn. Tại sao đã qua 38 năm mà chúng ta vẫn còn lại trong lòng mình những điều phi lý ấy. Những trai thanh nữ tú người Việt Nam sinh năm 1975 lớn lên đồng hành cùng dân tộc sống và học tập trong thời bình. Thế hệ những người đó sẽ trở thành những người ông và bà trong vài năm nữa thôi. Vậy mà cho đến lúc này, chúng ta vẫn còn đứng một phía nhìn nhau như những kẻ xa lạ và như không thể đến bên nhau. Lịch sử sẽ ghi lại nỗi đau buồn ấy của chúng ta, những người Việt ở Mỹ. Và đến một ngày nào đó trong tương lai, những thế hệ tiếp theo sẽ đặt câu hỏi về một giai đoạn lịch sử của chúng ta.

Và lúc này, sau 38 năm chiến tranh kết thúc, có rất nhiều người mang giấc mơ năm thứ 38 này là năm cuối cùng sau cuộc chiến, không còn hận thù giữa những người Việt Nam cùng dòng máu tổ tiên. Giấc mơ ấy thật giản dị và đủ lý do để trở thành hiện thực. Nhưng nếu chúng ta không vì đất nước, không vì dân tộc mình thì có thể chúng ta đi cả một nghìn năm nữa cũng không bao giờ chạm tay vào được.

Cả hai bên phải có thiện ý, trung thực để hoá giải sự ngờ vực và lòng thù hận, nếu chỉ một bên thôi thì hỏi đến bao giờ?

Hãy trở về cùng nhau và làm cho dân tộc này không phải hổ thẹn với con cháu sau này. Mỗi người Việt Nam yêu nước chân chính hãy cất tiếng về ước mơ lớn đó của dân tộc mình và hãy tìm ra một con đường nhân văn nhất để dân tộc ta tới được ước mơ đó. Đây không phải là một lời kêu gọi, đây chỉ là nỗi giày vò nhiều đau đớn và ngập tràn niềm tin của khát vọng của tất cả những người Việt Nam.

Để kết thúc bài này tôi mượn ý câu nói của nhà ngoại giao kỳ cựu Việt Nam Võ Văn Sung: “Nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có tội với tương lai của chính con cháu mình”.

Viết tại Houston TX, Hoa Kỳ 4/2013

Amari TX- Việt kiều Mỹ

29/04/2013

Lễ Chiến Thắng

Nhân thấy có tin rất nhiều bạn trẻ (không hiểu sao lại ghi là “bạn trẻ”, chẳng lẽ “người lớn” thì chẳng có ai làm như vậy?) treo cờ đỏ sao vàng của tổ quốc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trên các blog nhân ngày Lễ Chiến Thắng 30-4-2013, tôi nhớ lại khi xưa vào khoảng năm 2006 hay 2007 đã đăng một bài viết bằng tiếng Anh lên Yahoo!360 tựa đề “VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975” cũng viết về ngày 30-4-1975 (và sau này có dịch ra tiếng Việt để tải lên Emotino vào tháng 4-2009), nên hôm nay xin đăng lại trên blog hhphuoc bài dịch ấy để hòa chung vào khí thế đó của người Việt chúng ta trong ngày Lễ Chiến Thắng 30/4 vinh quang này của cả dân tộc Việt Nam.

Nhân tiện, do đã là Lễ Chiến Thắng tất phải nói về quân đội đã làm nên chiến thắng ấy, tôi cũng xin đăng lại tiếp theo sau bài trên một bài viết bằng tiếng Việt về Quân Đội Nhân Dân Việt Nam mà tôi đã viết trên Emotino vào tháng 12-2009, để trọn vẹn nội dung tôn vinh về ngày “Lễ Chiến Thắng” này.

Trân trọng.

Hoàng Hữu Phước

******

VIỆT NAM: Đất Nước Kính Yêu Của Tôi – Cánh Phượng Hoàng Vút Bay Cao Từ Ngày 30/4/1975 Rực Lửa

Hoàng Hữu Phước

09-4-2009

Việt Nam là quê hương đất nước kính yêu của tôi. Không có đất nước quê hương riêng của mình, người ta chỉ còn như một linh hồn không chốn dung thân muôn đời lưu lạc. Tôi vô cùng tự hào được là người Việt, tất nhiên không do lòng ái quốc quáng mù. Việt Nam là quê hương mà ngay cả Tử Thần cũng không bao giờ có thể dùng lưỡi hái thần uy vấy máu tách được khỏi trái tim tôi. Việt Nam có thể tốt. Việt Nam có thể không tốt lắm. Việt Nam có thể tệ. Việt Nam có thể không đến nỗi nào. Và chỉ những kẻ chây lười ngồi thừ trong góc tối đầy muỗi ngụ cư của những quán cà phê, chân run bần bật bên dưới những chiếc bàn rẻ tiền đang cõng trên nó những ly có hoặc không có các cục nước đá, kiên nhẫn đợi chờ từng giọt từng giọt cà phê có chất lượng khả nghi nhỏ xuống từ những lổ nhỏ tí ti của chiếc phin xoàng xỉnh, miệng nguyền rủa tiêu cực – giả như có tiêu cực ấy, nguyền rủa điều sai trái – giả như có điều sai trái ấy, và nguyền rủa nghìn-lẻ-một-điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ – giả như có những điều-xấu-xấu-hơn-và-xấu-tồi-xấu-tệ ấy, của đất nước Việt Nam này, đất nước mà bản thân tên gọi đã chất chứa tự thân lòng tự hào, niềm danh dự, sự nổ lực vươn lên, khí hùng anh, và ý chí cao vời – tất cả đã vút lên từ máu thật sự, tro hồng thật sự, và những chiến công anh dũng thật sự.

Tôi được sinh ra tại Sài gòn và từ ngày đầu tiên tôi chào đón cuộc đời và cuộc đời chào đón tôi đến nay chưa lần nào tôi chuyển đến sống tại bất kỳ nơi nào khác trên thế giới này. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 đầy biến cố ấy của năm tôi mười tám, Ba Má của tôi điềm tỉnh, thay vì tay xách tay nải dắt díu nhau chạy về Miền Tây theo lời rủ rê của hàng xóm, khuyên con cái ngồi thụp xuống sàn nhà, bỏ cái ý nghĩ – dù chỉ thoáng qua – nghe theo bạn học đào thóat khỏi quê hương, lâm râm khấn vái Phật Trời, kiên nhẫn đợi chờ một khải huyền bình an dưới thế cho người thiện tâm. Ngồi cạnh cửa sổ đã đóng chặc, tôi lo lắng không biết Đinh Thị Mai Trâm, nữ sinh lớp 11 hoa khôi Nguyễn Bá Tòng đã cùng mình thề non hẹn biển yêu nhau từ năm lớp 9, có vẫn còn ở nhà trên đường Chi Lăng, Gia Định (nay là Phan Đăng Lưu, Bình Thạnh) không, hay đã cùng gia đình theo chân dòng người đang-khiếp-sợ-kinh-hoàng-và-đang-gây-khiếp-sợ-kinh-hoàng đổ về Cảng Sài Gòn rời xa quê hương bằng thủy lộ tiến ra nơi ác hiểm trùng dương. Tôi không chút sợ hãi, mà chỉ có niềm hạnh phúc giản đơn được bình an cùng gia đình chứng kiến sự kết thúc một cuộc chiến đã nhai nghiến xương và ướt sủng máu của hầu hết các bạn học của tôi, những đứa đã kém may mắn hơn tôi vì đã không thành công trước ngưỡng đại học, bị “bắt lính” bổ sung cho đám tàn quân tan tác chắp vá của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mạt lộ cùng đường, chỉ để vĩnh viễn nằm xuống trên chiến trường ngay lần đầu tiên bị xô thúc ra trận tiền, với khẩu tiểu liên ôm chặt trong đôi bàn tay thanh mảnh trước đó chỉ biết cầm bút viết nên những vần thơ nồng cháy về tình yêu và hy vọng, với khát khao được sống một cuộc sống đường hoàng trong hòa bình chứ không phải chiến tranh.

Gia đình tôi trước đây không có ai là thành viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam, những người đã đưa cuộc giải phóng Miền Nam đến thắng lợi cuối cùng. Song, chính lòng tự hào được là con dân nước Việt đã giúp gia đình chúng tôi trụ vững trước các thăng trầm cơ cực mà một đất nước thời chiến và thời hậu chiến có thể đem lại hoặc tạo nên. Vào thời điểm nước Việt Nam thống nhất phải chịu đựng vô vàn những khó khăn không bút mực nào tả xiết từ sự cấm vận của Hoa Kỳ, bất cứ khi nào đi công tác nước ngoài, tôi đều kiêu hãnh gắn hình lá cờ đỏ sao vàng của tổ quốc lên trang phục và hành lý. Có những vị chức sắc cấp cao của các tổng công ty nhà nước – tất nhiên là đảng viên – đã làm tôi buồn bực khi khuyên tôi hãy dấu lá cờ để không bị đám người Việt chống Cộng ở Thái Lan và các nước “tư bản” ám hại. Tôi đã không nói gì để tỏ sự kính trọng họ, những bậc trưởng thượng, những con người quan trọng của quốc gia; song, tôi không làm theo các lời khuyên bảo ấy. Lá cờ Việt Nam phải luôn ở bên tôi dù cho tôi có đi đến đâu trên chốn 3 w – www, the wild wide world, cái thế giới bao la hoang dã – này.

Hiện tôi vẫn là người ngoài Đảng. Tất cả những cố gắng phấn đấu của tôi đều bị lãnh đạo những học viện và công ty nhà nước nơi tôi công tác cản ngăn, dường như do có nỗi ám ảnh bịnh lý rằng việc tôi trở thành đảng viên có thể thành mối nguy đe dọa chiếc ghế lãnh đạo của họ chăng. Song, chẳng bao giờ tôi ghét bỏ quê hương đất nước Việt Nam của tôi, chê bai chính phủ Việt Nam, trách cứ Đảng Cộng Sản Việt Nam, đơn giản vì tôi hiểu rằng cuộc chiến tranh quá tàn khốc đã khiến những cán bộ cấp cao không kịp có đủ thời gian để ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê và giáo huấn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, học hiểu về vai trò tối quan trọng của tư tưởng Khổng Giáo Nho Gia để nhận thức đầy đủ hơn về các bổn phận đối với xã hội, bổn phận đối với quốc gia dân tộc, và bổn phận đối với lòng ái quốc, tức những bổ sung tuyệt diệu cho Chủ Nghĩa Cộng Sản đặc thù của riêng Việt Nam. Những gì tôi có thể làm là khuyến khích các em tôi và con của tôi hãy cố gắng thành đảng viên Cộng Sản để có tiếng nói đúng đắn vì quê hương đất nước dân tộc Việt Nam, đất nước duy nhất của quốc tịch duy nhất của tôi, chúng tôi. Chúng ta tiến ra thế giới trên con tàu chung. Chúng ta không thể đứng chàng háng một chân trên con tàu Việt và một chân trên con tàu khác, vì đó là việc của diễn viên xiếc. Thứ âm nhạc duy nhất tôi yêu là Nhạc Đồng Quê Mỹ và Hard Rock. Còn dân ca Việt Nam, nhạc Miền Nam trong thời chiến tranh – kể cả nhạc Trịnh Công Sơn, và nhạc Việt Nam sau chiến tranh đều không có trong danh mục nhạc tôi thích nghe. Tôi viết, sáng tác, thuyết trình chủ yếu bằng tiếng Anh. Nhưng tất cả những điều này hoàn toàn không đi ngược lại niềm tự hào của tôi được là công dân Việt Nam trong thế giới toàn cầu hóa này.

Nếu đất nước này vẫn còn có những điều chưa tốt, tôi có thể nói chính bản thân mình phải chịu trách nhiệm vì đã chưa hề góp chút công sức vấn kế hiệu quả thực sự nào cho lãnh đạo đất nước để làm đất nước tốt hơn. Việc hưng thịnh hay suy vong của tổ quốc thì ngay cả kẻ thất phu còn phải chịu trách nhiệm, huống hồ mang danh người có học thức hàn lâm lẽ nào còn tồi tệ hơn kẻ thất phu khi chỉ biết lăng xăng xách động chống phá nhà nước cộng sản, hoặc ngồi yên hưởng thụ khi miệng mồm vẫn luôn than vãn, dè bỉu, phê phán, miệt thị, chê bai chế độ hay sao.

Việt Nam là quốc gia của tôi và tôi rất đỗi tự hào được làm một công dân Việt Nam chân chính.

Hoàng Hữu Phước

(dịch từ nguyên tác tiếng Anh “VIETNAM: My Beloved Nation, the Up-Surging Phoenix from the Scorching Day of 30 April 1975”)

Chúc Mừng Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

Hoàng Hữu Phước, MIB

23-12-2009

Là người Việt Nam, tôi luôn muốn có gì đó thời hiện tại để tự hào về Việt Nam. Sinh ra ở Sài Gòn, tôi biết thế nào là sắc màu “hoa lệ” của “Hòn Ngọc Viễn Đông”: quân viễn chinh Mỹ và đồng minh phát huy cái mà người Pháp đã không mấy thành công – ít ra là về bề nổi lộ thiên – là gia tăng số lượng snack-bar, trò hề dân chủ tự do, và số ca dân Sài Gòn tử vong do xe jeep của quân Mỹ phóng như gió như giông tông cán người rồi bỏ chạy mà Quân Cảnh Mỹ đội nón sắt có dòng chữ MP chẳng buồn can thiệp với l‎ý do ai bảo đi chậm hay chạy xe chậm làm chi. Thế nên, cái “hoa lệ” của Sài Gòn mang sắc màu hoa tàn nhụy rửa của đĩ điếm, xanh xao của ma túy, đỏ thắm máu của người Việt Sài Gòn bị xe Mỹ tông như cơm bữa hay bị cảnh sát đánh đập do biểu tình chống Mỹ, trên phông nền cây xanh điểm trang với hàng triệu tấm áp-phích tranh cử nghị viện của hàng ngàn liên danh với những cái tên và slogan điếc óc như “Kỳ Lân Xuất Hiện, Quốc Gia Thái Bình” hoặc liên danh Con Tâu Tắng (của mấy tay dân biểu nói tiếng Bắc ngọng xum xoe phát biểu vận động tranh cử trên Tivi cho liên danh Con Trâu Trắng), v.v. Những thứ mà tôi, một học sinh lớp 12 sợ Cộng Sản, rất khinh miệt, xấu hổ, nhục nhã cho quê nhà, tức Việt Nam Cộng Hòa, và tôi chỉ tìm thấy sự tự hào trong lịch sử, tức quá khứ, những cái đã rời xa.

Chính sự tự hào, hãnh diện về Việt Nam đã giữ chân tôi lại đất nước này. Không tự hào sao được vì ngoài niềm vui đất nước thanh bình còn có sự thú vị trước thế mạnh vững chãi của quân đội Cộng sản đã thể hiện ý chí như tiền nhân L‎ý Thường Kiệt xua quân phạt Tống khi đánh bại cuộc xâm lăng ồ ạt của đại quân Trung Quốc trên toàn tuyến biên giới phía Bắc, cũng như đã kéo rốc hùng binh trừng trị Khờ-Me Đỏ (đã dám xâm lấn toàn tuyến biên giới phương Nam giết chóc “cáp duồn” chặt đầu dân Việt và hãm hiếp phụ nữ Việt Nam trước sự giương mắt ếch rung đùi ngồi xem đẩy thích thú của thế giới Phương Tây như đang xem phim sex bạo lực), đẩy lùi phiến quân đến tận sào huyệt của chúng, hùng anh tiêu diệt nạn diệt chủng điên rồ, nghĩa dũng nêu gương đại hùng, đại lực, đại từ bi, xóa thật sạch uế nhơ thiên cổ trời đất bất dung, giúp dân tộc lân bang sống còn, tồn tại. Và càng tự hào hơn khi cũng quân Cộng sản ngăn chặn được các chuyến tàu vũ khí và các cuộc hành quân đột nhập của các toán Kinh Kha, để bảo vệ sự an bình của người dân.

Những con người Cộng sản Việt Nam đã thuận thiên hành đạo, và quân Cộng sản Việt Nam mới là một quân đội khiến mọi người Việt Nam chân chính phải tự hào. Quân đội này đã có những tướng lĩnh chân quê biết dùng đôi tay chỉ biết cầm viên phấn thư sinh trói gà không chặt để nắm đầu lôi cổ vùi xuống bùn nhơ những cái tên đầy kiêu hãnh và qu‎ý phái của Học Viện Quân Sự West Point Hoa Kỳ. Quân đội này đã chưa từng tháo chạy vứt bỏ cả vũ khí trong hoảng loạn tột cùng. Quân đội này đã đưa hai chữ Việt Nam ra khắp năm châu bốn biển. Và quân “Cộng sản Bắc Việt” – theo cách gọi của Việt Nam Cộng Hòa – đã trở thành Quân Đội Nhân Dân Việt Nam anh hùng trong lòng tất cả những người Việt Nam chân chính và đoan chính.

Chào mừng ngày Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, xin kính biết ơn những anh hùng đã ngã xuống cho một đất nước Việt Nam thống nhất trường tồn, và kính chúc sức khỏe những chiến sĩ đang tiếp nối thiên anh hùng ca bảo vệ sơn hà để người dân Việt Nam an vui dệt nên cẩm tú.

Hoàng Hữu Phước

Luận Về “Đa Đảng”

Luận Về “Đa Đảng”

(Nguyên văn bài viết của Hoàng Hữu Phước đăng trên Emotino ngày 13/02/2011: http://www.emotino.com/bai-viet/18997/da-dang)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời “Việt Nam Không Cần Đa Đảng”  của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) Lý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi  vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm chính trị bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) Lý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng  mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”,  trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) Lý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam 

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8  giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc  mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Ghi chú:

[1]  Hoàng Hữu Phước. 07-11-2010. Những Lập Luận Kỳ Quái Của Người Tự Xưng Là TS Trần Minh Hoàng: Bút Chiến Luận Viết Ngày 09-6-2008 Của Hoàng Hữu Phước.   http://www.emotino.com/bai-viet/18865/nhung-lap-luan-ky-quai-cua-nguoi-tu-xung-la-ts-tran-minh-hoang

[2]  Lời tựa của Lương Khải Siêu trong tác phẩm Việt Nam Vong Quốc Sử của Phan Bội Châu (ấn bản 1906):

“Gần đây, ta gặp một người Việt Nam vong mệnh (ý nói đến Phan Bội Châu), thường khi nói chuyện với ta, ông hay giàn giụa nước mắt!…Ta đọc sách này (Việt Nam vong quốc sử) chẳng những đã thương mà lại còn sợ nữa!”

[3]  Hoàng Hữu Phước.05-10-2010. Tôi Và Lê Công Định. http://www.emotino.com/bai-viet/18839/toi-va-le-cong-dinh

[4]  Hoàng Hữu Phước. 20-12-2010. Tôi Và Cu Huy Ha Vu. http://www.emotino.com/bai-viet/18920/toi-va-cu-huy-ha-vu

“Quay đầu lại là bờ”!

Báo Nhân Dân, số ra Thứ sáu, 22/03/2013

Từ nước ngoài quan sát một số nhân vật được các đài BBC, RFA, VOA,… cùng một nhóm người thi nhau ca ngợi trên internet, tác giả Tuyên Trần gửi tới Báo Nhân Dân bài Quay đầu lại là bờ. Bài viết gợi lên một số vấn đề đáng suy ngẫm, vì đề cập tới loại hiện tượng mà qua đó xem xét về bản chất, dường như những người có liên quan chưa tỉnh táo để điều chỉnh hành vi của mình. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Ở nước ngoài, mặc dù mỗi năm mấy lần về quê làm việc, thăm nom họ hàng, bà con lối xóm, làm thiện nguyện, nhưng những thông tin tôi biết về đất nước chủ yếu là thông qua internet. Ðọc trên mạng nhiều nên tôi rút ra một kinh nghiệm là, hễ thấy trang Việt ngữ của BBC, VOA, RFA,… biến người nào ở trong nước thành “người hùng” rồi liên tục phỏng vấn, kêu gọi ủng hộ, là y như rằng những người đó có vấn đề đáng ngờ. Dăm năm trước, họ xúm xít tung hô Bùi Kim Thành là “luật sư dân oan”, tới khi Nhà nước Việt Nam đồng ý cho sang Mỹ thì bà này lộ nguyên hình là người thần kinh không bình thường, hiện ở Mỹ không ai dám dây dưa. Trần Khải Thanh Thủy cũng thế, chị này được họ ca ngợi như “người hùng”, chị ta công khai than vãn: “điều không may của tôi là không được sống một ngày nào trong chế độ Việt Nam Cộng hòa” (!). Tới khi sang Mỹ, chị ta vội vàng lên RFA bày tỏ “tràn đầy lòng biết ơn nước Mỹ”, đến lúc này mọi người mới biết chị ta là “đảng viên Việt Tân”. Nguyễn Chính Kết ba hoa để tìm cách chuồn sang Mỹ, trong khi ông ta huyên thuyên chống cộng để lấy lòng đồng bọn, thì một người sinh sống tại nước Mỹ viết về ông ta thế này: “Ngày nay, Nguyễn Chính Kết đã chết thực, nghĩa là cái dũng và tinh thần của Nguyễn Chính Kết đã chết, dù thân xác của ông lang thang đó đây nơi xứ người, qua sự sai khiến của một nhóm muốn lợi dụng cái xác cò vơ cò vất như ma đói của ông”!

Mấy người gọi là “nhà dân chủ”, “nhân sĩ, trí thức” sinh sống trong nước thì còn lắm trò hơn. Hôm nay họ ca ngợi nhau, ngày mai họ đã coi nhau như kẻ thù. Họ lên mạng mắng mỏ nhau như hát hay hoặc biến một người có ngôn ngữ, hành vi rất lưu manh trở thành “người hùng”. Rồi họ dùng internet là chiến trường để nhiếc móc nhau lừa đảo, bới móc nhau biển thủ tiền bạc… Kể về họ thì không bao giờ hết chuyện lố bịch. Trong bài này tôi mượn mấy dòng của Kami – một blogger chưa bao giờ có thiện chí với Nhà nước Việt Nam, mới đây viết trên RFA Blog’s về hành vi của mấy người mà Kami “từng coi họ là những nhân sĩ trí thức yêu nước và những tấm gương tiêu biểu”(!) rằng: “Ðó là những việc làm thiếu bình tĩnh, thiếu suy nghĩ… Các vị nhân danh đấu tranh dân chủ mà còn cái thói tính gia trưởng trịch thượng, lúc nào cũng tự cho mình đúng thì làm sao có thể có đấu tranh cho dân chủ được?… Vẫn là sự suồng sã của con vẹt và thói hách dịch của kẻ bề trên và tự coi tầm hiểu biết của mình là chân lý bất biến”!

Gần đây, trên các trang mạng xã hội, báo chí, các đài Việt ngữ ở hải ngoại lại ra sức cổ súy, đăng tải các bài viết, phỏng vấn mấy nhân vật đã đưa ra ý kiến hết sức tùy tiện về việc Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Nguyễn Ðắc Kiên là một trong mấy người được họ biểu dương. Tôi rất thất vọng vì trong khi toàn dân rất nhiệt tình ủng hộ kế hoạch của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, một số người đang sống ở trong nước lại “hòa giọng” với một số cá nhân, tổ chức ở hải ngoại, đặc biệt là tại Mỹ, ra sức bài bác, đưa ra những đòi hỏi vô lý, thiển cận.

Tôi nghĩ, dù nấp dưới danh nghĩa nào thì những người tôn thờ chủ nghĩa cơ hội cũng không thể mãi mãi giấu mình. Trong tiến trình xã hội, trắng – đen, thiện – ác sẽ được làm sáng tỏ, ai là kẻ cơ hội, ai là người chân chính sẽ được đánh giá sòng phẳng. Ðọc một số bài báo tiếng Việt tại Mỹ ca ngợi Nguyễn Ðắc Kiên như “người hùng”, tôi cũng chẳng lạ lẫm với việc ban phát “danh hiệu” đó, vì tiêu chí phong tặng của họ là chửi bới, kêu gọi loại bỏ sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền Việt Nam càng nhiều càng tốt. Ai cũng biết trong cuộc sống, việc phê bình, góp ý là rất cần thiết vì giúp hoàn thiện con người, phát triển xã hội. Tuy nhiên phê bình, góp ý không có nghĩa là tùy tiện nói những điều người được phê bình, góp ý không thể thực hiện trong hoàn cảnh cụ thể; hoặc phê bình, góp ý chỉ là phương tiện chứng tỏ mình hơn người, “dám nói” những điều mà mình cho rằng người khác “không dám nói”, rồi mạt sát người khác.

Ðọc ý kiến của Nguyễn Ðắc Kiên, tôi ngạc nhiên với thái độ và hành văn xấc xược, ngạo mạn của anh này. Ðể “tri ân” những người đang tâng bốc mình, anh rất lố bịch khi viết rằng: “bất cứ ai là người Việt, còn có lương tri, còn nghĩ đến bổn phận làm con người trên thế gian này thì nên ký tên vào kiến nghị này”! Chẳng hóa ra nếu người thân của anh ta không tham gia ký tên sẽ là người hết lương tri, không biết nghĩ tới “bổn phận làm người” hay sao? Tôi còn thấy một điều không bình thường nữa là vào ngày 9-3-2013 tại tòa soạn báo Người Việt ở California, Trần Phong Vũ khoe “tủ sách Tiếng quê hương” đang nỗ lực in, phát hành một tác phẩm của Nguyễn Ðắc Kiên. Như vậy là chỉ nửa tháng sau khi Nguyễn Ðắc Kiên đăng bài chỉ trích (26-3-2012) “tủ sách Tiếng quê hương” đã có bản thảo cuốn sách này. Tại sao Nguyễn Ðắc Kiên sớm được “ưu ái” như vậy, hay là bài viết trên blog chỉ là cú “kích hoạt” cho động thái tiếp theo? Sống ở Mỹ, tôi không lạ gì “tủ sách Tiếng quê hương”. Ðây là cơ sở do Uyên Thao – nhà văn chống cộng, tổ chức. Gần 20 năm qua, Uyên Thao với mấy cây viết ở hải ngoại duy trì “tủ sách Tiếng quê hương” theo tiêu chí: “Nối tiếp dòng văn học Việt Nam đã bị cộng sản hủy hoại ở trong nước. Ðồng thời để đưa tiếng nói của những người ở trong nước không nói được cho đồng bào và dư luận thế giới cùng biết về đất nước và con người Việt Nam dưới chế độ độc tài đảng trị của Cộng sản Việt Nam”!? Các ấn phẩm do “tủ sách Tiếng quê hương” in ra đều có nội dung nói xấu chế độ chính trị – xã hội ở trong nước, moi móc quá khứ, xuyên tạc, bịa đặt, kích thích tò mò, đưa ra loại tin tức không thể kiểm chứng, ra vẻ ta là người “trong cuộc” để bịp bợm người đọc,…! Tiêu chí của họ cụ thể như vậy, liệu “tác phẩm” của Nguyễn Ðắc Kiên có phải đáp ứng được các tiêu chí ấy hay không? Có lẽ chẳng phải chờ tới khi sách in ra mới có câu trả lời.

Phàm đã là “nhân sĩ, trí thức” luôn nói năng cẩn trọng, khiêm nhường. Họ không chỉ là người có tri thức, có đóng góp đối với xã hội, mà còn là người được giáo dục chu đáo, có thể làm gương cho người khác. Từ quan niệm như thế nhìn vào “hiện tượng Nguyễn Ðắc Kiên”, tôi thấy những điều anh viết và nói hình như dựa trên cái tâm không trong sáng và từ những suy nghĩ lạc hướng? Nguyễn Ðắc Kiên còn trẻ, mong anh hãy suy nghĩ cho chín chắn trước khi hành động. Chí ít anh cũng nên tự hỏi tại sao những điều anh viết, anh nói lại được một số người vốn không nhận được thiện cảm của nhân dân cùng các tổ chức phản động ở hải ngoại ra sức khai thác, tâng bốc? “Quay đầu lại là bờ”, dù có người sẽ bảo câu nói này đã nhàm chán, tôi vẫn muốn nhắc lại ở đây, vì thấy phù hợp với Nguyễn Ðắc Kiên.

Lúc theo ba mẹ sang Mỹ, tôi 17 tuổi. Sau nhiều năm học hành và làm việc, công việc kinh doanh của tôi dần dần khấm khá. Hơn mười năm trước, tôi bắt đầu tìm hiểu về quê hương, chủ yếu là qua internet. Thời gian đầu tôi tin vào điều các “nhà dân chủ” đã nói, vì tôi nghĩ đất nước như thế thì ba mẹ tôi mới ra đi. Tôi liên lạc với họ, về nước tôi gặp vài người. Tiếp xúc rồi, tôi bắt đầu thất vọng, vì không hiểu tại sao có người không làm việc gì, suốt ngày chỉ ngồi bên computer viết bài, rình mò chụp ảnh, nhặt nhạnh tin tức tiêu cực để đưa lên mạng nói xấu đất nước. Muốn đất nước phát triển mỗi người đều phải làm việc, ở đâu cũng vậy, dù ở Mỹ hay ở Việt Nam. Mỗi năm về nước vài lần, tôi vẫn luôn ngạc nhiên về tốc độ phát triển, về cuộc sống của đồng bào. Ba mẹ tôi đã già rồi, không đi xa được, nghe tôi kể về quê hương là rơm rớm nước mắt. Ba hỏi tôi: “Liệu ba mẹ có sai lầm khi bỏ nước ra đi?”. Tôi không biết nói sao, chỉ an ủi ba: “Nghĩ về quê hương mà ba mẹ thấy bình an là vui rồi”. Tôi kể lại chuyện của mình vì qua đây tôi muốn tâm sự một điều, Tổ quốc là của mọi người, nhưng mỗi người chỉ có quyền tự hào về Tổ quốc khi góp phần làm cho Tổ quốc giàu mạnh, hùng cường. Nhân đây xin được hỏi các “nhà dân chủ” và “nhân sĩ, trí thức” đã làm được gì cho Tổ quốc hay chưa? Chẳng nhẽ chỉ vì cái danh hão được làm “người hùng trên mạng” mà họ cho mình quyền miệt thị người khác không yêu nước như họ? Làm “người hùng trên mạng” như thế sẽ chẳng có gì đáng để tự hào, bởi “chiếc áo không làm nên thầy tu”.

TUYÊN TRẦN

(Nước Mỹ, tháng 3-2013)

Giới thiệu Blog Mới (3): Hoàng Hữu Phước và Tình Cảm Dành Cho Trung Quốc

Giới thiệu Blog (3)

của Hoàng Hữu Phước

http://antichina.blog.com

Hoang Huu Phuoc, MIB

Đối với tầng lớp trị quốc, ngoại giao hữu hảo ngôn từ là nghệ thuật sử dụng chiêu thức “bất chiến tự nhiên thành”, vì tầm nhìn chiến lược của tối thiểu hai thế hệ (50 năm), và trên hết là duy trì sự an bình của cả một dân tộc trong cơn lốc xoáy điên cuồng của địch họa, mang đặc tính tích lũy kinh nghiệm có hòa trộn sự biến hóa tinh tế tinh vi.

Đối với chúng dân có hiểu biết và kẻ sĩ có trí mưu, thực chất biến chuyển thời cuộc luôn là thực tế cận kề trong gang tấc, mang đặc tính kế thừa truyền lưu ngàn đời không suy suyển. Một thí dụ cho cái đặc tính thứ hai của chúng dân và kẻ sĩ này là tư tưởng bài Việt muôn đời của người Trung Quốc và tư tưởng ở thái cực đối đầu mang tính nhân-quả là tư tưởng bài Trung Quốc muôn đời của người Việt Nam. Một khi tư tưởng bài Việt trường tồn theo năm tháng thì tư tưởng bài Trung Quốc không thể không hiện hữu mãi mãi với thời gian. Một bên gây hấn ở Biển Đông và dàn binh bố trận để lấn ép Việt Nam từ toàn tuyến biên giới phía Tây. Và tất nhiên bên còn lại phải ra sức cho một lần và mãi mãi diệt tiêu hiểm họa Tàu từ phía Đông, từ phía Bắc, và từ phía Tây.

Và trong tư thế của tầng lớp thứ hai này, trang blog http://antichina.blog.com được lập để ghi lại những ý nghĩ cá nhân, góp chung vào kho tàng ý nghĩ của người dân Việt đối với kẻ thù truyền kiếp bá quyền Trung Quốc. Trang http://antichina.blog.com hiện đang có 21 bài sau – xếp theo thứ tự sau-trước đã đăng trên emotino.com – và sẽ được dần dần bổ sung mỗi khi có thêm bài viết mới:

  1. Văn Tế Tướng Tàu La Viện
  2. Ngày Tàn Của Trung Quốc Và Bọn Theo Đóm Ăn Tàn
  3. Ngày Tận Thế 21-12-2012 – Biện Luận Của Lăng Tần Hoàng Hữu Phước
  4. Thực Phẩm Trung Quốc: Tại Sao?
  5. Hoa Tàu
  6. Giặc Tàu Mọi Rợ
  7. Tấm Bản Đồ Mới Của Việt Nam: Hé Màn Một Sự Thật Lịch Sử
  8. Siêu Nhân và Tồi Nhân
  9. Ngộ Số
  10. Luật Biển Việt Nam
  11. Sự Thật Về Võ Thuật Tàu Và Y Dược Tàu
  12. Sự Thiếu Khôn Ngoan Của ASEAN
  13. Vịnh Bức Dư Đồ Rách – Vá – Mới – Mới Hơn
  14. Tết 2012: 33 Năm, Một Lời Thề
  15. Trung Quốc: Trả Lời Hai Câu Hỏi Nhạy Cảm Của Độc Giả Emotino
  16. Trung Quốc và Chúng Ta: Những Chuẩn Bị Nhiêu Khê
  17. Trung Quốc và Chúng Ta: Sự Cần Thiết Phải Viết Lại Ngôn Từ Hán-Việt
  18. Trung Quốc Trong Sấm Trạng Trình
  19. Trung Quốc: Từ Vĩ Đại Đến Tệ Hại
  20. 900 Năm Hùng Khí Thần Uy 30/12/1075 – 30/4/1975
  21. Trăm Trứng – l‎ý giải mới cho một tích cũ

Các blog mới khác theo từng cụm chủ đề sẽ được lần lượt giới thiệu cùng độc giả.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Khi phản biện xã hội được sử dụng như một “chiêu bài”!

Báo Nhân Dân, số Thứ Ba 12/03/2013

ND – Ðể thực hành phản biện xã hội với các ý nghĩa tích cực, trước hết có một nguyên tắc cần tuân thủ là phải dựa trên nền tảng tri thức, thái độ khách quan, lấy lợi ích của cộng đồng làm mục đích,… Nếu không phản biện xã hội sẽ dễ chỉ là ý kiến chủ quan, cảm tính và phiến diện, thậm chí là cực đoan, không đóng góp với tiến trình phát triển xã hội mà còn cản trở tiến trình đó. Từ việc quan sát, đánh giá hoạt động “phản biện xã hội” của một số cá nhân trên in-tơ-nét trong thời gian qua, tác giả Huỳnh Tấn gửi tới Báo Nhân Dân bài Khi phản biện xã hội được sử dụng như một “chiêu bài”!. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

“Ngày nay, có thể nói mạng internet đã tạo cơ hội để con người có nhiều hơn một khuôn mặt. Chưa có thời kỳ nào khuôn mặt con người lại đa dạng đến thế… Ở đó, họ dễ dàng hành xử như một người vô danh, hoặc bỗng nhiên nhờ vào thế giới ảo mà trở thành nổi tiếng” – đó là nhận xét của tác giả Nguyên Anh trong bài Thế giới mạng và sinh mạng thứ hai. Căn cứ vào diễn biến của hiện tượng, có thể nói nhận xét này khá phù hợp với một số người nhân danh “phản biện xã hội”, “tinh thần dân chủ” và “lòng yêu nước” vẫn hằng ngày xuất hiện trên internet. Vì vài năm sau ngày Việt Nam hòa mạng toàn cầu, đã xuất hiện một số website, blog, facebook cá nhân,… là nơi công bố ý kiến “phản biện xã hội” của một số người, trong đó có người thường được BBC, VOA, RFA,… giới thiệu là “nhân sĩ, trí thức hàng đầu”. Về các “phản biện xã hội” đó, trong một bài viết đăng trên sachhiem.net, GS Trần Chung Ngọc – tác giả là người Mỹ, gốc Việt, nhận xét: “Tôi có cảm tưởng là đối với họ, phản biện có nghĩa là phải chống đảng, cãi đảng, bất kể đó là vấn đề gì của đảng, đúng hay sai”. Nhận xét của GS Trần Chung Ngọc xác đáng như thế nào, hãy để bạn đọc đánh giá. Nhưng dù vậy, liệu có thể coi là bình thường nếu đọc các bài vở, ý kiến, xem các bức ảnh, video-clip của những người này trên mạng?

Không thể coi là bình thường vì cứ dăm bữa, nửa tháng lại thấy xuất hiện một “thư ngỏ”, “kiến nghị”,… chủ yếu được công bố trên internet trước khi tới nơi cần gửi! Ðứng đầu danh sách ký tên vào “thư ngỏ”, “kiến nghị”,… thường là một nhóm người nếu tên tuổi không gắn với một chức danh, học vị thì cũng đi liền với một hai chức vụ thời quá khứ và hình như họ không có việc gì khác để làm, chỉ viết đơn, thư!? Không bàn tới các entry, comment chửi bới, vu cáo, xúc phạm bất kỳ người nào có ý kiến khác mình, chỉ đề cập tới hiện tượng liên quan tới các cá nhân đang hăng hái “phản biện” trên internet đã thấy nhiều chuyện bi hài. Như ông “phó giáo sư” nọ lại tự giới thiệu là “giáo sư”, rồi ông “chủ tịch hội đồng khoa học” một viện nghiên cứu – chức vụ mang tính lâm thời, về hưu từ lâu mà vẫn xăm xắn với chữ “chủ tịch”. Thật sửng sốt khi thấy một vị tiến sĩ hùng hổ quát tháo, mày tao chi tớ với nhân viên bảo vệ tượng đài Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh. Có ông chưa biết phân biệt Mục Nam Quan, Ải Chi Lăng khác nhau như thế nào, không biết Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Quân đội ta trung với Ðảng, hiếu với dân…” mà vẫn say sưa “phản biện”. Có ông năm trước vừa “vinh danh” một người, ngay năm sau người mới được “vinh danh” đã lên facebook kể ông nọ gọi mình là “kẻ vô ơn”, và hứa hẹn “sẽ chứng minh ngược lại họ chính là kẻ vô ơn và láo xược”! Bình luận về tình trạng hỷ nộ ái ố trên, một blogger viết: “Ðứng trên góc độ một người được giáo dục thì phải biết tôn ti trật tự, biết tôn trọng các quy định chung của xã hội, của cộng đồng. Ðó là cái lễ. Các vị mang danh là “trí thức” thì chắc chắn đã được giáo dục rồi, thậm chí họ còn đi giáo dục người khác nữa chứ! Nhưng mà sao xem clip các vị ấy tự biên, tự diễn thì tôi không thấy thế? Xem nó tôi có cảm giác giống như xem mấy clip của cái tụi choai choai rỗi hơi gọi điện chọc phá các điện thoại viên rồi đăng lên Youtube để hỷ hả với nhau”! Blogger khác bình luận: “Hầu hết những người đồng đơn với ông, khi ký tên vào bản kiến nghị, đều treo lủng lẳng bên cạnh mình một loạt chức danh có được trong chế độ độc đảng mà cái chế độ đó nay họ đòi loại bỏ. Không ai tự phủ nhận mình khi ghi các chức danh đó… vì nếu phủ nhận mình thì tiếng nói của mình cũng thành vô giá trị”!

Năm 2012, trong lời giới thiệu bài Trí thức và phản biện của GS Trần Chung Ngọc, tòa soạn sachhiem.net viết: “Nói rằng một người có cặp mắt sáng có thể lái xe ban đêm giỏi, nhưng không thể căn cứ vào tài lái xe ban đêm để đo lường độ sáng của cặp mắt. Cũng vậy, phản biện có thể là một trong những hành vi mà một trí thức có thể làm, nhưng không thể là một định nghĩa cho trí thức. Nhất là, gặp gì cũng phản biện, phản biện số 2 thành số 7, phản biện cho mầu đỏ thành mầu đen,… thì nhất định không phải là phản biện. Ðành rằng, một khi có được các phản biện có giá trị, điều đó sẽ làm cho xã hội tiến bộ hơn; nhưng nếu cho đó là nhiệm vụ của “trí thức”, sẽ trở thành hàm hồ. Thái độ “gom về mình” để được mặc áo trí thức mỗi khi phản biện, thì lại càng không nên là hành vi của một trí thức”. Trong bài viết, GS Trần Chung Ngọc khẳng định: “chức năng của trí thức thì đa dạng, và với sự hiểu biết của họ, với kiến thức chuyên nghiệp, họ có thể giúp ích cho xã hội nhiều hơn là lao mình vào lĩnh vực phản biện, nhất là khi họ không có đủ thông tin, không có sự hiểu biết sâu rộng và chính xác về vấn đề, thì đó chỉ là một quan niệm cá nhân… Ðiều hiển nhiên là không có một trí thức nào có thể bao quát được mọi vấn đề trong xã hội, họ chỉ có thể đóng góp cho xã hội trong lĩnh vực chuyên môn của họ, đi ra ngoài lĩnh vực mà họ không nắm vững thì họ trở thành một anh thợ giày mà lại cứ muốn đi lên trên nơi giày dép… Phản biện là dùng lý lẽ, biện luận với thông tin, tài liệu, bằng chứng, để phản bác, chứng minh một vấn đề nào đó, có thể là một luận cứ văn học, một quan điểm về khoa học, một nhận định xã hội, một luận cứ trong Tòa án, v.v. là không đúng, là sai lầm cho nên cần phải bác bỏ… Ðây không phải là điều trí thức nào cũng làm được, nhất là về lĩnh vực chính trị, đối ngoại hay đường hướng quốc gia, các lĩnh vực mà Nhà nước tất nhiên có cái nhìn bao quát, tổng hợp và đầy đủ thông tin hơn cá nhân. Nước Mỹ là nước được cho là dân chủ nhất thế giới, dù chính sách đối ngoại của Mỹ không có gì là dân chủ. Trong chế độ dân chủ của Mỹ, người dân có quyền bỏ phiếu để chọn lựa nguyên thủ quốc gia, tuy nhiều khi phiếu của người dân (popular vote), dù là đa số, cũng không có giá trị bằng phiếu của các vị đại diện cho họ (electoral vote). Năm 2000, trong cuộc bầu cử Tổng thống, Al Gore được nhiều phiếu của dân chúng hơn, nhưng Bush vẫn thắng vì được nhiều phiếu của các dân cử. Ðây không hẳn là dân chủ theo nghĩa “thiểu số phục tùng đa số”. Nhiều trí thức Mỹ đã lên tiếng phê bình vấn nạn này. Chính quyền Bush tạo ra những thông tin ngụy tạo vềIraqđể có cớ xâm lăngIraq, người dân cũng chỉ có thể phản đối hay biểu tình chống chiến tranh, nhưng không thể phản biện. Và chiến tranhIraqđã tốn mấy nghìn nhân mạng lính Mỹ, vài trăm tỷ đô-la, vài trăm nghìn ngườiIraq, cuối cùng thì Mỹ cũng rút quân để lại không biết bao nhiêu là hệ lụy choIraq”.

Là lẽ thông thường nhưng cần thiết, phản biện xã hội là hoạt động phải được khuyến khích trong sinh hoạt xã hội. Nếu một mặt phản biện có thể giúp điều chỉnh xã hội từ vi mô tới vĩ mô, thì mặt khác, phản biện là biểu thị cho tính dân chủ của xã hội. Vấn đề là ở chỗ, phản biện phải hướng tới ổn định và phát triển xã hội – con người, không thể chấp nhận phản biện nhằm gây mơ hồ, làm lạc hướng nhận thức chung, tiến công vào nguyên tắc tổ chức và hệ thống chính trị của xã hội. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, mọi tổ chức từ Trung ương tới địa phương, mọi cá nhân có trách nhiệm ở các cấp chính quyền cần tiếp nhận ý kiến phản biện một cách khách quan để tổng kết, rút ra tham vấn hữu ích nhằm điều chỉnh. Hiện tại, việc triển khai kế hoạch lấy ý kiến nhân dân với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã và đang nhận được sự quan tâm của toàn xã hội. Ðây là thời điểm quan trọng để mọi công dân thể hiện tinh thần trách nhiệm với quá trình hoàn thiện, phát triển đất nước. Ðã có nhiều ý kiến tâm huyết gửi tới cơ quan có trách nhiệm, đó là biểu hiện cụ thể về sự trưởng thành của ý thức công dân. Và đó cũng là để khẳng định sự lạc lõng của một số người đang sử dụng phản biện xã hội làm “chiêu bài” phục vụ cho các tham vọng thiếu cầu thị.

HUỲNH TẤN

Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền

Báo Nhân Dân, số ra ngày 07/03/2013

Thời gian qua, với tần suất xuất hiện một cách bất thường trên in-tơ-nét, có thể nói “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” đang là “món hàng thời thượng” mà một số người, với sự hỗ trợ của mấy cơ quan truyền thông như BBC, VOA, RFA,… đang đua nhau cổ súy dưới danh nghĩa “đóng góp ý kiến” với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Bài Dân chủ phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền là một trong nhiều ý kiến của bạn đọc gửi tới Báo Nhân Dân đề cập tới vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc. 

Sau khi Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam triển khai kế hoạch để nhân dân đóng góp ý kiến với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, tôi rất phấn khởi. Ðây là sự kiện quan trọng để toàn dân Việt Nam đem trí tuệ, khả năng góp phần hoàn thiện Hiến pháp của nước nhà, và Hiến pháp sẽ có tác động tích cực hơn tới sự phát triển đất nước, bảo đảm các quyền lợi của nhân dân. Vậy mà nhân dịp này, một số người lại đưa ra ý kiến nhận xét rất thiếu khách quan, từ đó đòi “đa nguyên, đa đảng”, cổ súy cho mô hình tổ chức xã hội xa lạ với thực tiễn Việt Nam. Tôi ngạc nhiên là một số người trong số đó lại trưởng thành từ trong môi trường XHCN, thậm chí có người mang danh “trí thức” nhưng trong khi phân tích, đánh giá, đề xuất giải pháp về các vấn đề xã hội… lại có cái nhìn phiến diện. Họ lập ra blog cá nhân, đăng tải thông tin không được kiểm chứng, kèm theo bình luận xuyên tạc sự thật, trả lời phỏng vấn trên một vài phương tiện truyền thông nước ngoài để khuếch trương ý kiến.

Có thể nói, mục tiêu hàng đầu mà các “nhà dân chủ”, “người yêu nước”, các tổ chức chống đối hoặc không thiện chí với Việt Nam, là cố gắng loại bỏ Ðiều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Họ rêu rao “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là “khuôn vàng, thước ngọc” Việt Nam phải làm theo. Họ coi “từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản, vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”. Nguy hiểm hơn loại quan điểm này lại khoác cái vỏ “vì dân chủ”, “vì nước, vì dân”! Qua theo dõi, tôi thấy gần đây họ lại như đang thay đổi “chiến thuật”, đó là kết hợp giữa chửi bới, thóa mạ, xuyên tạc, vu khống một cách vô văn hóa đối với Ðảng và Nhà nước Việt Nam như trước đây họ vẫn làm,  với lời khuyên “thực hiện đa đảng” thì dân chủ hơn!? Có người còn ỡm ờ đặt câu hỏi: mở cửa kinh tế từ hơn 25 năm trước đã đưa Việt Nam trở thành một “rồng nhỏ” ở châu Á, song do cơ chế chính trị không thích hợp đã khiến “con rồng” không thể bay lên, liệu cuộc thay đổi về chính trị lần này có thật sự tháo gỡ được bế tắc về cơ chế hay không!? Ðáng tiếc là một số ít người đã lầm tưởng và ngộ nhận về điều này, từ đó ngỡ rằng đất nước sẽ phát triển hơn nếu Việt Nam thực hiện đa đảng (!)

Tôi xin nói một điều chắc chắn rằng thực tế sẽ không phải như các “nhà dân chủ”, các hội đoàn “chống cộng cực đoan” ở hải ngoại cổ súy, tô vẽ. Vì điều đó tất yếu sẽ dẫn đến kết cục không tránh khỏi là đất nước rơi vào mất ổn định, kinh tế đổ vỡ, để rồi nhân dân phải chịu mọi hậu quả. Nói cách khác, nhân dân chỉ là cái cớ  để họ tranh giành ảnh hưởng trong cái gọi là “đa đảng”. Tôi còn nhớ bài học thực thi dân chủ sai nguyên tắc trong thời kỳ cải tổ ở Liên Xô trước đây. Quan điểm thực thi “dân chủ”, “đa nguyên chính trị” để cải tổ chủ nghĩa xã hội lại tạo ra cơ hội cho các mưu đồ chống phá, dẫn đến làm tan rã, sụp đổ chế độ Xô viết. Ở đâu còn có phần tử bất mãn, cơ hội, vị kỷ, ngay cả đảng viên và người dân chưa hiểu biết thấu đáo, thì ở đó họ sẽ bị lợi dụng. Nếu không có biện pháp đấu tranh ngăn chặn hiệu quả và kịp thời thì các mưu toan đó sẽ có sức phá hoại khôn lường.

Nhiều người biết rằng, nước Mỹ có nhiều đảng phái khác nhau, nhưng hai đảng Dân chủ và Cộng hòa là hai lực lượng chính trị chi phối. Thoạt nhìn thì giữa hai đảng có vẻ đối lập, mâu thuẫn, nhưng thực chất cả hai đều bỏ phiếu ủng hộ luật pháp bảo vệ các trùm tư bản và tập đoàn kinh tế, bất chấp hệ lụy có thể gây thiệt hại tới lợi ích nhân dân. Từ trước đến nay, hai đảng này luôn chiếm ưu thế ở mọi cấp độ chính quyền, luôn khống chế nền chính trị nước Mỹ. Mô hình mà một số người coi là “lý tưởng” của thể chế “đa nguyên, đa đảng” này trên thực tế là không vì nhân dân, mà thậm chí còn đi ngược lại quyền lợi nhân dân. Hệ thống lưỡng đảng đã bắt rễ sâu trong nền chính trị Mỹ, cho dù có đảng thứ ba xuất hiện trong bầu cử Tổng thống thì cũng chưa bao giờ họ giành được thắng lợi. Tuy đôi khi các đảng thiểu số cũng giành được một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới, nhưng hầu như không có vai trò quan trọng trong nền chính trị Mỹ. Có rất ít sự khác nhau về tư tưởng giữa đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa; có chăng là ở chỗ, đảng Dân chủ có  quan tâm đến các vấn đề xã hội hơn. Còn lại, hai đảng này rất giống nhau về các quan điểm cơ bản như: tán thành chủ nghĩa tư bản và các thể chế của nó, ủng hộ chính sách toàn cầu của Mỹ, phủ nhận chủ nghĩa cộng sản ở trong và ngoài nước Mỹ. Ðáng chú ý là trong 435 thành viên Quốc hội Mỹ có hơn một trăm người là triệu phú, riêng tại Thượng viện Mỹ có 1/3 thượng nghị sĩ là triệu phú. Chính người Mỹ đã nói về thể chế chính trị ở nước Mỹ như sau: “lợi ích của các tập đoàn kinh tế đã và đang được ngụy trang phục vụ trong bối cảnh đa nguyên đa đảng. Các tập đoàn này dùng ảnh hưởng cá nhân để đạt được các quyền quy định trong Hiến pháp đáng lẽ phải dành cho dân. Bởi các đảng phái đều được tài trợ từ nhiều tập đoàn kinh tế”, “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”. Theo AFP ngày 3-7-2006, người Anh xem nước Mỹ như là “một xã hội đầy rẫy tội phạm, không lịch sự, được điều hành bởi đồng tiền”; 77% người Anh tin rằng nước Mỹ không phải nơi soi sáng hy vọng cho thế giới. Ðó là bối cảnh mà hệ thống hai đảng thống trị ở Mỹ đã tạo ra. Paul Mishler – Giáo sư trường Ðại học bang Indiana, cho thấy thực chất vấn đề: “mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản…

Cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng đa đảng với khuynh hướng một đảng đã phản ánh tính chất gay go, phức tạp của các xu hướng lựa chọn phát triển. Có “nhà dân chủ” cho rằng, thực hiện “đa đảng” sẽ có nhiều đảng cạnh tranh nên sẽ dân chủ hơn, tốt hơn là một đảng. Có đúng như vậy không? Câu trả lời dứt khoát là không! Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà phụ thuộc vào lý tưởng và bản chất chính trị của đảng cầm quyền. Lý tưởng và bản chất ấy được đánh giá là tiến bộ, tiên tiến khi cùng với việc quan tâm tới lợi ích của giai cấp sinh ra mình, đảng cầm quyền còn quan tâm tới lợi ích của mọi giai cấp, tầng lớp khác. Và sẽ bị đánh giá là phản tiến bộ, lạc hậu khi đảng cầm quyền chỉ vun vén lợi ích của giai cấp mình, bất chấp lợi ích của các giai cấp, tầng lớp khác.

Chúng tôi nghĩ rằng, Việt Nam không thực hiện chế độ “đa đảng” không phải vì chúng ta bảo thủ hay mất dân chủ như những người tự nhận là “nhà dân chủ”, “người yêu nước” vẫn rêu rao, mà đó là yêu cầu khách quan, vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển nền dân chủ, vì hạnh phúc của nhân dân. Ðảng và Nhà nước Việt Nam nhận rõ các vấn đề, hiện tượng tiêu cực trong xã hội như tham nhũng, lãng phí, thiếu dân chủ,… ở một số nơi và trong một số trường hợp, nên Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã tự giác xem xét lại chính mình, từ đó sửa chữa sai lầm để xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn. Ðổi mới hệ thống chính trị là một việc hệ trọng, tác động mạnh mẽ lên toàn xã hội, nên phải thực hiện thận trọng từng bước, nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội, bảo đảm đất nước phải luôn có hòa bình để ổn định và phát triển. Không thể vì khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ ở nước ta, rồi đòi thực hiện “đa đảng”, đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Không ai có thể phủ nhận một sự thật là dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động, đồng thời cũng không thể phủ nhận được các thành tựu kinh tế – xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, với sự nỗ lực của toàn dân, đất nước đã có những bước tiến vượt bậc về mọi mặt, có vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế… Vậy tại sao một số người lại không thừa nhận những thành tựu mà chính gia đình, bản thân họ đang được thụ hưởng? Chẳng lẽ họ coi tham vọng cá nhân lớn hơn thiện chí, coi nhân dân chỉ là “con bài” trong trò chơi chính trị của họ? Tôi nghĩ, làm như vậy là quay lưng lại với các nỗ lực, quyết tâm vượt qua thách thức của toàn dân Việt Nam trong một giai đoạn cực kỳ quan trọng. Trong hiện tại và tương lai, không có một đảng chính trị nào có đủ uy tín, trí tuệ, bản lĩnh, kinh nghiệm thay thế Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp phát triển và bảo vệ đất nước – đó là sự thật.

MAI HOÀNG KIÊN

Giới Thiệu Blog Mới (2): “Hoàng Hữu Phước và Thầy Cô”

http://hoanghuuphuocteachers.blog.com

Hoang Huu Phuoc, MIB

Ai cũng có thời gian hoặc ngắn hoặc dài dành ra dưới mái học đường, và từ đó được học hành dưới sự giảng dạy của vài hay nhiều Thầy/Cô; và dù cho kết quả học tập có được như ý hay không, cũng như hành trang lập nghiệp của hành trình cuộc sống có chất chứa một chút hoặc vừa phải hoặc đầy ắp những bảo bối do Thầy/Cô truyền lưu hay những ký ức về tâm về thế về tài về đức về hạnh của Thầy/Cô hay không, người đó cũng có thể tự hào mình đã may mắn được cận kề, được trở nên tốt đẹp hơn từ Thầy/Cô hay những Thầy/Cô ấy.

Song, nói về tấm lòng nhớ ơn Thầy/Cô hoặc thốt lời ca tụng nghề giáo mỗi khi gió mát tháng 11 thoảng về phỏng có ích gì khi tấm gương của Thầy/Cô cũng như tấm lòng của người nhớ ơn Thầy/Cô hay xưng tụng Thầy/Cô không nêu bật được những gì cụ thể hóa điều trừu tượng. Qua blog cá nhân HOÀNG HỮU PHƯỚC VÀ THẦY CÔ http://hoanghuuphuocteachers.blog.com/ tôi muốn ghi lại những ký ức về các Thầy/Cô tâm-thế-tài-đức-hạnh mà tôi đã may mắn được là học trò trên cõi trần gian bão loạn này, cũng như đưa ra các bút tích quý báu của các Thầy/Cô mà tôi đã từ lòng tôn kính Thầy/Cô đã lưu giữ nhiều chục năm nay còn hơn báu vật.

Ngoài những bài đã đăng trên Yahoo!360 cách nay hơn 10 năm về Thầy Nguyễn Quang Tô (thời Việt Nam Cộng Hòa), Cô Trương Tuyết Anh và Thầy Lê Văn Diệm (thời Việt Nam thống nhất ở cuối những năm 70 của thế kỷ trước), tôi chọn đăng lại một số bài với tư thế một cựu nhà giáo và về vài vấn đề liên quan ít hay nhiều đến giáo dục. Những bài viết về Thầy/Cô hay có liên quan đến giáo dục nhưng bằng tiếng Anh sẽ được tập hợp lại trong một trang blog khác dành riêng cho các bài văn thơ tôi viết bằng tiếng Anh.

Blog http://hoanghuuphuocteachers.blog.com  sẽ được dần bổ sung thêm những bài viết về nhiều Thầy/Cô khác sau khi tôi soạn ra xong các bút phê và hình ảnh của các Thầy/Cô ấy. Hiện nay, http://hoanghuuphuocteachers.blog.com có các bài viết sau:

1-      Thầy Nguyễn Quang Tô

2-      Cô Trương Tuyết Anh

3-      Thầy Lê Văn Diệm

4-      Bức Tâm Thư Gởi Nhà Giáo Hiện Tại Và Tương Lai

5-      Phong Cách Người Thầy

6-      Lời Ngỏ Cùng Học Sinh

7-      Thầy Như Thế Nào, Trò Như Thế Ấy

8-      Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Văn

9-      Học Sinh Và Vấn Đề Giỏi Môn Sử

10-  Khiêm Tốn

11-  Bí Quyết Thành Công

12-  Cảm Ơn Học Trò

13-  Lời Động Viên Luôn Cần Thiết Cho Đời

(Những bài trên giữ nguyên văn khi đăng lại trên blog riêng này.)

Trân trọng kính mời quý độc giả đến thăm blog và kính mong sẽ có nhiều người viết về những Thầy/Cô kính yêu của mình để qua các blog này việc giáo dục về “tôn sư, trọng đạo” ở Việt Nam có thể đi vào thực chất và có tác dụng tốt đẹp trong hình thành tâm-thế-tài-đức-hạnh nơi người đi học hiện nay từ những gương sáng của các Thầy/Cô cũng như học trò của các Thầy/Cô ấy.

Blog http://hoanghuuphuocteachers.blog.com là nơi tôi tôn vinh các Thầy/.Cô của tôi, để Thầy/Cô được nhắc đến, và mãi sống trong tâm khảm học trò với thời gian.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Giới Thiệu Blog Mới (1): Hoàng Hữu Phước Và Các Tham Luận

Hoang Huu Phuoc, MIB

Trong nhiều năm qua tôi đã viết gần 500 bài viết bằng tiếng Anh trên Yahoo!360 và gần 1000 bài viết bằng tiếng Việt trên emotino.com thuộc nhiều đề tài khác nhau.

Để phục vụ mục đích tham khảo theo từng chủ đề một, tôi sẽ lập nhiều blog khác nhau và chọn ra các bài viết tiêu biểu để đưa vào các blog này.

Hiện trang http://hoanghuuphuocthamluan.blog.com/ đã được hoàn tất, với trước mắt đăng lại 3 bài tham luận cùng những bài viết có liên quan (dùng làm tham khảo cho 3 bài tham luận này), cụ thể là các tham luận như:

1) Cụm Ngành Nông-Lâm Trong Chiến Lược Phát Triển Tam Nông

2) Giao Thoa Ngôn Ngữ Việt-Anh Và Thực Chất Vấn Đề Giữ Gìn Sự Trong Sáng Của Tiếng Việt

3) Những Phân Tích Mới Lý Giải Vấn Nạn Bất Tương Thích Giữa Đào Tạo & Sử Dụng Nhân Lực Trình Độ Đại Học và Các Biện Pháp Cách Tân

cùng các bài viết có liên quan như:

1) Cụm Ngành Nông-Lâm Trong Chiến Lược Phát Triển Tam Nông

2) Luận Về Trái Cây Việt Nam

3) Tư Vấn Phát Triển Ngành Kỹ Nghệ Gạo Việt Nam

4) Silo – Vấn Đề Lõi Của Phát Triển Tam Nông

5) Sự Hoang Đường Huyễn Hoặc Của “Phương Thuốc” Rượu Tỏi

6) Tư Vấn Miễn Phí: PHÁT TRIỂN KINH DOANH NGÀNH THỰC PHẨM “KHÔ” & “SẤY KHÔ”

7) Cu Dơ Nhét Xốp – Vấn Nạn Việt Hóa Phiên Âm Tiếng Nước Ngoài

8 ) Vũ Khí Tối Thượng Của Tiếng Việt Cho Thời Kỹ Thuật Số: Hồi Ức Về Một Sự Thật Ít Còn Người Việt Nam Nào Trên Thế Giới Còn Nhớ Hay Biết Đến

Những bài đăng lại như nêu trên sẽ giữ nguyên nội dung như bản gốc.

Các blog chuyên đề khác sẽ lần lượt được giới thiệu tiếp đến quý vị độc giả.

Trân trọng.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Không ai có thể phủ nhận vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam!

Báo Nhân Dân, Thứ Hai 25/02/2013

Sau khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố và kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân được triển khai, cho đến nay, nhiều ý kiến đóng góp sâu sắc mang tính xây dựng của nhân dân cả nước được công bố trên hệ thống truyền thông. Tuy nhiên, nhân cơ hội này, qua một số diễn đàn trên internet, blog và cơ quan truyền thông nước ngoài, một số cá nhân lại đưa ra ý kiến thiếu khách quan, thiện chí. Bức xúc trước thực tế đó, ngày 18-2 vừa qua, bạn đọc Trung Thành – hiện  sống tại Mỹ, đã gửi bài viết này tới Báo Nhân Dân. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc.

Hơn 10 năm trước, vì lý do gia đình, tôi tới định cư tại nước Mỹ. Tuy sống xa quê hương, nhưng tôi vẫn luôn coi mình là người Việt Nam, tôi vẫn không quên công ơn của chế độ mới. Vì như cha tôi bảo, nếu không có cách mạng, có lẽ tôi vẫn chỉ là người nông dân nghèo ở một làng quê nghèo, như cha tôi, ông tôi mà thôi. Hướng về Tổ quốc, tôi thật sự mừng vui khi đất nước phát triển và tôi chạnh buồn khi đất nước gặp khó khăn. Những ngày qua, khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được công bố, đọc trên internet tôi thấy có một số người ở trong và ngoài nước mượn danh “yêu nước“, “vì dân tộc” để công bố ý kiến trên các báo ở hải ngoại và blog của cá nhân, từ đó dấy lên một làn sóng xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ Ðảng, Nhà nước, chế độ xã hội ở Việt Nam. Tôi thấy, một trong các tâm điểm các bài viết họ đăng tải là tập trung chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCS Việt Nam) đã được ghi trong Hiến pháp. Tôi rút ra nhận xét là: Trước khi đề cập đến vấn đề “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam, tác giả của các bài viết này thường “dạo nhạc” trước bằng cách hết lời ngợi khen nền dân chủ phương Tây, họ cho rằng, xã hội các nước phương Tây, với “đỉnh cao” là Mỹ, là “chuẩn mực” về dân chủ. Họ còn cho rằng, về mặt xã hội, chỉ có “đa nguyên, đa đảng” mới thật sự có dân chủ; ngược lại, xã hội duy trì theo cơ chế độc đảng lãnh đạo sẽ dẫn đến mất dân chủ, “độc tài“, “đảng trị“!?

Dù sống xa Tổ quốc, nhưng tôi vẫn thường xuyên cập nhật tình hình quê nhà, nên không lạ gì ý kiến mà họ đưa ra, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, đó vẫn là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có bài viết làm ra vẻ khách quan với vỏ bọc “đóng góp ý kiến”, “lời nói tâm huyết“, như: bài học của tất cả các quốc gia trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, nếu nhân dân mất lòng tin vào chính quyền sẽ mất tất cả; Ðảng có công lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước, nhưng hiện nay “đã hết vai trò lịch sử” nên cần phải “trao lại cái quyền đó cho nhân dân” (?!)… Họ còn lớn tiếng hô hào đòi bỏ Ðiều 4 của Hiến pháp quy định ÐCS Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Lợi dụng việc ÐCS Việt Nam công khai tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác, họ tìm mọi cách tô vẽ, thổi phồng những sai lầm, khuyết điểm, gieo rắc hoài nghi, tâm lý bất mãn, bất bình trong nhân dân, với mục đích gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Ðảng. Núp dưới chiêu bài đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do”, “công bằng xã hội“, họ còn thành lập tổ chức trên internet để tập hợp, lôi kéo, phát triển lực lượng để chống lại Ðảng và Nhà nước Việt Nam.

Từ một số viện dẫn, lập luận trên, tôi thấy họ đã cố tình “đánh lận con đen“. Họ không thấy rằng, trong tất cả các nền dân chủ hiện đại bao giờ cũng có đảng chính trị lãnh đạo, cầm quyền. Sự khác nhau chỉ là ở mục tiêu, phương thức lãnh đạo mà thôi. Ở Mỹ, Ðảng Dân chủ và Ðảng Cộng hòa thay nhau lãnh đạo. Ở Cộng hòa liên bang Ðức cũng như vậy, Ðảng dân chủ Thiên chúa và Ðảng dân chủ xã hội thay nhau cầm quyền. Còn ở Australia là vai trò của Ðảng Lao động và Liên Ðảng quốc gia – tự do… Vậy tôi xin được hỏi “các nhà dân chủ“, những người đang lớn tiếng tự nhận là “người yêu nước” ở trong và ngoài nước là: Nếu các vị sống ở Mỹ, Ðức, Australia thì các vị có thể gân cổ phê phán chế độ đó không dân chủ hay không? Theo nhận thức của tôi, về pháp lý, vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam đã được quy định tại Ðiều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 là hoàn toàn phù hợp với pháp luật quốc tế. Ðiều 1, Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị (năm 1966) ghi rõ: “Tất cả các quốc gia đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình, tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa“. Chúng ta hiểu điều này có nghĩa là: việc lựa chọn chế độ chính trị nào (thể chế tam quyền phân lập hay phân công phối hợp có sự giám sát của nhân dân, CNTB hay CNXH) và việc có ghi rõ điều đó vào Hiến pháp hay không hoàn toàn là quyền của mỗi dân tộc, không ai có quyền can thiệp, kể cả Liên hợp quốc. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của ÐCS ViệtNam được Quốc hội quyết định ghi vào Hiến pháp là văn bản hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng.

Hiệu quả hoạt động của chính quyền chính là thước đo hiệu quả sự lãnh đạo của Ðảng. Ðiều lệ ÐCS Việt Nam khẳng định: “Ðảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Ðảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Ðảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Ðảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội“. Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam được xác định là: “Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ“; theo tôi hiểu, Ðảng lãnh đạo Nhà nước song không điều hành thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Ðảng. Trong lịch sử chúng ta đều biết, chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa do Hồ Chí Minh lập nên vốn đa đảng. Nhưng trên thực tế của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau đó là chống đế quốc Mỹ, chỉ ÐCS Việt Nam mới có đủ khả năng tập hợp lực lượng, trở thành hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc, và đã “đứng mũi chịu sào” với bao nhiêu hy sinh to lớn vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vì vậy, đối với đại đa số nhân dân trong nước, ÐCS Việt Nam hiện thân cho quyền lực chính đáng từ trong lịch sử, và lúc này ÐCS Việt Nam đang nỗ lực tăng cường tính chính thống của mình, thông qua nỗ lực tìm ra con đường đúng đắn để phát triển đất nước, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sống của mọi người dân, nghĩa là tạo nên sự hài hòa giữa các lợi ích, cũng như các tầng lớp xã hội. Kết quả là đã thấy rõ: Việt Nam đứng thứ hai ở châu Á về tốc độ tăng trưởng GDP. Trước những khó khăn của đất nước trong cơn lốc suy thoái kinh tế toàn cầu, trước các hạn chế, yếu kém trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội mà ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đang phải đối mặt, lẽ ra một số người tự xưng là “tâm huyết với đất nước” cần đồng tâm, đồng lòng cùng Ðảng và Nhà nước vượt qua khó khăn. Nhưng đáng tiếc là họ không làm như vậy mà lại thi nhau kêu gào trên các diễn đàn của internet, rồi rùm beng trên BBC, VOA, RFA, RFI… đổ hết mọi lỗi lầm cho Ðảng, rằng: Ðảng là nguồn gốc của mọi “bất ổn xã hội“, của quan liêu, tham nhũng và “phải chịu trách nhiệm trước nhân dân“… Từ đó họ kích động đấu tranh cho “đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập“!

Lập luận của họ đưa ra có thể làm phân tâm, gây hoài nghi đối với một số người còn thiếu thông tin, chưa hiểu biết nhiều, còn với tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân, bản chất của vấn đề vẫn luôn được nhận thức đúng đắn. Rốt cuộc, điều mà những người đang lớn tiếng kia chỉ là muốn loại trừ vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam mà thôi, và không cần phải phân tích những nội dung sai trái trong từng lập luận của họ cũng thấy rõ ý kiến của họ là gì. Bởi vì, mọi người có thể thấy rõ tất cả những lập luận trên chỉ là thứ tư duy chính trị dân chủ đa nguyên mà mấy chục năm qua, các phần tử “hành nghề chống cộng cực đoan” sử dụng ở ngoài nước, như ở nước Mỹ. Tôi biết quan niệm của ÐCS Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về dân chủ khác biệt về bản chất so với quan điểm của “các nhà dân chủ“, “người yêu nước” theo lập trường phương Tây. Dân chủ của nhân dân Việt Nam là dân chủ XHCN, thuộc về nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam – đại diện chân chính cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Hơn 80 năm qua, ÐCS Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhưng trong Cương lĩnh của mình, Ðảng cũng khẳng định rõ, Ðảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân lao động và toàn xã hội. Thử hỏi nếu không có ÐCS Việt Nam, những người đang lớn tiếng kêu gọi “bỏ Ðiều 4 ra khỏi Hiến pháp” đã trưởng thành từ đâu, được đào tạo dưới chế độ xã hội nào, khi nói lên ý kiến như vậy, họ không thấy bứt rứt trong lương tâm hay sao?

Dưới sự lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, sự nghiệp đổi mới đất nước hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” đã giúp cho mọi người dân thuộc các thành phần kinh tế đều được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ của mình thông qua Nhà nước pháp quyền XHCN – nhà nước của dân, do dân và vì dân. Cho nên hoàn toàn không cần tới cơ chế “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Lý luận và thực tiễn đều bác bỏ những vu cáo, bịa đặt về vai trò lãnh đạo của ÐCS Việt Nam, đồng thời cũng trực tiếp khẳng định các luận điệu tuyên truyền “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam thực chất chỉ nhằm thực hiện mục tiêu chính trị đen tối của các thế lực đang có tham vọng đi ngược lại xu thế phát triển tất yếu của đất nước. Sự thật trước sau vẫn là sự thật. Không ai có thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam! Quá khứ và hiện tại đã khẳng định chân lý đó. Việc làm của mấy người mượn danh “yêu nước“, tự coi mình “có trách nhiệm với dân tộc” không đánh lừa được những người yêu nước chân chính và có trách nhiệm thật sự đối với dân tộc. Tôi nghĩ, để đưa đất nước và dân tộc đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh“, nhân dân trong nước cần thống nhất, đồng thuận cùng ÐCS Việt Nam tiếp tục phấn đấu trên con đường mới. Sự nghiệp đổi mới đang còn nhiều khó khăn, thách thức. Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra phải có những nỗ lực vượt bậc của toàn dân tộc và nhân dân Việt Nam càng tin tưởng vào trí tuệ, bản lĩnh lãnh đạo của Ðảng, vào sự đoàn kết, nhất trí của toàn dân dưới ngọn cờ vinh quang của ÐCS Việt Nam. Dù ở nước ngoài, tôi vẫn tin như vậy, bằng chứng thuyết phục nhất đối với tôi là sự phát triển thần kỳ của đất nước mà tôi đã được chứng kiến sau mỗi lần về thăm quê hương. Dù ở xa Tổ quốc, tôi vẫn cố gắng góp phần nhỏ bé của mình cả về vật chất và tinh thần. Tôi hy vọng Báo Nhân Dân sẽ cho đăng bài này, vì đó là tấm lòng của một người con luôn gắn bó với quê hương, đất nước.

TRUNG THÀNH 
Hoa Kỳ – ngày 18-2-2013

http://www.nhandan.com.vn/cmlink/nhandandientu/thoisu/chinh-tri/binh-luan-phe-phan/khong-ai-co-th-ph-nh-n-vai-tro-c-a-ng-c-ng-s-n-vi-t-nam-1.393256


“Gia Tộc Họ Lại Hòa Cùng Niềm Tự Hào Dân Tộc”

Xin cảm ơn Cô Lại Thu Trúc đã gởi email cung cấp bài viết sau rất hay về những chi tiết mang tính lịch sử của gia tộc họ Lại.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

*******

GIA TỘC HỌ LẠI HÒA CÙNG NIỀM TỰ HÀO DÂN TỘC

Lại Thu Trúc

Thông tin về “82 bia tiến sĩ Văn Miếu được công nhận di sản thế giới” trên các báo đài ngày hôm nay đã đem đến người dân Việt thêm một niềm vui sướng tự hào về kho tàng ngày càng nhiều hơn những tinh hoa dân tộc trở thành di sản của thế giới. Những người thuộc các chi họ gia tộc họ Lại cũng qua sự việc này ôn lại sử sách về các triều đại của các Vua Việt để biết đến gần một trăm vị được tấn phong các chức như Đại Tướng, Thái Tể, Quận Công, những chức danh như Phò Mã, Công Chúa, và những tước hiệu của Công-Hầu-Bá-Tử-Nam, v.v., hoặc các học vị khoa bảng như Tiến Sĩ, v.v., có bia ở nhiều nơi, trong đó vài vị còn được góp mặt trong danh sách bia tiến sĩ tại Văn Miếu như:

- Cụ Lại Gia Phúc: Bia Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng Giáp), khoa Giáp Tuất niên hiệu Hồng Thuận

- Cụ Lại Kim Bảng: Bia Đệ nhị giáp Tiến sĩ (Hoàng Giáp), khoa Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu

- Cụ Lại Đăng Tiến: Bia Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Vĩnh Thọ

- Cụ Lại Duy Chí: Bia Đệ tam giáp Tiến Sĩ khoa Canh Thìn niên hiệu Chính Hòa

Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, họ Lại tự hào được cùng các họ tộc khác sánh vai lưu danh sử sách cho hậu thế, chẳng hạn như:

- Đời Vua Lý Cao Tông (1175-1210) và Lý Huệ Tông (1210-1225), cụ Lại Linh là một vị tướng  do lập nhiều chiến công gìn giữ bờ cõi nên năm Bính Tý 1216 được phong tước Quan Nội Hầu  cùng tước và vào cùng thời điểm với Ông Trần Liễu, thân phụ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Năm Mậu Dần 1218, Tướng Lại Linh được phong tước Bảo Tín Hầu giữ chức Khu Mật Tả Sứ Gián Nghị Đại Phu và được cử trấn thủ Châu Nghệ An.

- Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đã tấn phong cụ Lại Đôn Tín chức Trung Dũng Tướng Quân do đã có nhiều chiến công trong giai đoạn nước ta chống giặc Minh xâm lược.

- Với công trạng đánh thắng bọn nghịch thần phản tặc Đông Nham Bá, Đô đốc Lại Thúc Mậu đã được Vua Lê Chiêu Tông thăng tước An Mỹ Hầu và được cử đi tuần hành bình định xứ Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh).

- Sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú và sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn cùng viết rằng Cụ Lại Kim Bảng và Ông Nguyễn Thái Bạt với lòng trung liệt được nhà Lê biểu dương tại đền thờ là “Tiết Nghĩa Song Từ” và đến đời Vua Thiệu Trị và Tự Đức đều có sắc phong. “Hai ngôi đền lẫm liệt, ai trông thấy cũng phải cung kính.”

- Năm Kỷ Sửu 1529, Tướng Lại Thế Vinh chịu trách nhiệm liên hệ với nước Lào, được vua Xạ Đầu cho mượn đất Sầm Châu (nay là Sầm Nưa) làm căn cứ đóng quân. Năm Quý Tỵ 1533 Ông  được lệnh đem quân từ Sầm Châu theo dòng sông Chu về giải phóng huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), đắp lũy Vạn Lại, dựng tạm cung điện làm nơi tôn lập Thái tử Lê Duy Ninh lên ngôi. Đó là Vua Trang Tông nhà Lê Trung Hưng (sử gọi là Nam Triều). Năm Kỷ Hợi 1539 Vua Lê Trang Tôn tấn phong Cụ Lại Thế Vinh làm Hòa Quận Công và được ban ấn “Tướng Quân” cai quản quân bản bộ đi bình định các địa phương thuộc Thanh Hóa (vùng Thanh Hóa, Ninh Bình hiện nay). Đến đời Vua Lê Thế Tông, Tướng Lại Thế Vinh qua đời và được phong tặng chức Thái Tể Tráng Quốc Công Lại Đại Vương Thượng Thượng Đẳng Thần.

- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của cụ Ngô Sĩ Liên và Đại Việt Thông Sử của cụ Lê Quý Đôn, Việt Sử Thông Giám Cương Mục của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí và Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của cụ Phan Huy Chú, Lịch Sử Chế Độ Phong Kiến của Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội đều có viết về vị “Tướng có tiếng là tài giỏi và lập nhiều chiến công hiển hách Lại Thế Khanh.”

- Bộ An Nam Chí Lược và bộ Việt Sử Lược soạn vào cuối đời Trần có vinh danh các công trạng của nhiều vị tướng tài họ Lại.

Ngoài góp phần vào công cuộc dựng nước và giữ nước, gia tộc họ Lại có các vinh hạnh được Vua Lê Huyền Tông ban tặng “Khai quốc công thần, triệu Nam hữu Lại” tức “trong số những bày tôi lập công mở nước xây dựng nước Nam, có người họ Lại”. Nhà Vua còn tự tay đề tặng họ Lại một câu đối hiện được khắc gỗ sơn son thếp vàng tại Từ đường họ Lại, thờ đức Triệu Tổ Lại Thế Tương và Khiêm Quốc Công Lại Thế Khanh.

Qua nhiều đời, các chi tộc họ Lại cũng đã có nhiều thành viên góp phần vào sự nghiệp phát triển nền văn hóa nước nhà, giúp dân khai khẩn, trồng trọt, dùng y thuật để điều trị chăm sóc dân nghèo, được truyền tụng không chỉ trong các tài liệu mà cả trong các sự tích truyền miệng dân gian.

Trong gia phả họ Lại, ắt sẽ không thiếu bóng dáng nữ lưu họ Lại xứng đáng là con cháu Bà Trưng Bà Triệu, mà lòng nhân hậu, trung trinh, giỏi việc nước, đảm việc nhà, luôn là những đức hạnh vốn có của phụ nữ dòng giống Tiên Rồng.

Là nữ nhi của gia đình họ Lại, tôi cảm thấy trào dâng cảm xúc tự hào khi đọc những chi tiết về các tấm bia Tiến sĩ tại Văn Miếu, những ghi chú trong sử sách nước nhà về những tiền nhân góp công lớn trong dựng nước và giữ nước, để cảm nhận một điều rằng trong cái vui chung và lớn của cả dân tộc còn có sự xúc động của từng con người của từng họ tộc, trong đó có họ Lại của chúng tôi.

Lại Thu Trúc

TRÚC BỊ UNG THƯ PHÓNG VIÊN QUỐC THANH Ạ

Kính xin Ông Hoàng Hữu Phước cho Trúc đăng tạm bài này trên blog của Ông vì trang Emotino lại bị hacked phá hoại.

Xin cảm ơn Ông.

Lại Thu Trúc

**********

Không rõ Phóng Viên Quốc Thanh có hàm ý gì khi các anh Phóng Viên của các báo ra về hết thì anh nán lại đặt câu hỏi với Ông Hoàng Hữu Phước là người Thầy mà Trúc kính trọng rằng Trúc là cái gì của Ông Hoàng Hữu Phước.

Lý ra Trúc đã không phải nói ra một bí mật đau lòng nhưng do quá lo sợ rằng Phóng Viên Quốc Thanh sáng mai lại đăng một bài với một hàm ý nào đó thì lại khổ thân Trúc vì cả nước đọc báo Tuổi Trẻ. Ngoài việc Trúc là học trò luôn kính trọng Thầy Hoàng Hữu Phước thì còn là trợ lý của Ông và là một nhân viên trung thành (Trúc rất ngưỡng mộ sự trung thành của người Nhật)

Xin giải thích thêm với Phóng Viên Quốc Thanh, Trúc bị ung thư da mà Bác Sĩ đã ghi lời chẩn đoán bằng tiếng Anh trong hồ sơ là basal cell carcinoma, đó là nguyên nhân trên mặt Trúc có một vết sẹo dài là kết quả của cuộc phẫu thuật nhằm giữ lại mạng sống của mình. Phụ nữ có một vết sẹo trên mặt quả là chẳng hay ho gì, nhưng Trúc đã ráng vượt qua nỗi mặc cảm và thản nhiên vác cái mặt sẹo đó đi dự hội thảo các nơi và sống với một tinh thần tích cực. Vào thời điểm phát bệnh và phải mổ là cũng gần kề giai đoạn đám cưới nhưng Trúc và người yêu đã chia tay.

Ông Hoàng Hữu Phước và Vợ Ông Bà Vũ Thị Liên và Gia Đình Ông đều biết Trúc bị ung thư nên ngoài tình thân ra thì cả gia đình đều dành những sự chăm sóc quan tâm đặc biệt đối với Trúc.

Mong rằng qua những dòng chữ này anh sẽ hiểu vì sao người học trò trung thành và bạc phước này lại được cả gia đình Ông Phước ưu ái đến thế để không có bất kỳ sự băn khoăn nào về việc “Trúc là cái gì” . Phụ nữ ai cũng mong muốn có một gia đình hạnh phúc Phóng Viên Quốc Thanh ạ. Chắc không ai muốn mình trở nên bất hạnh đâu anh.

Phải giải thích ra những điều mà lý ra Trúc không muốn nói về bệnh tật của mình là điều chẳng đặng đừng, nhưng nói thật lòng anh đừng buồn nhé Trúc sợ Báo Tuổi Trẻ của anh Quốc Thanh lắm rồi ạ.

Nhân tiện, cũng xin được nói để Phóng Viên Quốc Thanh hiểu, anh có đề nghị với Ông Hoàng Hữu Phước là Emotino thì không phải của Ông ấy nhưng trang blog cá nhân thì của Ông ấy nên anh Quốc Thanh gợi ý Ông Phước gỡ bỏ bài viết của Lại Thu Trúc xuống. Rất tiếc là trong chiều nay, Ban Quản Trị Emotino đã gửi mail thông báo cho Trúc biết là Emotino đã bị hack thêm lần nữa và tình trạng rất nặng nên Emotino phải tạm ngưng toàn bộ hoạt động để khắc phục, sau khi khắc phục xong sự cố thì Emotino sẽ thông báo để các thành viên post bài lên. Vì vậy Trúc phải xin phép Thầy Phước cho được thông qua blog của Thầy mình mà giãi bày để Phóng Viên Quốc Thanh biết đôi khi có những nỗi đau mà người trong cuộc chỉ muốn “sống để dạ, chết đem theo” nay chẳng đặng đừng mới phải nói ra thôi.

Cuộc đời là vô thường Phóng Viên Quốc Thanh à. Mong anh hiểu mà không trách nếu như anh không có hàm ý xấu khi hỏi câu “Trúc là cái gì của anh Phước”. Thôi thì, hãy để mọi chuyện dừng lại ở đây đừng đẩy đi quá xa nữa anh nhé.

Lại Thu Trúc

ĐAU LÒNG CHO PV QUỐC THANH -TUỔI TRẺ

Lại Thu Trúc

Một năm trước đây khi Phóng viên Báo Tuổi Trẻ giật tít “ Không cần biểu tình vì dân trí thấp” mặc dù theo lời khẳng định của Ông Hoàng Hữu Phước Ông không hề có cụm từ “dân trí thấp” hoặc “Không cần biểu tình vì dân trí thấp” khi Ông trả lời Phóng viên Báo Tuổi trẻ tại Quốc Hội cả.

Sức công phá của Báo Tuổi Trẻ thật kinh hoàng, do giận dữ với cụm từ “dân trí thấp” là nhân viên của Ông Phước nên  ngay cả phụ nữ như tôi mà cũng nhận được nhiều tin nhắn với những lời thóa mạ tục tĩu đến mức tôi không tiện ghi lại nội dung trong bài viết này. Kinh hoàng hơn nữa đã có nhiều lời đe dọa sẽ đánh bom Ông Hoàng Hữu Phước và nhân viên của Ông.Cá nhân tôi cũng đã nhận được nhiều tin nhắn dọa đánh bom gia đình tôi trong suốt năm qua chỉ vì tôi là nhân viên của Ông Hoàng Hữu Phước với câu giật tít” Không cần biểu tình vì dân trí thấp” của Báo Tuổi Trẻ. Tôi đã bị gọi điện thoại chửi bới bất kỳ lúc nào dù cho đó là 3, 4 giờ đêm, chỉ vì “mày là nhân viên của….”

Hai giờ chiều qua 18/02/2013, Ông Hoàng Hữu Phước đã tiếp xúc và có cuộc trao đổi chân tình , thẳng thắn với 3 Phóng viên Việt Nam Net. Vào lúc 16 giờ chiều nay 19/02/2013 cũng có cuộc hẹn gặp phóng viên một số báo. Trong buổi gặp chiều qua với Vietnamnet tôi được phân công làm thư ký ghi chép nội dung buổi họp.

Cũng trong chiều qua, Phóng Viên Quốc Thanh báo Tuổi Trẻ liên lạc để hẹn gặp Công Ty chúng tôi vào lúc 16 giờ 30 phút. Khi xem lại lịch làm việc tôi đã báo với Ông Hoàng Hữu Phước là công ty chúng tôi có hẹn gặp một khách hàng là một cơ quan ngoại giao trùng với giờ của Phóng viên Quốc Thanh nên đã vội vã báo tin cho phóng viên Quốc Thanh để anh khỏi phiền anh mất công đến và báo trước là dời cuộc hẹn vào ngày hôm sau. Rất lạ là phóng viên báo Tuổi Trẻ vẫn đến và mặc dù tôi đã lịch sự xin lỗi đã đến giờ Thầy Trò chúng tôi lên đường và vì vậy hẹn trả lời phỏng vấn ngày hôm sau. Đau lòng thay sáng nay tôi được một người bạn gọi điện thoại với giọng nói hoảng hốt bảo tôi đọc ngay báo Tuổi Trẻ đi họ viết về cuộc phỏng vấn chiều qua…Thật lạ, vì chúng tôi đã hẹn gặp phóng viên Quốc Thanh vào chiều hôm sau, thật lạ vì cả hai Thầy Trò đều đã báo trước mà Phóng viên Quốc Thanh vẫn đến và mặc cho lời “năn nỉ” hết sức lịch sự và đầy kính trọng các nhà báo của tôi là “đã đến giờ hẹn rồi, anh thông cảm để hai Thầy Trò em đi họp với khách, công ty em đã báo trước là lỡ có hẹn với nơi khác, anh vẫn đến, bây giờ phải hồi lại ngày mai làm em áy náy quá”. Phóng viên Quốc Thanh đề nghị “tôi bắt tay anh Phước rồi đi ngay”. Thế mà sao nay lại có bài viết dài dằng dặc trên báo Tuổi Trẻ thế này. Sức công phá của Báo Tuổi Trẻ quả là kinh hoàng. Chiều qua, Thầy tôi- Ông Hoàng Hữu Phước đã chia sẻ rất chân tình với Phóng Viên Về những dư luận Thầy Trò tôi làm tay sai – liếm gót cho … không bằng một vị…

Cá nhân tôi- Lại Thu Trúc tuy chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt nhưng quyết không phải là kẻ tham danh lợi mà phải “liếm gót giầy bất kỳ ai” như những lời …

Thật đau lòng. Mong rằng Phóng Viên Quốc Thanh sẽ suy gẫm lại sự vội vàng của anh. Sao anh không thể nán lại chờ gặp phỏng vấn vào lúc chiều nay , thứ ba ngày 19/02/2013 mà đã vội vã tung ra những bài viết như vậy. Anh bảo anh làm vì cử tri ư ? Thật khó hiểu vì chẳng cử tri nào có thể đành lòng nếu như tôi và gia đình tôi bị đánh bom chỉ vì câu “dân trí thấp”

Phóng viên Quốc Thanh hãy đọc bài báo của Vietnamnet hôm nay khi các Nhà Báo Vietnamnet họp tại Công ty chúng tôi để thấy phong cách tác nghiệp chuyên nghiệp của đồng nghiệp anh khác xa với anh thế nào. Thật đau lòng thay !

Ở đời phải công bằng, vậy thử hỏi phóng viên Báo Tuổi Trẻ đã vì lẽ công bằng và công tâm chưa. Xin để Báo Tuổi Trẻ tự suy gẫm

Lại Thu Trúc

http://www.emotino.com/bai-viet/19820/dau-long-cho-pv-quoc-thanhtuoi-tre

ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

Thứ 3, 19/2/2013, 0:15

- Trả lời VietNamNet chiều 18/2, đại biểu QH TP.HCM Hoàng Hữu Phước có lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc và thừa nhận việc tranh luận trên blog đã đi quá xa.

‘Không ngờ bị phản ứng’

Mấy ngày qua, dư luận rất quan tâm thông tin ông viết trên trang mạng Emotion phê phán “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ” (tứ đại ngu). Lý do ông viết bài này là gì?

Thực ra, trang Emotion là một trang mạng diễn đàn của giới kinh doanh. Chủ trang này là một doanh nghiệp, người này đề nghị tôi viết vài bài. Lúc đầu chỉ tham gia thử, sau 4 năm, tôi viết đều, đến bây giờ chắc cũng được 700-800 bài rồi.

Trước đây, nói về luật Biểu tình, ông Dương Trung Quốc phát biểu tại hội trường: “Việt Nam đừng có làm cho mình trở thành một ốc đảo dị thường”. Báo chí sau đó lấy ra để đặt thành tít; khi đó tôi có viết một bài đưa lên trang Emotion.

 

Như vậy ngay từ năm 11/2011, tôi đã có bài “chỉnh lời” ông Dương Trung Quốc, tuy nhiên khi đấy tôi không nêu thẳng tên ông Quốc. Tôi đặt vấn đề thế nào là ốc đảo. Tại vì ông nói Việt Nam không có luật Biểu tình thì sẽ là một cái ốc đảo dị thường.

Trong bài viết, tôi nói câu này đã bị hiểu sai từ. Ý người đó muốn nói là hoang đảo chứ không phải ốc đảo. Cái ốc đảo là đẹp lắm. Ốc đảo là sự sống cả một vùng hoang mạc mà.

Sau này, ông Quốc có những phát biểu này phát biểu nọ, tôi cũng có những cái chỉnh nhưng chỉnh ở một góc độ nói trống không vậy đó. Những bài viết blog như vậy, gọi là “thuần nước đá”. Mình ví von blog như cuốn nhật ký, giống như để thùng nước đá do mình pha chế ngoài đường có đậy nắp, ai đi ngang khát nước dừng lại uống một chút.

Từ suy nghĩ đó tôi viết một bài hết sức vô tư, đăng trên trang mạng quen thuộc, không ngờ lại bị phản ứng như vậy.

Về từ ngữ tôi dẫn câu của Khổng Tử, ngày xưa ông Khổng Tử ông nói đại ngu; ngu ở đây được hiểu là cái sai nghiêm trọng thôi. Cho nên phải hiểu đây là những cái sai nghiêm trọng trong năm qua của ông Quốc. Lưu ý là tôi đã mở ngoặc Tứ Đại ngu và dẫn lời của ông Khổng Tử. Tuy nhiên với chữ Hán Việt, bây giờ người Việt Nam mình rất nhạy cảm, nghe thấy chữ “ngu” là dựng đứng lên rồi.

Phản ứng của đoàn ĐBQH TP.HCM như thế nào khi một thành viên đoàn lên mạng công kích một ĐBQH khác, thưa ông?

Sáng 18/2, thường trực đoàn ĐBQH TP.HCM cũng có gặp tôi tìm hiểu xem vì sao mình viết cái đó, có những bức xúc gì. Tôi cũng đã trả lời thẳng thắn như vừa trình bày với các bạn. Đó là với những cái thói quen viết một cách rất là trực ngôn.

Tôi suy nghĩ blog là một nhật ký mở, mình nói trong lúc nhà nước đang có quá nhiều cái để đương đầu, vậy mà ông Dương Trung Quốc liên tục nói về mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức… hãy để tập trung vào cái lớn.

Trong tình hình đất nước hiện nay, những kẻ xấu, các thế lực không thân thiện đang nhìn vào đất nước thì cái chuyện mình có trực ngôn, mình nêu lên, cũng như là cung cấp cho họ một cơ hội bằng vàng để họ có thể xúc xiểm QH, đại biểu QH Việt Nam. Rồi họ suy diễn tư cách của đại biểu như thế nào, môi trường QH như thế nào mà các đại biểu lại có những bức xúc không dám tranh luận ở trong nghị trường mà viết blog như thế.

Như vậy là mình tạo thời cơ cho những kẻ không có thiện cảm với Nhà nước mình. Họ có cái cớ tấn công cá nhân mình, tấn công tập thể mình đang sinh hoạt.

Còn về mặt chính kiến, tôi và ông Quốc vẫn bất đồng, và sẽ còn tranh luận nhưng phương pháp tranh luận sẽ phải khác đi.

Tôi thừa nhận là phương pháp tranh luận của mình sai khi đưa lên blog. Chính vì phương pháp sai này tôi có lời xin lỗi cá nhân ông Dương Trung Quốc.

Lẽ ra với những chỉ trích như vậy, tôi có thể viết một bức thư gửi Thường vụ QH, hay viết bài không ghi tên ông mà chỉ nêu quan điểm, theo dạng blog thì chắc là không có chuyện gì.

Tôi cũng xin khẳng định điều tôi viết là do tính bộc trực, không có ai giật dây gì cả.

Ông có lường được phản ứng dữ dội của cộng đồng mạng không?

Thực sự tôi không lường được như vậy. Hồi nãy tôi nói đó, viết rất vô tư… Kỳ này tôi lại nêu tên và cái đó là cái sai. Bởi vì, mình là đại biểu QH, ông Quốc cũng là đại biểu, trên mình còn có tập thể QH. Do vậy những căng thẳng hay bất đồng có thể trình bày trước QH thay vì blog hay diễn đàn. Đây là điều tôi phải rút kinh nghiệm.

Tôi sẽ trao đổi thẳng thắn, tranh luận trước diễn đàn QH chứ không viết blog như vừa rồi. Không chỉ trên diễn đàn QH mà ngay khi viết blog thì cũng phải để ý lời ăn tiếng nói.

Tôi xin lỗi

Nhiều cử tri TP.HCM đã tỏ ra bất bình. Họ tỏ thái độ thất vọng, thậm chí mất niềm tin vào người mà họ bỏ lá phiếu lại có những ứng xử như thế. Ông có thể nói gì với họ?

Tôi tin những điều giãi bày hôm nay, cử tri đọc sẽ hiểu thêm về tôi trước khi tôi có dịp tiếp cận để nói chuyện với cử tri. Thông qua báo VietNamNet, cử tri sẽ hiểu về tôi.

Lời bộc bạch của tôi hôm nay dứt khoát phải đi kèm theo những việc làm cụ thể trong thời gian tới. Chỉ còn hơn 2 năm làm đại biểu QH nữa thôi, mình phải làm những việc cụ thể để xứng đáng với niềm tin của cử tri.

Ông có muốn nói điều gì với ông Dương Trung Quốc không?

Thông qua VietNamNet, tôi gửi lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc vì tôi đã sai khi sử dụng phương pháp trình bày các ý kiến qua blog. Lẽ ra tôi chỉ nên gửi thư trực tiếp, gửi thư cho lãnh đạo nơi ông Quốc và tôi cùng sinh hoạt.

Thái Thiện – Tá Lâm

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/109444/db-hoang-huu-phuoc-xin-loi-db-duong-trung-quoc.html



Nỗi Nhục Của BBC Và Lời Khuyên Dành Cho Người Việt

Hoang Huu Phuoc, MIB

Ai cũng biết BBC là chữ viết tắt của British Broadcasting Corporation của Anh Quốc mà người Việt hay gọi tắt là “Đài BBC” tuy không chính xác vì BBC đâu chỉ là cái “đài”. Cái đài này năm ngoái đã đóng cửa chương trình phát thanh của Ban Tiếng Việt do mấy người Anh gốc Việt thường xuyên gây gỗ, hay đánh nhau. Đã có thời BBC bị nhạo thành Bolshevik Broadcasting Corporation, hoặc vướng vào nhiều vụ lẽ ra không thể tồn tại ở một tổ chức truyền thông đẳng cấp thế giới như thế. Nhân dịp Xuân Quý Tỵ 2013, một số người Mỹ gốc Việt ở California tụ tập tuyên bố vận động đóng góp quỹ nhằm “ mua lại cơ sở vật chất của cái Ban Tiếng Việt đã bị BBC đóng cửa ấy, với mục đích phục vụ bà con Việt Nam ở Việt Nam vì bà con Việt Nam ở Việt Nam bị chính phủ Việt Nam và Đảng Cộng Sản Việt Nam bưng bít sự thật về tình hình thật sự của Việt Nam”. Nghe đâu cái giá cũng rẻ, chỉ cần người Mỹ gốc Việt mỗi năm đóng góp khoảng 100.000 đô-la Mỹ để trả lương nuôi sống nhóm này là chúng có thể duy trì hoạt động “sáng tác các câu chuyện có thật” của cái cơ sở mua lại từ BBC ấy.

Không nói về cái sự thật mà tôi thường nêu về bọn người thích chửi bới quê cha đất tổ này là chẳng hề đóng góp gì cho chính phủ Việt Nam xây dựng quân đội chống lại sự xâm lược của Trung Quốc hay giúp xóa đói giảm nghèo, mà chỉ lo tụ năm tụ ba phá hoại bằng mọi cách, kể cả cách sử dụng lời chửi tục và đặt điều bôi nhọ khi muốn hưởng hết tiền quỹ hoặc đã xài hết tiền quỹ, chỉ cần nêu một sự thật là khi nhà hàng xóm của bạn mỗi ngày “sáng tác ra những câu chuyện có thật” về vợ chồng bạn cho con cái của bạn biết những gì mà vợ chồng bạn cố tình bưng bít, thì không cần là nhà tiên tri cũng biết ngay là vợ chồng bạn sẽ hoặc thưa nhà hàng xóm ra tòa án hoặc giải quyết nhanh gọn bằng cách lôi hết tiên tổ của nhà hàng xóm ra mà mắng chửi dậy làng dậy xóm với các từ ngữ như “mất dạy”, “vô duyên”, “vô lại”, “vô giáo dục” – và cái việc nhà hàng xóm đang làm giống như BBC và những con tương cận đang làm, còn cái việc vợ chồng bạn có thể sẽ làm thì giống như việc người Việt Nam sẽ làm vậy.

BBC có vô số nỗi nhục, mà gần đây nhất đồng thời tệ hại nhất, là vụ Sir Jimmy Savile, tức Đức Ngài Jimmy Savile (1926-2011), kẻ trong 4 thập kỷ múa may ở BBC từ 1959 đến những năm 1980 đã khiến 589 trẻ em trên phạm vi toàn quốc bị xâm hại tình dục, trong đó Đức Ngài Savile phá nát đời 450 em (82% là bé gái), số còn lại là do Đức Ngài cung phụng đáp ứng nhu cầu giải quyết sinh lý của các sếp ở BBC. Lợi dụng việc đa số phụ huynh muốn con em có dịp được chọn vào múa hát trong các chương trình tạp kỷ của mình trên BBC, Đức Ngài Savile tận dụng cơ hội để mặc sức thỏa mãn thú tính. Thậm chí với danh tiếng về tạp kỹ và hảo tâm, Đức Ngài làm việc từ thiện tại nhiều bịnh viện nhi, và thậm chí có trong tay xâu chìa khóa của các nơi này để lẻn vào phòng bịnh nhi giở trò dâm ô, như trường hợp bé gái 13 tuổi ở Bịnh Viện Stoke Mandeville, một bé trai 10 tuổi, và cả một bé gái 8 tuổi vừa qua ca phẫu thuật, v.v. Sự ghê tởm còn ở mức độ khủng khiếp khi chính cháu ruột của Savile là Caroline Robinson cho biết cô hồi nhỏ đã bị Đức Ngài lạm dụng tình dục hai lần mỗi khi có tiệc tùng sum họp gia đình. Tất nhiên, gia đình Caroline nhắm mắt làm ngơ vì không ai dại gì làm ô danh một người nổi tiếng với hầu bao đầy ắp chu cấp cho họ; còn BBC nhắm mắt làm ngơ không những vì  không ai dại gì làm ô danh một người nổi tiếng đem thu nhập kếch sù về cho BBC mà còn vì các lãnh đạo của BBC cũng được hưởng thú vui từ “nguồn hàng” của Đức Ngài ấy. Chính sự im lặng này đã đưa thêm hàng trăm em vào danh sách bị xâm hại tình dục, trong khi Đức Ngài Savile được phong tước “Hiệp Sĩ”, được hội kiến Đức Giáo Hoàng, được bao danh dự cho đến tận ngày cuối cuộc đời.

Sự đời tuy không phải lúc nào cũng có được sự công bằng, như việc một bé gái đã không bị sự đe dọa làm khiếp sợ, và bé gái ấy đã được tìm thấy trong tư thế treo cổ tự vẫn, còn những người bây giờ mới tố cáo thì cũng đã ở tuổi làm mẹ làm cha. Song tấm bia mộ hoành tráng của Đức Ngài Savile chỉ tồn tại có 19 ngày vì sau đó chính gia tộc của Đức Ngài đã lẳng lặng cho bứng khỏi nghĩa trang vào đêm 10-10-2012; đồng thời cũng trong thời gian này những bút tích vinh diệu của Đức Ngài Savile tại Tòa Thị Sảnh Leeds cũng bị xóa sạch, v.v. Chỉ còn tước Hiệp Sĩ do Nữ Hoàng Anh phong tặng là vẫn tồn tại, và đó là lý do vì sao cái gã bịnh hoạn thú vật dã man ấy vẫn phải được gọi là Đức Ngài Savile.

Từ những chuyện xấu xa tồi tệ trên ở một cơ quan truyền thông đại chúng của một quốc gia được xem như cái nôi của văn hóa văn minh học thuật phương Tây, người ta dễ dàng nhận ra rằng một thông tin được ký duyệt bởi vị sếp vừa đè ngửa một bé gái hay lật úp một bé trai không thể nào là một thông tin sạch. E rằng nhóm người Mỹ gốc Việt vừa bàn luận cách gây quỹ để mua lại cơ sở hạ tầng của Ban Tiếng Việt của BBC phải tắm rửa cho nó thật kỹ mới may ra bớt đi phần tanh hôi tội lỗi, từ đó mới giúp các bản tin phát ra không mang theo mùi khó ngửi.

Đối với người Việt ta, gần đây đã phải đối phó với nạn thực phẩm bẩn, nên vấn đề an toàn vệ sinh được đưa lên hàng đầu, bằng cách không mua ăn những thứ không thuộc nơi sản xuất chính danh chính thức chính tâm chính đạo. Nay trước sự việc tồi tệ ghê tởm của BBC, ắt ta lại phải đối phó với nạn thông tin bẩn, và ắt vấn đề an toàn vệ sinh tinh thần cũng nên được đưa lên hàng đầu bằng cách không tìm đọc và không cho con cái tìm đọc những thứ không thuộc cơ quan truyền thông chính danh chính thức chính tâm chính đạo. Ngoài ra, các bậc cha mẹ cũng nên tránh sa đà vào việc muốn con trẻ của mình thành ngôi sao hay được ở gần ngôi sao, mà muốn yên tâm thì hãy nhìn cung cách của Đức Ngài Savile trong các ảnh sau để cảnh giác trước các “ngôi sao” giống vậy:

Nếu trước đây có người gọi BBC là Bolshevik Broadcasting Corporation vì lên án BBC có bài viết chống Liên Xô quá yếu; thì nay tôi với lòng từ bi của người Việt muốn cảnh báo BBC rằng BBC hãy chấn chỉnh đội ngũ đừng tuyển dụng phường vô lại, nên giáo dục đội ngũ về đức tính trung thực luôn cần có nơi các cơ quan truyền thông nghiêm túc, và rà soát lại các nội dung thông tin của các “Ban” để nay là Thế Kỷ XXI rồi mà vẫn cho tồn tại cái gọi là anti-Viet (chống Việt) và anti-communist (chống cộng) hoạt động giống như chuyện nhà hàng xóm kể ở trên thì thật quái gở, vì rằng nếu không kịp thời chấn chỉnh thì sẽ đến lúc hoặc Anh Quốc phải đóng cửa BBC (thủ tướng Anh đã sốc trước các điều tra về Đức Ngài Savile nên e là sẽ không để yên nếu BBC không cải hối ăn năn) hoặc BBC phải bị đổi tên thành Đài Bá Láp tức Babblement Broadcasting Calamity hoặc Bibble-babble Broadcasting Corporation.

Hoàng Hữu Phước, Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Máy nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Blog: http://antichina.blog.com, http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com, http://hhphuoc.blog.com

Món Quà Mùa Tết 2013 Của Độc Giả Emotino

Hoang Huu Phuoc, MIB

Độc giả 1:

12-02-2013

Em là xxxxxx Dũng, phóng viên Báo xxxxxxx, Thành phố Hồ Chí Minh. Em đang nghi phép ăn Tết dưới quê ở xxxxxxx. Em gởi email này đến Anh vì Ba em mới nhắc đến Anh. Tại vì em có thói quen hay in ra mấy bài viết nào em cho là “độc đáo” từ báo của em, báo khác, và từ trên các mạng xã hội hay blog để gom lại lâu lâu gởi về quê một cuốn cho Ba và mấy Chú mấy Cậu đọc chơi. Đặc biệt lần này Ba em “tuyên bố” giữa bàn tiệc nhậu Mùng Một Tết là “Tao không phải Đảng viên, ngay thằng con tao làm nhà báo cũng chưa vô Đảng. Nhưng từ nay tao theo mấy ổng vì Ông Phước Sài Gòn viết về Đảng hay quá xá!”. Đó là Ba em nói về bài Đa Đảng của Anh mà em copy ở Emotino. Thấy Ba phấn khích và vui như vậy, em nghĩ là em nên gởi mail này cho Anh để vừa cám ơn Anh, vừa mong có dịp mời Anh uống cà phê ở Thành phố vào thời gian nào thích hợp của Anh. Chúc Anh mạnh khỏe và thành công.

Trả lời Độc giả 1:

Cảm ơn Dũng nhiều. Dũng cho anh kính lời thăm sức khỏe và chúc Tết đến Ba Má em và các Chú các Cậu. Anh nghiện cà phê nặng lắm, nhưng thời gian ra quán thì lại khó thu xếp. Chắc để Anh mời em đến văn phòng Anh uống cà phê vậy nhé. Chúc em và gia đình năm mới an vui, hạnh phúc, thành công, nhiều may mắn. Thân mến. Hoàng Hữu Phước

Độc giả 2:

13-02-2013  14g08

Kính gởi Ông Hoàng Hữu Phước

 

Xem trong PhốBolsaTV tôi thấy ông trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV trong 9 clip rất hay. Tôi xem nhiều lần mà vẫn thấy chưa đã nên giới thiệu cho nhiều người cùng xem. Ai xem qua cũng thích sự thông minh sáng suốt của ông hết lòng vì tổ quốc vì nhân dân. Tôi ở Sài Gòn, sinh năm 48 thực đúng sanh 1945 và cũng là lúc Ba tôi theo tiếng gọi của non sông và đã anh dũng hy sinh tháng 9 năm 1950 tại Trà Vinh chức vụ tiểu đoàn phó 312. Mẹ tôi cũng được Chủ tịch Nước tặng Huy chương Kháng chiến Hạng nhất. Nếu ông vô Đảng để giúp Đảng lo cho dân cho nước được nhiều hơn thì rất hay. Tôi tên Lê xxxxxx, ở số xxxx, đường xxxx, phường xxx, quận xxxx, TP HCM.

Trả lời Độc giả 2:

Xin cảm ơn Anh đã gởi tin nhắn. Rất biết ơn những cống hiến của hai Bác giúp đất nước mình có được như ngày hôm nay. Về vấn đề vào Đảng, tôi có trả lời PhốBolsaTV một số ý, trong đó có nêu tuổi tác và Đảng luôn có sức mạnh từ sự ủng hộ của nhân dân. Tôi luôn muốn trở thành đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhưng suy nghĩ thật kỹ sao cho thực sự có ích cho Đảng, tôi vẫn cho rằng ở ngoài Đảng tôi có thể giúp nhiều hơn, chẳng hạn nhờ tôi ngoài Đảng nên PhốBolsaTV mới đến phỏng vấn, qua đó tôi mới phát biểu được về Đảng một cách hiệu quả đối với người nghe ở hải ngoại; hoặc nhờ ngoài Đảng nên tôi làm phe chống Cộng hải ngoại không thể bôi nhọ tôi chẳng hạn như bảo nào là tôi không phải vì Đảng mà là kẻ muốn lấy điểm với Đảng để vào Đảng rồi leo lên những chức vụ cao của chính quyền, v.v. Sống thanh bần như từ xưa đến nay, sống trung thực như từ nhỏ đến giờ, và sống thanh liêm thanh bạch để mong luôn xứng đáng với sự kính trọng của bao ngàn học trò, tôi dù đã vào Đảng hay chưa vào Đảng vẫn là tôi như thế. Đảng và Nhà nước cần có những gì để phục vụ nhân dân và bảo vệ tổ quốc, thì cùng với bao người dân khác tôi cũng sẽ ra sức hiến kế, tìm mưu. Việc tôi làm chỉ mong được xem như cố gắng sao cho xứng đáng với sự hy sinh quá lớn lao của bao người, trong đó có Ba và Má của Anh. Tuy nhiên, tôi sẽ nghiêm túc suy nghĩ thêm về lời góp ý rất mới lạ của Anh. Kính chúc Anh và gia đình an vui, hạnh phúc, nhiều may mắn.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

 

Nhiều độc giả khác:

 

Trả lời:

Xin cảm ơn các Anh các Chị đã gởi tin nhắn động viên. Kính chúc các Anh Chị và gia đình an vui, hạnh phúc, nhiều may mắn.

Trân trọng,

Hoàng Hữu Phước

Các bài viết liên quan:

Hoàng Hữu Phước. 13-02-2011. Đa Đảng. http://www.emotino.com/bai-viet/18997/da-dang

Hoàng Hữu Phước. 20-3-2012. Tôi và Hai Anh Bộ Đội. http://www.emotino.com/bai-viet/19505/toi-va-hai-anh-bo-doi

Lại Thu Trúc. 26-7-2012. PhốBolsaTV Hoa Kỳ Phỏng Vấn Ông Hoàng Hữu Phước. http://www.emotino.com/bai-viet/19627/phobolsatv-hoa-ky-phong-van-ong-hoang-huu-phuoc

Hoàng Hữu Phước. 17-01-2013. Bức Tâm Thư Gởi Người Dân Việt Thiệt. http://www.emotino.com/bai-viet/19797/buc-tam-thu-gui-nguoi-dan-viet-thiet-nhan-nghe-ve-huy-duc-phan-1

Hoàng Hữu Phước. 09-02-2013. Dương Trung Quốc. http://www.emotino.com/bai-viet/19810/duong-trung-quoc-tu-dai-ngu

Bức Tâm Thư Gửi Người Dân Việt “Thiệt” – Nhân Nghe Về Huy Đức –

Hoang Huu Phuoc, MIB

A)  Dẫn Nhập: Nhân Nghe Về Huy Đức

Chuyên tâm học tập theo lời giáo huấn của bậc kỳ tài của Việt Nam Cộng Hòa như Thầy Nguyễn Quang Tô*, hành sử theo dũng khí của thần nhân và tư cách cao trọng của thánh nhân trong “mắt chẳng nhìn sắc gì trái lễ, tai chẳng nghe những thanh gì trái lễ, miệng chẳng thốt những lời gì trái lễ; thịt xắt chẳng ngay chẳng ăn, chiếu trải chẳng ngay chẳng ngồi; người không đạo nghĩa dứt khoát không giao du, vật phi nghĩa dứt khoát không thu nhận; ở gần người hiền thì vui mừng như ở cạnh hoa khoe hương sắc, thấy kẻ ác thì tởm lợm như gặp loài rắt rết”, tôi đã không thèm đọc bất kỳ trang nào của cái “tác phẩm” mà Huy Đức từ Mỹ mới tung ra trên mạng. Song, những âm thanh ồn ào của phía hồ hởi hân hoan tận dụng và bên nghiêm chỉnh phán phê đã khiến tôi, người học trò của bậc kỳ tài, đang tu theo cái thần và cái dũng của thánh nhân không thể không yêu cầu nhân viên kể tóm lược nội dung và tôi đã nhận ra ngay chân tướng sự việc khiến phải viết ra đây sự thật trụi trần dù biết thế là nhẫn tâm vùi dập cơn hoan hỉ của phe đang hí hửng sảng mê chống cộng, cũng như đan tâm trách chê trình độ của bên phê phán, vì rằng cái cốt lõi của vấn đề là Huy Đức trốn chui trốn nhủi vào sọt rác để né sự thật, còn các bậc phê phán Huy Đức lại chẳng biết trong vô số sự thật nên chọn cái sự thật nào giông giống bộ dây da được bày bán trong khu hàng đặc biệt cho chó để khóa mõm hắn ta. Lăng Tần tôi nay do tính thương dân trọng chúng, không muốn sự ồn ào làm xao nhãng việc cảnh giác ngoại xâm an nguy xã tắc, xin thố lộ đôi dòng sự thật như đóng góp nhỏ vào lịch sử cận đại của sơn hà, vì nếu như để kẻ như Huy Đức lúc Giải Phóng Miền Nam mới 13 tuổi ắt còn đứng cởi truồng vạch quần phía dưới tồng ngồng chưa biết mắc cỡ đái bậy ngoài đường chả biết ất giáp chi chi về cuộc đời, nay mới nhớn đã buột mồm phía trên chẳng biết ngượng nhục nói bậy ngoài nước thì không còn chi là đạo lý nhân luân trong xã hội loài người. Tôi, Hoàng Hữu Phước, sinh năm 1957 tại Bảo Sinh Viện Từ Dũ Sài Gòn, công dân Việt Nam Cộng Hòa 18 tuổi chẵn trình độ học vấn tú tài lúc Giải Phóng Miền Nam, đã có hiểu biết chín và mùi, và nhận định cá nhân về chính trị – xã hội – đạo đức – giáo dục – tôn giáo – quân sự – triết học cùng tình yêu trai gái biết hẹn biển thề non, xin kể ra đây toàn sự thật và không có gì khác hơn ngoài sự thật.

B)   Lời Hoàng Hữu Phước, Nhân Chứng Của Việt Nam Cộng Hòa


Xin tự giới thiệu tôi là Hoàng Hữu Phước, dân Sài Gòn “thứ thiệt” qua tấm căn cước trên của Việt Nam Cộng Hòa, minh chứng tôi đã là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa, trong khi Huy Đức (chớ biết tên của kẻ luôn xấu hổ về tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho này là gì) chưa từng đủ sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, và năng lực hành vi để được Việt Nam Cộng Hòa cấp căn cước công nhận trưởng thành để có đủ sức hiểu biết về bất kỳ điều gì hay ho của Việt Nam Cộng Hòa mà từ đó có khả năng khả dĩ có thể so sánh và sầu muộn phê phán Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà nói theo bậc thầy về tiếng Anh đứng đầu trong tất cả nhân loại có gốc Việt Nam thì Huy Đức là kẻ immature, unfinished, illiterate, incapable, treacherously parasitic good-for-nothing wretched.

1- Lịch Sử Và Sự Bôi Bẩn Của Bọn Bất Lương Bất Tài Bất Hạnh

Trong khi tất cả những nhà trí thức hàn lâm trên toàn thế giới biết rất rõ là chính Karl Marx “đẻ” ra … “chủ nghĩa tư bản” với nội hàm một hệ thống, một phương thức sản xuất, một…”chủ nghĩa”, tức là trước Marx chưa hề có cái gọi là “chủ nghĩa tư bản”, và dương nhiên là chưa hề có bất kỳ thứ gì liên quan đến triết thuyết về “chủ nghĩa tư bản”, nên khi xuất hiện “chủ nghĩa cộng sản” như một hệ thống triết học thì các nhà trí thức hàn lâm mới ra sức nghiên cứu, và tất nhiên dẫn đến việc hoàn toàn tự nhiên là rất nhiều người cho rằng mình đã nhận ra các yếu điểm hoặc các vô lý của triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nên viết các công trình hàn lâm vĩ đại để bài bác triết thuyết ấy, và cũng là việc hoàn toàn tự nhiên khi rất nhiều người cho rằng mình đã nhận ra các ưu điểm hoặc các hữu lý của triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản” nên viết các công trình hàn lâm vĩ đại để ủng hộ triết thuyết ấy, mà gần đây nhất là công trình nghiên cứu mang tên “Tại Sao Marx Đúng?” của Giáo sư Đại học Lancaster Anh Quốc Terry Eagleton do Đại học Yale lừng danh của Hoa Kỳ xuất bản năm 2011 vẫn đang gây cơn sốt chấn động thế giới trí thức hàn lâm chốn trời Âu Mỹ; thì những người Việt chống cộng lại rất cô đơn vì họ không thuộc giới học giả hàn lâm từng có nghiên cứu về (và hiểu) chủ nghĩa cộng sản, không có viết các tác phẩm vĩ đại về kết quả nghiên cứu trừ những bài viết bằng tiếng Việt “hù” người Việt về chủ nghĩa cộng sản chứ chưa hề có “công trình” nào bằng tiếng Anh được giới học thuật Âu Mỹ cho phép đứng vào vị trí “công trình nghiên cứu” có “giá trị”, nên do đó chỉ là thiểu số vô học (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), bất hàn lâm (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), phản học thuật (về triết thuyết “chủ nghĩa cộng sản”), không có khả năng chống lại một triết lý mà chỉ hành động như đám lưu manh chưởi bới đe dọa và chống lại những người tin vào chủ nghĩa cộng sản, mà như thế là vi phạm nhân quyền một cách nghiêm trọng, chà đạp tự do của người khác một cách thô bạo, hủy hoại ngôn ngữ (gọi người cộng sản là “khát máu”) một cách bỉ ổi, phơi trần tấm thân tệ hại với chiếc mồm quỷ biện xảo biện ngụy biện về cái gọi là “Việt Nam điêu linh” một cách đáng thương hại, đứng trên và ngập ngụa trong đống phân mà hùng hổ chỉ tay chưởi bới cái hôi thối nào đó của Cộng sản Việt Nam mà trong những kẻ đứng trong phân ấy có cả những “nhà tu hành” Mỹ gốc Việt, tức đám người ngợm không phải là công dân Việt.

“Bôi bẩn” tức “character asassination” là chiêu thức có đóng dấu cầu chứng tại tòa (trademark), có bằng sáng chế (patent) và có mang dấu ấn đặc thù Mỹ Quốc (americanist), được Mỹ bàn giao “chìa khóa trao tay” cho bè lũ chư hầu (underdog) – trong đó có chính quyền Sài Gòn của Việt Nam Cộng Hòa. Tay nghề của chúng rất cao, được tự động hóa hoàn toàn, như được minh chứng vào tháng 11-2011 khi Đại biểu Quốc hội Việt Nam Hoàng Hữu Phước phát biểu tại Quốc hội Việt Nam tranh luận về xuất xứ của ngôn từ “biểu tình” trong tương quan với tiếng Anh “protest demonstration” thì ngay ngày hôm sau bọn underdogs này đã tung lên mạng một bài viết cứ như là do “ông thầy” của đại biểu Phước viết để nêu các điều xấu xa của đại biểu này. Tất nhiên, ngay sau đó, thay vì phân bua cải chính, đại biểu Phước đã như bậc trưởng thượng có các bài viết trên emotino.com về các “thầy cô” thứ thiệt như Trương Tuyết Anh*, đặc biệt là thầy Nguyễn Quang Tô, người đoạt giải thưởng Phủ tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, cùng các bằng chứng bút phê ngợi khen của các bậc thầy cô này, biến các bài viết bôi nhọ thành hớ hênh và làm kẻ viết bôi nhọ phải chịu nhục nhã khi tự phơi trần tấm thân tồi tệ trước bàng dân thiên hạ…net. Từ việc một “ông thầy” (80 hay 90 tuổi) ngay trong ngày phát biểu của đại biểu Phước tung ngay lên mạng bài viết hùng hổ tấn công đại biểu này, mọi người đã có thể thấy ngay rằng đó là sự dối trá, và nếu suy ra thì tất cả – chứ không phải là phần lớn – những gì bọn chống cộng viết ra hay nói về để chống lại Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam đều là rác rưởi, lếu láo, lừa bịp, và không bao giờ là thứ có giá trị tham khảo nghiêm túc. Huy Đức, dù chưa bao giờ là người “tài giỏi” để được giới chống cộng gốc Việt bàn giao bí kíp tu luyện thuật “bôi bẩn” kiểu CIA, cũng không ngu gì mà không biết cách lấy lòng chủ nhân, vì ngay như con mèo con chó còn biết cách ấy nữa là! Chỉ cần đọc tiếp các phần sau sẽ thấy rõ hơn sự non nớt mà Huy Đức đã phạm phải đến độ một nhà phân tích như ông cụ Lăng Tần vốn không phải là Đảng Viên Cộng Sản, đã vậy còn trong nhiều chục năm qua chuyên bị các bí thư đảng ở các cơ quan hay công ty nhà nước “đì”, ngăn chặn đường phấn đấu vào Đảng của cụ vậy mà cũng đã có thể vạch ra một cách dễ dàng.

2- Dối Trá Về Sự “Tuẫn Tiết” Của Các Tướng Lĩnh Việt Nam Cộng Hòa Năm 1975

Như nội dung tự khai của Huy Đức, y mới 12 hay 13 tuổi vào ngày giải phóng MiềnNam. Ở tuổi ấy, Huy Đức dứt khoát chưa thể nắm vững gì về từ vựng tiếng thuần Việt và tất nhiên không bao giờ biết quái gì về từ Hán Việt vốn của giới hàn lâm. Như đã nói, tôi 18 tuổi, có bạn học toàn lứa đôi mươi, nghĩa là có nhiều “người lớn” và tất nhiên nhiều người trong số họ nhập ngũ làm “chiến sĩ Cộng Hòa” hoặc là con em các sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sự thật là ngày 28-4-1975 là ngày cuối cùng tôi gặp họ, vì với nội dung mà giọng nói hoảng hốt của họ qua phone cho biết thì cha cùng anh trai sĩ quan của họ đã đào ngũ bỏ trốn về Sài Gòn để “tử thủ” tại nhà nhằm bảo vệ vợ và các con gái không bị làm nhục (tức làm nô lệ tình dục cho bộ đội Việt Cộng) hay bị hành hình (sau khi dùng kềm rút móng tay móng chân), và sự bảo vệ này có nghĩa cả nhà sẽ hoặc uống thuốc độc hoặc viên sĩ quan sẽ dùng súng lục giết cả nhà rồi tự sát. Đây là lý do tôi không còn bất kỳ người bạn học nào, tất nhiên ắt có vài người vượt biển nhưng không bao giờ đến được bờ đối diện. Sự ngu xuẩn của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa khi đặt điều bôi bẩn Việt Cộng như “tàn ác, dã man, khát máu” với dụng ý khiến toàn quân toàn dân Miền Nam hết lòng tử thủ, không ngờ mang hiệu ứng phản ngược khi gây ra sự thất kinh hồn vía, hoảng sợ kinh hoàng, dẫn đến việc tướng run rẩy chạy trốn đường tướng, quân rụng rời chạy trốn đường quân, và dân đổ xô chạy theo quân theo tướng, gây ra bao thảm cảnh suốt đường đào tẩu, cũng như cái chết của thân nhân các tướng lĩnh dưới họng súng của chính họ. Tự sát vì khiếp sợ, vì bất tài trên chiến trường, vì bị Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đầu độc, thế mà gọi là “tuẫn tiết” ư? Chỉ khi có danh dự, tiết tháo, mới phải bảo vệ bằng cái chết (hoặc bằng sự sống để có thể mắng chưởi kẻ thù nơi pháp trường như anh hùng Nguyễn Văn Trỗi), và đó mới là tuẫn tiết. Sống mà buôn lậu ma túy ở Tam Giác Vàng, lập danh sách lính ma để hưởng tiền lương dôi dư, tạo danh sách lính kiểng cho con ông cháu cha vô quân đội hưởng nhàn, khi quân Mỹ rút hết mới lòi bộ mặt tướng lĩnh không biết đánh trận, đã vậy không quyết tử trên chiến trường đến viên đạn cuối cùng mà vất súng lột áo tuột quần bỏ hàng ngũ chạy trước, và cùng đường nên phải giết cả nhà rồi tự sát, thế mà là tuẫn tiết ư?

Nếu Huy Đức dùng từ “tuẫn tiết” chính xác cho các vụ tự sát của các tướng tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa thì bất kỳ con người nào còn trí óc minh mẫn sẽ hiểu ngay lập tức rằng:

a) Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy bĩnh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tạo chướng ngại vật bằng cách vất bỏ quân phục, quân trang, quân dụng đầy đường nhằm ngăn chặn các đoàn xe tăng Việt Cộng, nhờ đó giúp các tướng lĩnh anh dũng của mình “tuẫn tiết” thành công sau khi giết sạch vợ con

 

b) Với trình độ ngôn từ của thằng nhóc 13 tuổi chưa từng biết thế nào là từ Hán Việt, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy quân đội Mỹ rất có uy lực tài chính qua việc thay mũ mỗi tháng một lần nên mũ đã qua sử dụng vất chất cao như núi, trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là mũ của các binh sĩ Mỹ tử trận tại Việt Nam.

c) Với trình độ ngôn từ của thằng nhóc 13 tuổi chưa từng biết thế nào là từ Hán Việt, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy người dân Việt Nam Cộng Hòa thán phục sự “tuẫn tiết” của các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa nên đã cho hàng ngàn xe đò đậu bít kín quốc lộ, ngăn chặn sức tiến công của Việt Cộng, nhằm bảo đảm các tướng tá Cộng Hòa “tuẫn tiết” thành công; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là cảnh tháo chạy tán loạn của dân khi thấy các tướng tá Cộng Hòa chưa đánh đã lo bỏ chạy kiếm tìm nơi “tuẫn tiết”

d) Với trình độ ngôn từ của thằng nhóc 13 tuổi chưa từng biết thế nào là từ Hán Việt, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy viên tình báo CIA Mỹ tài ba phát hiện một tên gián điệp cộng sản đang đu bám cửa máy bay trực thăng nên đã cho y một quả đấm thôi sơn văng xuống đất, trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là sự bất nhân của nhân viên Mỹ khi thấy nhiều người dân Việt đu bám lên máy bay khiến có nguy cơ chậm chuyến cất cánh của y với bằng chứng là gương mặt hốt hoảng của người em trai khi thấy anh mình bị đánh văng xuống đất

e) Với tư cách đốn mạt chuyên bôi bẩn của kẻ chưa từng trưởng thành, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy viên sĩ quan Hoa Kỳ đang cười mãn nguyện đầy tự hào trước bức tường khắc tên tất cả các binh sĩ Mỹ tử trận trong anh dũng và vinh quang tột bậc tại Việt Nam; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là bức tường đau thương, nơi các cựu chiến binh Mỹ đến để tưởng niệm các đồng đội đã bị các tổng thống Mỹ vất vào chiến trường Việt Nam để phải chết vô nghĩa trong cuộc chiến phi nghĩa tại Việt Nam

f) Với tư cách hạ đẳng của kẻ chưa từng trưởng thành, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy sau khi bay thoát khỏi Việt Nam hạ cánh an toàn xuống hàng không mẫu hạm Mỹ, mọi người đã hè nhau đẩy tất cả các máy bay mang huy hiệu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xuống biển như một “mưu trí tuyệt vời” nhằm tạo nên bẫy chông dưới đáy biển phong tỏa các chiến hạm cộng sản không thể truy sát chiến hạm Mỹ hoặc vượt biển tấn công Hoa Kỳ; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là do số lượng máy bay ra quá đông và người đào thoát quá đông, đến độ rất nhiều máy bay trực thăng sau khi ra đến nơi phải chờ đợi trên trời quá lâu đến độ hết xăng tự rơi xuống biển, nên Mỹ buộc lòng xô tất cả các máy bay đến trước xuống biển để có chỗ trống cho hàng trăm chiếc khác kịp thả người xuống tàu

 

g) Với tư cách hạ đẳng chuyên nói điều bá láp, ngụy tạo, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây cho thấy người dân Sài Gòn đồng loạt xuống đường kéo ra Dinh Độc Lập chặn đường các chiến xa Việt Cộng để không cho truy đuổi tàn quân Việt Nam Cộng Hòa đang tháo chạy về các vùng chiến thuật ở miền Tây hầu cũng cố phòng tuyến sau khi các tướng tá Cộng Hòa đã “tuẫn tiết” hết; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là cảnh người dân Sài Gòn đón mừng đoàn quân giải phóng

h) Với trình độ học vấn thấp kém như thường thấy ở các gia đình bất hạnh, Huy Đức sẽ bảo tấm hình dưới đây là bằng chứng về sự “bất tài về quản lý kinh tế” của cộng sản với lý do người biết làm kinh tế sẽ không cho húc đổ cánh cổng rồi bỏ tiền ra hàn lại cánh cửa ấy; trong khi “phe thắng trận” tức là phe cộng sản cứ cho rằng đây là cảnh tỏ rõ thần uy mang tính biểu tượng cho sự xô ngã chính quyền Việt Nam Cộng Hòa và dẫm đạp lên nó với sức mạnh chính nghĩa

Như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức thì các bức tranh trên ắt sẽ được chua với nội dung khôi hài, bẻ gãy ngòi bút, xé toạt tờ giấy, bôi nhọ sự thật lịch sử mà việc bôi nhọ sự thật lịch sử chẳng khác nào tự trây trét phân lên mặt nhóc Huy Đức. Đó là chưa kể sự thật do các “phóng viên chiến trường” vào sinh ra tử của nước ngoài ghi lại nhưng luôn bị tay “nhà báo bàn giấy nhàn cư vi bất thiện” Huy Đức ngó lơ, chẳng hạn như cô gái sau tên Lê Thị Nhiếp ở làng Bình Khánh, Bến Tre, đã kể cho phóng viên Jones Griffiths biết Cô đã bị trúng bom napalm Mỹ lúc 3 giờ chiều ngày 09-4-1964 dù làng Cô không có Việt Cộng. Chẳng qua vì muốn “dương Đông kích Tây” nên không quân Việt Nam Cộng Hòa đã ném bom dữ dội tiêu diệt làng Cô để che dấu sự thật là đang thả biệt kích xuống làng bên cạnh để tấn công bất ngờ Việt Cộng đang thực sự có mặt tại đó. Cô nói Cô chịu đựng được cơn đau nhức dồn dập ngoài da và thấu xương, nhưng Cô không sao chịu đựng nỗi ký ức về hàng trăm xác chết trẻ em làng Cô chỉ trong một trận bỏ bom ngày đó. Tại sao không, nếu vị tướng tá có tài cầm quân với chiến thuật “dương Đông, kích Tây” ấy đã “tuẫn tiết” và có tên trong danh sách anh hùng anh dũng Việt Nam Cộng Hòa của Huy Đức?

Và cũng như vậy, nếu ghi theo kiểu “tuẫn tiết” của Huy Đức hủy phá ngôn ngữ thì ắt tên tướng Nguyễn Ngọc Loan của Việt Nam Cộng Hòa, con chó ghẻ điên dại mà thế giới văn minh Âu Mỹ ghê tởm và khinh miệt do đã mọi rợ xử tử một tù binh Việt Cộng như bức ảnh trong tờ báo mà người vợ của tù binh ấy đang nắm trong tay với đôi dòng nước mắt dưới đây, được Huy Đức viết tiếp trong tác phẩm tiếp theo của y là vị anh hùng anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chiến hữu vinh dự của các vị sĩ quan “tuẫn tiết” chăng?

Còn bức ảnh dưới đây cho thấy chiến xa hạng nặng tối tân M48A3 đã được Mỹ đưa vào sử dụng trên chiến trường Việt Nam, và Huy Đức ắt không thể nào giải thích được vì sao Mỹ vẫn thua phải rút khỏi Việt Nam trong ô nhục, và vì sao các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa sau khi nhận bàn giao các phương tiện chiến tranh hiện đại đó lại phải … “tuẫn tiết”. Nghi vấn này chỉ có thể tìm được các câu trả lời chẳng hạn như các vị ấy “tuẫn tiết” do (a) lính Mỹ là lực lượng duy nhất chiến đấu trực tiếp với Việt Cộng nên khi nhận bàn giao, các tướng tá Việt Nam Cộng Hòa không biết phải sử dụng ra sao nên phải vất bỏ hết vũ khí rồi “tuẫn tiết” để mãi mãi không ai biết được sự thật là họ không biết đánh trận và không biết sử dụng vũ khí tối tân, do (b) bực tức trước kiểu bàn giao khí tài của Mỹ tức chỉ giao phương tiện chiến đấu mà không cung cấp tài chính để mua đạn dược cũng như không giao các bản hướng dẫn tháo ráp sử dụng do sợ lính Việt Nam Cộng Hòa trộm bán cho Việt Cộng khiến tiết lộ bí mật vũ khí hiện đại của Mỹ, do (c) vũ khí Mỹ thua xa vũ khí Liên Xô, hoặc do (d) Việt Nam Cộng Hòa và Mỹ hoàn toàn không có chính nghĩa trong cuộc chiến tranh vì Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng phá hỏng tất cả các cuộc đàm phán hòa bình thống nhất đất nước dù Mỹ mong muốn bắt tay với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và vì Mỹ đã sai khi tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Thua be bét trên mọi bình diện thì sao mà có được cái gọi là “tiết tháo” để được phép dùng từ “tuẫn tiết” để ngang hàng với Bà Triệu, Bà Trưng!

Là người gian xảo, chắc chắn Huy Đức chưa dám hủy tình trạng công dân Việt Nam để có thể nhận được sự cứu giúp của Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng các Tổng lãnh Sự Quán Việt Nam ở các tiểu bang, vì rằng khi gọi những sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa đã “tuẫn tiết” ở Việt Nam, Huy Đức đã … “chưởi xéo” rằng các tướng lĩnh Hoa Kỳ đã hèn hạ tháo chạy như vịt khỏi Việt Nam chứ không dám “tuẫn tiết”, và “chưởi thẳng” tất cả các sĩ quan các cấp của quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã hèn hạ bỏ vũ khí, bỏ quân lính dưới quyền, bỏ quân phục, khiếp sợ chạy thục mạng về Sài Gòn để kịp cùng gia đình bám càng máy bay hay trèo lên tàu bè rời bỏ Việt Nam trong nhục nhã, mặc cho các tướng lĩnh khác ở lại “tuẫn tiết, “ xem ra Huy Đức đã làm việc ngu xuẩn nhất đời y (hay y đã…lập “đại công” với cộng sản Việt Nam?) khi rặn đẻ ra “tác phẩm” gián tiếp thóa mạ quân đội Hoa Kỳ và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đến dường ấy, mà chỉ có kẻ ngu mới xem trọng như thánh thư.

Với tư cách công dân trưởng thành của Việt Nam Cộng Hòa đã hoàn tất học vấn tú tài để bước vào Đại Học Văn Khoa, tôi khẳng định các vụ tự sát của sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn do tâm lý bấn loạn từ tất cả các tác động của sự tuyên truyền của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa luôn khiến họ bất an khiếp sợ, sự phẫn nộ trước việc mình bị bỏ rơi khi tổng thống cùng các quan chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trốn chạy khỏi Việt Nam, sự thất vọng trước hành động bỏ mặc của chính phủ Hoa Kỳ đối với đồng minh, sự ân hận trước những tội ác bản thân đã gây ra mà bản thân tin chắc sẽ không bao giờ được “bên thắng trận” tha thứ.

Với tư cách người dân sống tại khu Bàn Cờ, Quận 3, Sài Gòn, cùng với tất cả cư dân Quận 3, tôi đã chứng kiến hàng chục xe Jeep chạy vào ngõ trường Phan Đình Phùng đậu xe trước nhà Ba Má tôi và chàng trai trưởng thành 18 tuổi (chứ không phải 13 tuổi) Hoàng Hữu Phước đã đứng trước cửa cùng bà con lối xóm chứng kiến việc hàng chục sĩ quan cấp úy (bông mai vàng) và cấp tá (bông mai trắng) nhanh nhẩu nhảy xuống xe, cởi bỏ áo giáp và quân phục, cởi bỏ giày và nón sắt, tháo rời tất cả các súng tiểu liên và trung liên, ra sức bẻ gãy cơ bẩm của súng hoặc uốn cong rồi vất mạnh lên các mái nhà, trước khi hỏi xin quần áo cũ cùng dép của các hộ dân đang đứng nhìn, rồi cùng nhau theo hẻm nhỏ chạy bộ ra đường Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai) để trốn về miền Tây. Đó là sự tháo chạy tán loạn trong kinh hoàng của các sĩ quan, bỏ mặc binh sĩ thuộc quyền “tử thủ” tại xa lộ và Cầu Phan Thanh Giản. Không bao giờ có cái gọi là tiết tháo nơi bọn sĩ quan cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa: bọn chúng hoặc bỏ chạy thành công, hoặc tự sát khi cùng đường để tránh một cái đáng sợ hơn cả cái chết đó là sự trừng trị. Không phải tự nhiên mà Việt Nam hiện nay phải tổ chức canh chừng không để những tử tù đang chờ thi hành án thực hiện việc tự sát để tránh việc hành hình, vì rằng chính sự sợ hãi trước việc hành hình mới ghê sợ hơn cả cái chết. Những tên mà Huy Đức cho là “tuẫn tiết” chỉ là những kẻ phải tự sát vì kinh hãi trước ý nghĩ bản thân sẽ bị cộng sản xử tội.

Với tư cách một nhà giáo cao trọng và kiêu hãnh kiêu kỳ kiêu căng kiêu ngạo do là người duy nhất có trong tay thủ bút của một bậc tài hoa của Việt Nam Cộng Hòa ngợi ca “tài đức” lúc bản thân mới ở tuổi 14, 15, tôi đã từng dạy kèm tiếng Anh cho một gia đình ở quận 11 trong thời gian họ chờ sang Mỹ theo sự bảo lãnh của vị sĩ quan cấp tá, mà vợ của vị này kể với tôi rằng bà đã giằng lấy khẩu súng từ tay ông khi ông bắt bà cùng với bốn đứa con gồm ba gái một trai quỳ nơi phòng khách để ông giết hết, không để cộng sản làm nhục. Nhờ thành công trong việc tước được khẩu súng ném ra khỏi cổng nhà, cũng như nhờ vị sĩ quan không dám chạy ra ngoài nhặt lại súng do tiếng tiểu liên AK đặc biệt của Việt Cộng (tiếng nổ rất uy lực làm khiếp vía đối phương, trong khi tiểu liên M của Mỹ dường như “tôn trọng” thói lịch sự không làm ồn ảnh hưởng đến … nhà bên cạnh nên có tiếng nổ đạt chuẩn đề-xi-ben thấp) gây khiếp đảm đã rất cận kề. Viên sĩ quan này sau đó đã được vợ dắt tay đến “trình diện” tại Ủy Ban Quân Quản, được “học” về các chủ trương chính sách của cộng sản Việt Nam cũng như về ý nghĩa của hòa bình, thống nhất, mà chủ trương chính sách ấy đã cho thấy ba cô con gái xinh đẹp ở tuổi đại học của Ông vẫn còn nguyên trinh tiết (và đủ số móng tay móng chân), bản thân ông được về sống an bình tại ngôi biệt thự của Ông và sau đó sang Mỹ cùng đứa con trai (dù bất hợp pháp), còn vợ Ông ở lại chăm lo cho ba cô con gái vẫn tiếp tục học đại học mà không bị tước hộ khẩu, tước học bổng, tước tiêu chuẩn nhu yếu phẩm và lương thực, để rồi cả bốn người sau đó rời Việt Nam bằng đường hàng không (một cách hợp pháp) để đoàn tụ sum họp đại gia đình ở Mỹ. Tôi là người luôn luôn “nói có sách, mách có chứng” nên luôn luôn thắng bọn chống cộng nào viết linh tinh nhằm “bôi nhọ” tôi nhờ có các bửu bối trong tay để chứng minh về bản thân mình cả về tính liêm khiết và các đức tính khác cùng năng lực chuyên môn. Về nội dung ở đây, tôi còn giữ vài bức ảnh màu do tôi thực hiện bằng máy Zenith của Liên Xô với phim màu ORWO của Đông Đức chụp chung với ba chị em nói trên tại vườn hoa trong biệt thự của họ vào tuần lễ trước khi họ rời Vệt Nam sang Mỹ; song, nhưng do tôn trọng sự riêng tư về gia đình của các cô học trò này, nhất là khi nội dung có nêu sự việc người cha sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa của họ đã run sợ đến dường nào trong ngày giải phóng đến độ muốn ra tay sát hại cả gia đình, tôi sẽ không bao giờ bày ra bức ảnh đó để chứng minh “người thật, việc thật”, nhưng tôi biết rất chắc chắn rằng tôi được sự cậy tin của tuyệt đại đa số người đọc blog vì tôi luôn nói về sự thật và không gì khác hơn ngoài sự thật.

3- Dối Trá Về Sự Yếu Kém Của Giới Lãnh Đạo Đảng Cộng Sản Và Nhà Nước Việt Nam

a) Khi hùng hồn nói về “sự yếu kém” hoặc … ngu xuẩn của giới lãnh đạo Đảng và Nhà Nước Việt Nam, Huy Đức đã sủa nhặng lên về cái gọi là thời cơ kinh tế khi Cộng sản bỏ lỡ cơ hội vào WTO trước Trung Quốc vì “nhường” Trung Quốc, hay về những lời nói giữa các lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, v.v. và v.v., mà có một tên Tiến Sĩ tên Quân thì phải hân hoan cho là đáng tham khảo mà không biết đã phạm một tội đại ngu mà không một tiến sĩ thực thụ nào phạm phải: đó là nguồn gốc xuất xứ các lời nói, các thông tin. Một thằng nhóc 13 tuổi ngày giải phóng 30-4-1975, tại một đất nước có các lãnh đạo bảo thủ cực kỳ xem trọng thứ bậc nội bộ (nghĩa là cởi mở với “dân” để “gần” dân, nhưng không bao giờ cho phép có sự tiếp cận của người “nội bộ” nào không ở cấp lãnh đạo hay cấp cao tương xứng), thì khi Huy Đức sinh sau đẻ muộn với thân phận một “nhà báo” đẳng cấp thấp (tiếng Miền Nam gọi là “quèn”) thì cách chi mà Huy Đức được ở gần các lãnh đạo đến độ “nghe” (nhưng không thể ghi âm làm bằng chứng) các lời đối thoại “động trời” giữa tất cả các vị ấy với nhau! Huy Đức đã cố tình “bôi bẩn” các vị ấy, mà vài điểm sau đây có thể dùng để khóa mõm Huy Đức, lôi hắn xềnh xệch từ chuồng ra ánh sáng văn minh của học thuật chân lý hàn lâm:

b) Khi nói nhăng nói cuội về WTO, Huy Đức đã cố tình hay thực sự ngu dốt không biết rằng (a) đó không là nơi ai muốn vào thì vào, cứ nộp đơn là xong. Chỉ có sự kiên trì cùng mức độ hùng biện “trên cơ” cộng với sức khỏe tuyệt luân, các nhà đàm phán Việt Nam mới buộc được phía Mỹ phải chấp nhận trong cơn ngủ gà ngủ gật vì kiệt sức do đoàn Việt Nam “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm”; và rằng (b) ngay cả Mỹ cũng nhanh tay nhanh chân viện trợ cho Campuchia và cơ quan Lao Động Liên Hiệp Quốc cũng nhanh tay nhanh chân trút viện trợ ào ạt cho Campuchia hầu giúp nước này đạt các chuẩn mực về lao động, từ đó có khả năng thu hút, hớt tay trên các hợp đồng may mặc béo bở với khối EU; nghĩa là tất cả đều ra tay nhằm ngăn chặn Việt Nam tồn tại, phát triển. Tất nhiên sau đó, Mỹ mới nhận ra cái ngu xuẩn triền miên của mình là Campuchia phản phúc nghiêng theo Trung Quốc chứ không phải Hoa Kỳ, và do đó làm suy yếu vai trò của Mỹ ở khối ASEAN.

c) Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam trong việc đề ra các chính sách kinh tế, Huy Đức đã rất dại dột lờ đi sự thật rằng (a) mấy chục năm nay bọn người Mỹ gốc Việt chống cộng đã luôn sủa về “vi phạm nhân quyền”, luôn kêu gọi “cấm vận Việt Nam”, luôn hô hào “tẩy chay kinh doanh với Việt Nam”, luôn tổ chức hết “đấu tranh võ trang phục quốc” tới “chuyển lửa về quê” và “diễn biến hòa bình”, hay “chuyển hóa” v.v. và v.v. nhằm lật đổ chế độ cộng sản Việt Nam; và (b) rằng một đất nước bị Mỹ cấm vận, bị bọn người ngợm gốc Việt chơi xấu tồi xấu tệ, thì nếu có khó ngóc đầu lên về kinh tế cũng là việc đương nhiên. Ấy vậy mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khiến thế giới phải “biết” về Việt Nam, điều mà không bất kỳ ai trong số các “nhân tài” của Việt Nam Cộng Hòa do Mỹ đào tạo và có học vị cao cấp của Mỹ có thể làm được điều tương tự cho các vị tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa.

d) Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam trong việc lãnh đạo đất nước hay trong đề cử những người ra lãnh đạo Đảng và Nhà Nước, Huy Đức và những tên tương cận đã chưa biết gì về sự thật mà tôi sắp nhắc đến trong phần số 4 bên dưới.

e) Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam trong việc quản lý đất nước, Huy Đức và những tên tương cận đã dường như muốn “chưởi xéo” chính phủ Hoa Kỳ vì chính họ bất tài vô dụng khiến nước Mỹ lâm cảnh nợ nần, suy thoái kinh tế, đẻ ra “vách đá tài chính”, mất uy đối với thế giới, bị các nước Nam Mỹ thách thức, bị Trung Quốc dọa nạt, bị … cụ Lăng Tần nhạo báng bằng lời bất kính, bất trọng.

f) Khi nói với giọng miệt thị về các vị Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, Huy Đức và những tên tương cận đã cố tình lờ đi một sự thật mang tính chân lý tối thượng là chính các vị ấy (a) được chính phủ Mỹ tôn trọng và trân trọng; (b) được nguyên thủ tất cả các cường quốc kinh tế tôn trọng và trân trọng; (c) có tài duy trì ổn định chính trị, phá tan tất cả các kế hoạch ác tâm của tất cả các nhóm chống cộng; (d) có tài xây dựng kinh tế nước nhà vượt qua thành công cuộc cấm vận kinh tế tàn khốc của Mỹ để trở thành một thực thể đáng kính đến độ ASEAN phải thay đổi sách lược, mời Việt Nam gia nhập khối, cũng như khiến Thái Lan không cho phép bọn chống cộng được tiếp tục sử dụng lãnh thổ Thái Lan để lập căn cứ chống phá Việt Nam; (e) có tài bảo vệ đất nước trong đập tan nát tất cả các chuyến xâm nhập của bọn chống cộng và các cuộc xâm lược của ngoại bang như Trung Quốc và Campuchia; và (f) có tài đưa Việt Nam thành nước đảm nhận các vị trí quan trọng của các tổ chức quốc tế.

4- Cộng Sản Việt Nam Đối Với Vấn Đề Trân Trọng Trí Thức Việt Nam Cộng Hòa Từ Ngay Sau 1975

Khi nói nhăng nói cuội về sự yếu kém của Đảng Cộng Sản Việt Nam do thiếu bóng dáng trí thức trong Đảng cũng như do chủ trương không xem trọng trí thức, Huy Đức và tất cả những tên tương cận đã ngu xuẩn tự vạch áo cho người xem lưng rằng họ không nằm trong đội ngũ trí thức, hoặc khi còn ở Việt Nam họ là thành phần đứng bên ngoài khu vườn trí thức, còn khi sang Mỹ họ cũng là thứ trí thức immature, unfinishhed,incapable do không biết gì về sự thật ở Việt Nam, hoặc thứ trí thức bất lương, bất khả tư nghị do cố bôi nhọ sự thật của Việt Nam – mà như thế thì đúng là thứ vất đi illiterate, treacherously parasitic good-for-nothing wretched.

Vì đứng vào hàng ngũ giảng viên Anh văn chính quy tại Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước tức vỏn vẹn vài năm sau giải phóng 1975, tôi đã chứng kiến bao cảnh…“bất công”. Trong khi tôi và các giảng viên khác hàng tháng lãnh lương “bèo”, mỗi tháng đứng xếp hàng với sinh viên nhận vài ký bo bo hoặc bột mì (về pha nước, vo viên thành cục, đem hấp, lấy ra cầm ăn với muối ớt y như gặm trái banh tennis), một cục thịt như nắm tay mà phần lớn là xương với xẩu, v.v., thì tất cả những người có bằng cử nhân của Sài Gòn trước 1975 hoặc bằng cao học (nay gọi là thạc sĩ) của Mỹ trước 1975 đều được nhận thêm một khoản tiền bồi dưỡng gọi là trợ cấp đãi ngộ trí thức cũ của Miền Nam, cùng các khoản phụ cấp khác, do mức độ trí thức của các vị này cao nên họ được bổ nhiệm làm lãnh đạo các phòng ban để có thêm phụ cấp chức vụ, v.v. Đất nước kiệt quệ bị Mỹ bủa vây cấm vận, bị bọn người Mỹ gốc Việt chống phá bằng vũ lực, bị bọn bá quyền Trung Quốc tung tiền giả phá hoại kinh tế, bị những vết thương loang lổ của chiến tranh làm đớn đau oằn oại, phải vật lộn với từng chuyến phân phối hàng nhu yếu phẩm nuôi sống toàn dân, ấy vậy mà Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam vẫn cố gắng gom góp chắt chiu từng nắm gạo và bớt xén chi tiêu ngay cả đối với các khoản lẽ ra dành phụng dưỡng mẹ cha các liệt sĩ, để cung cấp thêm cho các trí thức chế độ cũ được hưởng nhiều hơn, tốt hơn, yên tâm giúp nước, vì trí thức chính là cái mà Đảng và Nhà Nước Việt Nam xem trọng, luôn xem trọng, và luôn cần đến cho đại cuộc xây dựng nước nhà.

Ấy vậy mà thái độ của các nhà trí thức như thế nào? Thời chống Pháp, họ có thiên kiến và định kiến cổ hủ về quyền lực của họ trong trị quốc, nên tất nhiên đại đa số không ủng hộ các thứ liên quan đến giới “thất học cùng đinh” như của công nhân mà cộng sản tôn vinh, cổ súy. Thậm chí có những “nhà chí sĩ” làm những việc nhục quốc thể như viết sách rồi khóc lóc xin một danh nhân của Trung Quốc hạ cố viết lời giới thiệu, có vị lại tích cực liên lạc với quân phiệt Nhật với hy vọng quân đội Minh Trị Thiên Hoàng hạ cố đem quân sang Việt Nam giúp đánh đuổi quân Tây mà quên cái họa cõng rắn cắn gà nhà, v.v.; song, tất cả họ đều được tôn vinh do họ là những nhà nho, tức những người có học thức. Còn trong chiến tranh chống Mỹ, số trí thức gia nhập mặt Trận Giải Phóng MiềnNamkhông đông. Khi đã giải phóng thì số “trí thức” còn lại thì lần lượt rời Việt Nam hợp pháp hoặc bất hợp pháp, dù đã nhận được sự trân trọng của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam. Điển hình ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Hồ Chí Minh, số “trí thức” chế độ Sài Gòn có học vị Mỹ được trân trọng giao nắm quyền lãnh đạo Khoa Ngoại Ngữ và Ban Anh Văn thì lại có những hành vi bất xứng như “đàn áp” những “đồng nghiệp” nào do chế độ mới đào tạo nên; áp dụng những phương pháp chỉ làm nghèo đi khả năng học tập của sinh viên, chẳng hạn cho ra quy định các giảng viên không được nói tiếng Anh với sinh viên bên ngoài giảng đường (tất nhiên đây không là “chủ trương” của cộng sản vì chính cộng sản ra sức tổ chức các khoa ngoại ngữ và cung cấp đầy đủ báo chí và sách vở tiếng Anh), không cho giảng viên sửa bài hoặc sửa tiểu luận hay luận văn tốt nghiệp của sinh viên với lập luận rằng việc sửa sai giết chết nỗ lực tự học của sinh viên; và chủ động cấm giảng viên không được sử dụng sách vở tài liệu của Mỹ dù lúc các giảng viên đồng nghiệp trẻ này khi ở đại học của “Cộng sản” đã được học tất tần tật về các tác phẩm của William Shakespeare, Charles Dickens, Edgar Poe, John Steinbeck, Abraham Lincoln, v.v. và v.v. Việc làm của các “trí thức” đó khó thể không bị “hiểu nhầm” là đang ra sức chống phá chế độ, ngăn cản việc hình thành lớp trí thức trẻ giỏi giang giúp nhà nước cộng sản.

Với thân phận người ViệtNam, việc được học để trở thành nhà trí thức không phải là điều giản đơn. Vào thời Pháp thuộc, những “nhân tài” nào được cho sang Pháp du học mà lại có khuynh hướng không chịu cúc cung tận tụy về nước làm tay sai cho Pháp thì bị Pháp dùng thuốc độc khiến thành kẻ tâm thần, về nước không còn ra hình hài một con người như trước lúc xuất dương. Trong thời của Việt Nam Cộng Hòa thì mọi người du học đều được điểm hữu nghị để trở về nước dễ dàng ngồi vào ghế lãnh đạo các trường đại học, các viện, các cơ quan (đây là lý do các “trí thức” chế độ cũ là giảng viên ở Cao Đẳng Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh có trình độ tiếng Anh rất thảm hại), còn sinh viên nào thích tuyên bố chống chiến tranh thì bị trừng trị, như trường hợp Nguyễn Thái Bình khi tốt nghiệp về nước, sau khi đáp xuống Phi trường Tân Sơn Nhất đã bị một hành khách Mỹ rút súng hạ sát ngay trên máy bay, với lý do đưa ra rằng Nguyễn Thái Bình là không tặc định cướp máy bay ra Hà Nội, dù máy bay đã hạ cánh, dù không có việc dùng vũ khí cướp máy bay, dù không ai được mang súng lên máy bay, và dù hạ sát bằng nhiều phát súng không phải là cách làm của một “công dân Mỹ” tình cờ “phát hiện không tặc” khi tên không tặc ấy không cầm vũ khí gì cả. Vị “công dân Mỹ” sau đó lộ nguyên hình là nhân viên CIA Mỹ vào thời điểm các hãng hàng không chưa có áp dụng việc bố trí nhân viên an ninh “nhà nước”, chưa cho phép mang vũ khi lên máy bay và nổ súng trên máy bay.

Như vậy, khi những trí thức muốn tự do theo cộng sản, họ bị sát hại, khiến cộng sản khó thể có nhiều nhà trí thức giúp sức khuông phò xã tắc.

Như vậy, khi cộng sản ra sức chiêu hiền đãi sĩ trân trọng trí thức chưa muốn theo cộng sản, họ chỉ nhận được hoặc sự phá hoại, hoặc sự giúp sức của chỉ vài bậc anh tài, trong đó có giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, Thống Đốc Ngân Hàng Việt Nam Cộng Hòa, Phó Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa, Đại Biểu Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Ủy Viên Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Cố vấn Kinh tế cho Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh và Võ Văn Kiệt.

Do Pháp dùng chính sách ngu dân, số lượng người được đi học không bao giờ là số đông. Và cũng do vậy, những nhà cách mạng cộng sản đương nhiên khó thể nằm trong số người không đông ấy. Họ cần sự giúp sức của những nhà trí thức, và họ nhận thức được tầm quan trọng của những nhà trí thức trong đại cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, do chính họ lãnh đạo.

Mãi lải nhải về cái gọi là sự đối chọi với tầng lớp trí thức chỉ là một cố gắng trong vô vọng nhằm làm nhục những người cộng sản Việt Nam với dụng ý ngây ngô nhưng ác hiểm rằng nếu anh ghét trí thức, ắt anh là thất học, suy ra cộng sản là quân thất học, và suy ra tiếp theo là cộng sản chỉ làm đất nước nghèo đi vì thất học chả biết gì về làm kinh tế cả.

Cái ngụ ý thâm hiểm tàn độc bất nhân và bất lương bất hảo là ở chỗ đấy.

C) Người Dân Và Công Dân

1- Đại Ngu Chống Hồ Của Tiền Nhân

Ôn cố, tri tân. Nói về sử, ắt phải nói cho đúng, và ắt phải theo bài bản rằng học ôn điều cũ để chiêm nghiệm xem nên làm gì với tình hình mới đang diễn ra trong cuộc sống của đất nước và dân tộc.

Tiền nhân Việt Nam đã có lần “đại ngu” khi chống Nhà Hồ, lúc Hồ Quý Ly triệt hạ Nhà Trần để lên ngôi vua năm 1400 lập nên nước Đại Ngu. Những chủ trương chính sách “lạ thường” dồn dập của Nhà Hồ như phát hành tiền giấy, cấm dùng tiền đồng, tăng thuế tô, áp dụng hạn điền và hạn nô làm động đến lợi ích của giới địa chủ và quý tộc, nhún nhường hết mức với nước Tàu thậm chí đã phải cắt 59 thôn ở Lạng Sơn để mong tránh cho đất nước lâm cảnh chiến tranh, thay đổi chế độ thi cử nhân, không tôn sùng đạo Phật mà quay sang xem trọng Nho giáo, v.v., khiến nhiều người dân không ủng hộ Nhà Hồ, cộng thêm sự kêu gọi lật đổ chế độ của nhiều thế lực đã khuyến khích Nhà Minh xua quân sang đánh năm 1406 làm Nhà Hồ sụp đổ, toàn bộ gia quyến Hồ Quý Ly bị bắt về Tàu, còn nước Việt lại mang gông cùm xiềng xích bị Tàu đô hộ tiếp sau 500 năm giành được quyền tự chủ.

Chống Hồ rõ ràng đã là cái sai tệ hại và ngu xuẩn của tiền nhân Việt vậy.

2- Đại Ngu Chống Cộng Của Cận Nhân

Tất nhiên ở đây nói về nước Việt nên không nhắc đến cái đại ngu thứ nhất của Tổng Thống Hoa Kỳ năm 1946 khi từ chối sự mở lòng của Chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh muốn thiết lập bang giao với Mỹ và kêu gọi sự giúp đỡ của Mỹ, hay cái đại ngu thứ hai của Tổng Thống Hoa Kỳ khi kéo dài sự hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến cuộc rút quân trong ê chề của chính quân đội Hoa Kỳ cùng sự tháo chạy tán loạn và nhục nhã của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cùng các cố vấn quân sự Hoa Kỳ năm 1975, hoặc cái đại ngu thứ ba cũng của Tổng Thống Hoa Kỳ khi tập trung cấm vận hòng làm suy yếu Việt Nam đồng thời viện trợ làm Campuchia nhanh chóng mạnh lên để rồi chính Campuchia trở mặt làm bẽ mặt chính Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2012 tại hội nghị thượng đỉnh khối ASEAN.

Vậy thì, cái đại ngu của cận nhân, tức những người gần đây đang hô hào chống phá ViệtNamlà như thế nào?

Dù rằng mỗi dân tộc đều có những yếu điểm riêng, chẳng hạn dân Scotland mang tiếng hà tiện cực kỳ, dân Mỹ mang tiếng điên điên hết cỡ, v.v., thì không thể không nói đến một tính xấu xa của một bộ phậnrất lớn người gốc Việt, đó là ăn không được thì phá cho hư. Bọn người Mỹ gốc Việt có lòng căm thù bịnh hoạn đối với cộng sản mà không trên cơ sở của chân lý và/hay của nghiên cứu học thuyết hàn lâm như đã nói ở phần B.1 ở trên, đã luôn sẵn sàng bán đứng Việt Nam cho Trung Quốc qua việc tích cực điên cuồng chống phá Việt Nam hòng làm Việt Nam suy yếu, mở đường cho Trung Quốc tấn công tiêu diệt cộng sản Việt Nam. Những bài viết nhăng viết cuội toàn những điều tưởng tượng không bằng không chứng về lãnh đạo này, lãnh đạo kia, về phát hiện này, phát hiện nọ, cư như thể Cộng sản Việt Nam không thể có bất kỳ cái gì hay ho, cái gì đẹp đẽ, cái gì cao trọng. Những kẻ cởi truồng vất bỏ quân phục quân trang quân dụng khóc lóc khiếp sợ kinh hoàng chạy về phương Nam từ tất cả các chiến trường ở tất cả các quân khu, nay hèn hạ ẩn dưới những tên giả và sử dụng phương tiện blog “chùa” để viết bậy bạ xảo trá về lãnh đạo Việt Nam, với hy vọng mong manh rằng nếu vũ khí hiện đại của Mỹ đã không thắng được Cộng sản Việt Nam thì vũ khí blog bậy bạ thối hôi bôi bẩn lãnh đạo Việt Nam sẽ phát huy tác dụng để Trung Quốc trả thù thay họ, tiêu diệt Việt Nam, làm Hồ Chí Minh phải như Hồ Quý Ly.

Cái đại ngu của bọn cận nhân này là ở chỗ ViệtNamkhông bao giờ đánh giá cao kiểu tấn công hèn hạ qua blog nhảm nhí của bọn bại trận.

Cái đại ngu của bọn cận nhân này còn là ở chỗ chúng không thể kiếm ra bất kỳ ai đáng mặt anh hào chịu cộng tác với chúng, nên chúng bị hố khi vội vàng tung hô Cù Huy Hà Vũ để rồi mới vỡ nhẽ ra rằng ngay tại Việt Nam hắn ta còn bị người dân có hiểu biết gọi là “thằng điên” do hắn khiếu nại việc Chính phủ không cho hắn ứng cử vào chức Bộ Trường Văn Hóa Thông Tin, vì lẽ nào là “luật sư” hắn không hiểu rằng ở các nước không có vụ “ứng cử” như thế, còn ở Việt Nam có luật hẳn hoi là các Bộ Trưởng do Thủ Tướng đệ trình danh sách để Quốc Hội chuẩn y; hoặc như vội vàng tung hô Lê Công Định để rồi đắng cay lắng nghe lời thú tội “hết sức chân thành và đầy hối lỗi” của y, v.v. và v.v. Chơi bóng đá mà đòi cho đá bóng vòng ra sau lưng cầu môn với lý do bóng tennis luôn có giá trị ghi bàn khi đã qua bên kia lưới! Luật sư Việt Nam mà đòi theo luật này luật nọ của ngoại bang thì chỉ là bọn ngu xuẩn, điên loạn mà thôi, và chỉ có bọn chống cộng mới luôn muốn hốt mấy thứ rác đó để đổ lên đầu cộng sản Việt Nam. ViệtNamkhông bao giờ đánh giá cao kiểu tấn công hèn hạ qua blog nhảm nhí của bọn bại trận.

3- Hãy Tỉnh Giấc! Quân Giặc Đã Ở Ngay Trước Thềm!

Giặc Tàu cực kỳ thâm hiểm với các quyển binh thư của tổ tiên mà chúng tự hào. Gây hấn ở Biển Đông có thể là chiêu “dương Đông, kích Tây”, hoặc “điệu hổ ly sơn”. Người dân Việt cần lưu tâm đến sự thật là ở Lào đang có những “thành phố” Tàu mọc lên sát biên giới ViệtNammà Tàu thuê trong hàng trăm năm. Trong tình hình nước Lào có thưa thớt dân cư, thì việc Tàu sẽ trao lại các “thành phố” ấy cho Lào khi đến hạn chỉ mang ý nghĩa tượng trưng nhất thời, nếu không muốn nói sự sinh sôi nảy nở của dân Tàu tại đấy sẽ đồng nghĩa với việc biên giới nước Tàu sẽ tiếp giáp Việt Nam từ phía Tây sau khi đồng hóa và xóa tên Lào khỏi bản đồ thế giới chỉ sau vỏn vẹn vài năm mà ai cũng có thể đếm được trên duy chỉ một bàn tay đủ ngón.

Kéo dài thêm vùng biên giới ấy xuống tận biển Phú Quốc, Tàu hiện đã có 1.000.000 người nhập quốc tịch Campuchia, và đang tung tiền mua đất sát biên giới Việt Nam, trên danh nghĩa lập các đồn điền cao su. Tại một xứ sở có 5 triệu dân, đoàn quân 1 triệu người Tàu này đang hoàn tất việc kéo dài biên giới Tàu xuống tận miền cực nam của bán đảo Đông Dương.

Hỡi các bạn, hãy cảnh giác với khả năng giặc Tàu xâm lược tấn công ta từ phương Tây, tức là từ Lào và Campuchia. Việc Campuchia phá hỏng hội nghị ASEAN bằng cách từ chối việc ký thông cáo chung về Biển Đông đã phát ra tín hiệu rất rõ ràng là ASEAN đang tồn tại một con ngựa thành Troie. Nguy hiểm nhất là khi con ngựa ấy ở sát ViệtNamvà đang ra sức kích động hận thù dân tộc qua việc chính thức treo tại các điểm tham quan du lịch chính thức những tấm bản đồ vẽ ViệtNamchỉ kéo dài đến vùng Quảng mà thôi.

Tập trung đông người để thể hiện “lòng yêu nước” trước việc gây hấn của Tàu ở Biển Đông tất nhiên không bao giờ là điều đúng để làm vì đã bỏ quên phía Tây mà giặc có thể tràn qua nhanh chóng so với các tấn công từ các hạm đội của kẻ thù ở phương Đông, cũng như hiểm họa từ phương Bắc do giặc Tàu tất nhiên biết rút kinh nghiệm từ thất bại chua cay kỳ tổng tiến công tràn ngập toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta sau năm 1975. Trận chiến trên biển luôn là trận dễ dàng vì quân thù bị bó rọ bên trong các chiến hạm, và sau khi chiến hạm bắn hết đạn và máy bay ném hết bom trở về hàng không mẫu hạm, thì dù trên đất liền chịu tàn phá từ số lượng đạn bom, ta vẫn có thể ung dung tấn công nhấn chìm các chiến hạm hết đạn và các hàng không mẫu hạm hết bom của giặc. Tàu cũng biết thế, nên sự giương oai diệu võ của giặc Tàu khét tiếng thâm hiểm này tại Biển Đông dứt khoát không phải là mặt trận chính mà chỉ để ViệtNammất cảnh giác do chỉ tập trung về Biển Đông. Chỉ có xua quân tràn qua biên giới phía Bắc cùng lúc với từ phía Tây (việc mà Tàu đã nhận ra họ ngu đã không áp dụng lúc tấn công Việt Nam sau 1975 nên Việt Nam ra tay đánh bại Tàu, và lúc Khmer Đỏ tấn công Việt Nam từ phía Tây, Việt Nam đã có thời gian đánh tan, đánh bại, đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Campuchia từ tay Khmer Đỏ để trao lại cho chính phủ cách mạng Campuchia), chứ Tàu sẽ không gây chiến tranh thực thụ ở Biển Đông! Mà nếu Tàu nổ súng ở Biển Đông, đó là hành động theo sách mà các đoàn chiến đấu cơ Skyraider của Việt Nam Cộng Hòa rải bom napalm tiêu diệt làng Bình Khánh của Bến Tre để thực hiện thành công việc thả biệt kích đánh bất ngờ làng khác, nơi có đoàn quân Việt Cộng thực sự trú đóng. Hãy để các chiến hạm Mỹ, Ấn Độ, Úc, Philippines, và Nhật Bản ra tay với hải quân Trung Quốc. Hãy để các chiến hạm ViệtNamhiện diện như khẳng định chủ quyền biển đảo quốc gia. Và hãy tập trung cảnh giác cao độ đối với các mối đe dọa từ phía Tây, vì các chiến hạm của giặc Tàu chỉ có thể bắn phá vài tỉnh ven biển, trong khi lục quân và không quân từ nội địa có thể nhanh chóng tàn phá thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nhằm tiêu diệt nhanh bộ não chỉ huy của cả nước, phá hủy cơ sở lãnh đạo của dân tộc Việt Nam. Đừng để bị lừa bịp quá dễ dàng do ngây thơ trước các hù dọa của giặc Tàu và trước các kích động của bọn chống cộng ở hải ngoại với chiêu bài “bày tỏ lòng yêu nước” hay “đảng cộng sản Việt Nam bán nước”. Hãy nhớ cái đặc tính dân tộc đáng nguyền rủa của người gốc Việt: “ăn không được thì phá cho hư”!

Là người dân, bạn có những quyền lợi để đòi hỏi được hưởng.

Là công dân, bạn có những nghĩa vụ phải thực thi.

Tuyệt đối ủng hộ chính phủ, phá tan các tuyên truyền bẩn thỉu từ bọn tay sai Trung Quốc như Huy Đức và những tên tương cận, là những nghĩa vụ mà người công dân phải thực hiện để bảo vệ đất nước trước giặc Tàu.

D) Kết Luận: Công Dân Và Đẳng Cấp Công Dân

Đất nước Mỹ hùng cường nhờ họ có nhiều công dân ở đẳng cấp cao

Một đất nước hùng cường luôn nhờ vào viêc họ có nhiều công dân đẳng cấp cao hay không.

Đẳng cấp cao không có nghĩa là ở học vị tiến sĩ, vì trên toàn thế giới có vô số bọn tiến sĩ loại vất đi giá không đáng một xu (they are not worth a tinker’s dam) hoặc một xu mua được cả tá (they are a dime a dozen).

Đẳng cấp cao là ở chỗ có khả năng nhìn vấn đề trên quy mô toàn cục, biết nhận ra ngay đâu là cái đáng đọc, đáng nghe, đáng xem, đáng nhớ, đáng tiếp thu để thực hành thực hiện thực thi. “Tác phẩm” của Huy Đức không bao giờ là cái cái đáng đọc, đáng nghe, đáng xem, đáng nhớ, đáng tiếp thu để thực hành thực hiện thực thi; do đó hãy đọc để phát hiện cái sai quấy của chính y, cái ấu trỉ của chính y, cái thâm ý của chính y, cái trình độ đá cá lăn dưa đầu đường xó chợ của chính y, vì rằng có khi phải nhìn phân để còn báo động cho người khác khỏi phải dẫm vào.

Một tên tử tù trong thời gian chờ thi hành án do hiếp dâm trẻ nít, nếu có một họa phẩm xuất sắc, y có thể được ngợi khen, bán được bức tranh với giá cao, nhưng điều đó hoàn toàn không tự động mang ý nghĩa rằng y là kẻ tốt đẹp, vô tội và không phải bị pháp luật trừng trị. Huy Đức có thể viết một hay hai bài báo nào đó xuất sắc lúc ở Việt Nam, điều đó hoàn toàn không có nghĩa y đã tiếp cận tất tần tật mọi vị lãnh đạo của Việt Nam qua các thời kỳ, đã như con ruồi Tôn Hành Giả để bay vào nghe lén được các cuộc trò chuyện của các lãnh đạo ấy, hay có danh dự cá nhân để được tôn trọng bởi người tôn trọng đạo đức, có đạo hạnh, và tôn thờ đạo lý.

Việc một tên Tiến sĩ gốc Việt viết lời bình nhưng thật ra toàn là tóm tắt “tác phẩm” của Huy Đức, còn lời bình thì chỉ ghi rằng đó là tác phẩm chứa chất những sự thật rất đáng để tham khảo và hiểu hơn sự thật về cộng sản, thì sự công nhận nhanh chóng của y rằng đó là sự thật mà không trên nguyên tắc nghiêm ngặt của hàn lâm thì e tên tiến sĩ ấy đã bỏ tiền ra mua bằng cấp tiến sĩ chứ y chưa hề biết đến việc viết luận văn tốt nghiệp đại học, nói chi đến luận án tiến sĩ.

Tóm lại một cách hình tượng hơn: khi dân tộc bị thực dân đẩy xuống đáy vực sâu, có những người dùng đủ mọi thứ vật liệu sẵn có để làm các bậc thang, từ đá, sỏi, đất sét, đến cây gỗ quý, cây gỗ thường, dây đai, cỏ bện, quần áo cũ, v.v., thậm chí kể cả chính thân thể của họ để làm thành phương tiện để người dân từ đáy vực sâu có thể dẫm đạp lên các bậc ấy mà ngoi dần lên miệng vực. Tất nhiên còn phải kể đến những bọn phá hoại từ những bụi rậm trên triền núi đâm vào hông những ai tạo nên chiếc thang ấy. Những người lên đến miệng vực bắt đầu hình thành các nhóm tư cách:

- ai đứng ngắm trời cao đẹp rồi chạy về phía ánh sáng huy hoàng ở đàng xa thì đó là kẻ vất đi, vô tâm, vô ơn, vô giáo dục

- ai đứng ngắm trời cao đẹp rồi nhìn xuống thốt lời chê bai chiếc cầu thang với bao tính từ như: kỳ dị, quái gở, tức cười, ngô nghê, rẻ tiền, thì đó là kẻ ăn cháo đái bát, bất lương, vô hạnh

- ai đứng ngắm trời cao đẹp rồi nhìn xuống vừa thốt lời chê bai chiếc cầu thang với bao tính từ như: kỳ dị, quái gở, tức cười, ngô nghê, rẻ tiền; vừa ném đá lên đầu những người làm thang bên dưới thì đó là kẻ thua cả loài súc vật

- ai đứng nhìn trời cao đẹp rồi nhìn xuống thốt lời cảm ơn chiếc cầu thang rồi dùng đá ném vào bọn phá hoại đang núp trong các bụi cây hai bên “cầu thang”, thì đó là người công dân lương thiện

- còn ai đứng nhìn trời cao đẹp rồi ngồi xuống bên cạnh miệng vực sâu, hoặc bện các dây chão chắc chắn thả xuống kéo “cầu thang người”, hoặc thả chuyền xuống những đá tảng cùng xi măng để “cầu thang người” xây dựng những bậc thang vững chắc hơn để thoát lên miệng vực an toàn, tất nhiên không thể thiếu những lời hét lên nhắc nhở tránh né những hiểm nguy từ bọn phá hoại tấn công từ hai bên, v.v., thì đó là người công dân đẳng cấp cao.

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, lại thốt lời chê bai chế độ, chống phá chính phủ, đó là hành vi của kẻ vất đi, vô tâm, vô giáo dục, bất lương, vô hạnh, thua cả loài súc vật.

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, luôn biết ơn những ai đã giữ được thanh bình cho đất nước, lập nên những kỳ tích để đất nước được vinh danh trên các diễn đàn chính thức chính quy chính đạo của thế giới, đó là hành vi của những công dân có đạo đức, có giáo dục.

Hưởng thụ cuộc sống trong cảnh hòa bình trong xã hội đầy tiện nghi vật chất, ra sức học tập tích cực phục vụ đất nước với tư duy trưởng thành, trách nhiệm bậc trưởng thượng, và nhận thức thông minh thông thái đến sự an nguy của đất nước trước các hiểm họa, đó là tư thế của người công dân đẳng cấp cao, tiền đề tạo ra cường quốc.

Các bạn hãy là công dân đẳng cấp cao để đừng bị bọn vô lại xem như những con thỏ dễ bị tóm hai tai hay con cừu con chiên mà cái sự được chăn dắt chẳng qua chỉ để phục vụ việc cạo lông và lấy thịt.

Tham khảo vài bài viết của Hoàng Hữu Phước có liên quan (theo 6 chủ đề):

 

A- Chống Cộng:

1) Những Lập Luận Kỳ Quái Của Trần Minh Hoàng. 07-11-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18865/nhung-lap-luan-ky-quai-cua-nguoi-tu-xung-la-ts-tran-minh-hoang

2) Tâm Tình Một Phụ Nữ Việt Kiều. 06-3-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19025/tam-tinh-mot-phu-nu-viet-kieu

 

B- Chống Chính Phủ:

1) Tôi Và Lê Công Định. 05-10-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18839/toi-va-le-cong-dinh

2) Tôi Và Cu Huy Ha Vu. 19-12-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18920/toi-va-cu-huy-ha-vu

3) Tôi Trả Lời Phỏng Vấn Của Đài Châu Á Tự Do RFA Về Cù Huy Hà Vũ Và Vấn Đề Đa Đảng Ngày 20-4-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19275/toi-tra-loi-phong-van-cua-dai-chau-a-tu-do-rfa-ve-cu-huy-ha-vu-va-de-da-dang-ngay-2042011

 

C- Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa:

1) Hoàng Hữu Phước Với Chuyện Tình Tự Kể. 29-12-2010. http://www.emotino.com/bai-viet/18930/noi-buon-chien-tranh-hoang-huu-phuoc-voi-chuyen-tinh-tu-ke

2) Tôi Và Các Quân Nhân Việt NamCộng Hòa. 29-4-2012. http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=52

 

D- Quân Đội Mỹ:

Hỡi Quân Đội Mỹ: Đừng Để Các Chiến Binh Mỹ Mất DạyVề Nhân Quyền. 27-4-2012 http://hoanghuuphuocvietnam.blog.com/?p=29

 

E- Cộng Sản:

1) Đa Đảng. 13-02-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/18997/da-dang

2) Tôi Và Hai Anh Bộ Đội. 20-3-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19505/toi-va-hai-anh-bo-doi

3) Thư Của Ngân Hàng Nhà Nước Việt NamGởi Công Dân Hoàng Hữu Phước Ngày 14-4-1993. http://www.emotino.com/bai-viet/17012/letter-from-the-state-bank-of-vietnam-to-hoang-huu-phuoc

 

F- Hoàng Hữu Phước:

1) Tôi Và Thầy Nguyễn Quang Tô. 25-11-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19405/toi-va-thay-nguyen-

quang-to

2) Tôi Và Cô Trương Tuyết Anh. 22-3-2012. http://www.emotino.com/bai-viet/19542/toi-va-co-truong-tuyet-anh